Category Archives: Y Học Cổ Truyền

Tam thất


Tam thất là rễ củ của cây Panax pseudo – ginseng Wall, họ Nhân sâm

Tính năng theo Ðông y

– Vị ngọt hơi đắng tính ôn, vào hai kinh Can Vị

– Công dụng : chỉ huyết, hành huyết, tiêu sưng, giảm đau

– Chủ trị : uống trong chữa thổ huyết, chảy máu cam, băng huyết, đại tiện ra huyết. Dùng ngoài trị ngã tổn thương, cầm máu các vết thương

Tính năng theo Tây y

1. Thành phần : có saponin, tương tự như saponin của Nhân sâm; hoạt chất cầm máu trong tam thất là decichine. Ngoài ra còn có alcaloit, protid, saccharide, lipit, tinh dầu, các axitamin tự do, caroten, canxi.

2. Tác dụng dược lý :

– Có tác dụng cầm máu

– Tổng saponin có tác dụng giảm đau rõ rệt

– Trên hệ tim mạch với chó gây mê dịch tiêm tam thất có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, tăng lưu lượng máu động mạch vành, giảm lực cản động mạch vành, giảm thấp lượng tiêu hao oxy của cơ tim.

làm hạ cholesterol và triglycerit, thúc đẩy quá trình tổng hợp protein của gan.

– Độc tính của thuốc : tổng saponin tiêm dưới da chuột nhắt LD50 = 1246 mg/kg ; tiêm tĩnh mạch chuột nhắt LD50 = 628 mg/kg.

3. Ứng dụng lâm sàng

– Trị các chứng xuất huyết : chảy máu dạ dày, ho ra máu, tiểu ra máu, xuất huyết tiền phòng.

– Trị chấn thương sọ não

– Trị cholesterol máu cao, viêm gan mạn.
– Dùng Tam thất quan tâmninh trong 28 bệnh viện của 7 tỉnh trị các bệnh mạch vành với liều 0,6 – 1,2 g/ngày ; 778ca đau thắt ngực có kết quả 70,2% , kết quả rõ rệt 20,1% .625 ca kiểm tra ECG có kết quả 34,8%, kết quả rõ 14,2% . ( Hội nghị toàn quốc toàn quốc về kiểm định bài Tam thất quan tâm ninh , báo Trung thảo dược 1980 ).

– Phức phương tam thất quan tâm phiến :Tam thất 0,8g, diên hồ sách 4g, hồng hoa, chế thủ ô, kê huyết đằng 12g, một dược 2g; tất cả chia 3 lần trong ngày uống trong 30 -60 ngày, kết quả 73,1% không dùng hoặc giảm liều nitroglycerin, có kết quả ECG 26,7%.( Tổng y viện quân giải phóng TQ , Tạp chí y dược học 1973)


Liều dùng : 4 – 5 g/ngày

Advertisements

Những bài thuốc từ vừng

Hạt vừng (còn gọi là mè) có 2 loại: vừng vàng và vừng đen, có tên khoa học là Sésamum indicum D.C. Theo Đông y, vừng có tác dụng ích gan (tăng cường chức năng gan), bổ thận, dưỡng huyết, nâng cao thể lực, nuôi dưỡng não tủy, bền gân cốt, minh mục (làm sáng mắt), kéo dài tuổi thọ, tăng tiết sữa, làm vết thương mau lành, chống táo kết, trị bỏng, chống loãng xương, đặc biệt là làm quên cảm giác đói, rất có lợi đối với người thừa cân (để điều trị béo phì).

Một số bài thuốc đơn giản từ hạt vừng:

– Làm thuốc bổ dưỡng: dùng dầu vừng từ 10 – 25 ml/ngày, dùng liên tục khoảng 30 – 40 ngày; hoặc dùng viên vừng (thường dùng loại vừng đen): sao chín, giã nhỏ, dùng nước cơm nhào đều, viên thành từng viên nhỏ (bằng hạt đậu xanh), sấy khô, ngày dùng từ 15 – 30 gr (hoặc tán thành bột và cũng dùng như trên).

– Lợi sữa: Phụ nữ sau sinh nếu ít sữa dùng vừng (vừng vàng hay đen đều được) sao cho chín, hoặc giã nát (thêm ít muối để dễ ăn), hoặc để nguyên cả hạt, mỗi ngày ăn khoảng 50 gr (nếu để nguyên hạt cần nhai thật nhuyễn).

– Bị bỏng hoặc vết thương lâu lành: bôi dầu vừng lên vết thương (sau khi đã làm sạch vết thương), sau 5 – 7 ngày vết thương sẽ lên da non và mau lành, có thể tránh được sẹo lồi.

– Trị cao huyết áp, bán thân bất toại (di chứng của tai biến mạch máu não), xơ vữa mạch máu…: Vừng đen đã sao chín, dùng cùng với hà thủ ô, ngưu tất, liều lượng bằng nhau, số lượng không hạn chế, tán mịn, dùng nước cơm trộn đều viên thành từng viên nhỏ, ngày dùng 30 – 40 gr (chia làm 3 lần: sáng, trưa, chiều), chiêu với nước ấm. Trị táo bón: dầu vừng 40 – 60 ml/ngày (uống 1 lần) hoặc ăn vừng 50 gr/ngày.

Phong trào ăn gạo lứt muối mè lâu nay cũng xuất phát từ những tác dụng của gạo lứt và vừng như đã trình bày, riêng về tác dụng của gạo lứt, chúng tôi sẽ đề cập trong một dịp khác.

Đông y giải rượu thế nào?

Nếu dùng rượu biết cách và có chừng mực, thì sẽ giúp máu huyết lưu thông, ăn uống ngon miệng… Tuy nhiên, nếu lạm dụng sẽ gây hại đến sức khỏe.

Các bài thuốc từ cây lá

Vào những ngày lễ, Tết, những dịp vui vẻ, khi gia đình và bạn bè tụ họp, uống một chút rượu không những làm tăng thêm phần hứng khởi mà còn giúp cho khí huyết được lưu thông dễ dàng, tỳ vị trở nên ấm áp, ăn uống cảm giác ngon miệng hơn lại phòng chống được chứng bệnh cảm mạo do phong hàn gây ra. Tuy nhiên, nếu ham vui quá chén để lâm vào tình trạng say bí tỉ thì cuộc vui chẳng những sớm tàn mà sức khỏe cũng bị ảnh hưởng, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng ngộ độc rượu rất nguy hiểm.

Bài viết này nói về những kinh nghiệm dân gian và các biện pháp đơn giản của y học cổ truyền có hiệu quả trong việc giải rượu.

Trước hết, cần cho người say uống một lượng nước vừa đủ, ít nhất cũng bằng lượng rượu uống vào, nhằm pha loãng nồng độ rượu trong cơ thể và giúp cho quá trình đào thải rượu được nhanh chóng và thuận lợi. Sau đó, tùy theo điều kiện cụ thể mà có thể dùng một trong những bài thuốc dưới đây:

Dùng 1 quả chanh tươi vắt lấy nước để uống, hoặc thái mỏng chanh để ăn luôn cả quả càng tốt; dùng lá dong (loại lá dùng để gói bánh chưng) 100-200 gr rửa thật sạch, giã nát vắt lấy nước cốt để uống; lấy vỏ quýt phơi khô (càng để lâu năm càng tốt) độ 30 gr sao thơm tán vụn, 2 quả mơ chua bỏ hột thái vụn.

Đem cả hai sắc nhỏ lửa với 360 ml nước, sau 30 phút lọc bỏ bã lấy nước uống. Nếu có thêm một chút nước gừng tươi hoặc trà thì càng tốt; dùng 60 gr vỏ cam rửa sạch, sấy khô, tán bột, cho uống 6 gr với nước ấm, nếu chưa công hiệu thì uống thêm một vài lần nữa; dùng một nắm trà diệp, 60 gr đậu xanh đập vụn, 10 gr lá long não.

Tất cả đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, chia uống vài lần; dùng loại trà búp 5 gr, quất khô (có thể dùng mứt quất hoặc quất tươi cũng được) 16 gr thái vụn. Hai thứ đem hãm với nước sôi, uống đặc; lấy 9 gr trà búp, 60 gr cà rốt tươi, 15 gr vỏ bí xanh đem sắc (nấu) nước để dùng; dùng quả cau tươi bỏ vỏ xanh và hạt 50 gr, cam thảo 12 gr (nửa để sống, nửa sao muối).

Tất cả đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chia uống vài lần; dùng hoa sắn dây (nếu không có thì dùng củ sắn dây thay thế) 10 gr đem sắc uống. Cũng có thể hãm cùng trà búp 5 gr, đậu xanh 10 gr với nước sôi, chia uống vài lần; lấy 50 gr vỏ quả chanh, 50 gr vỏ quả quýt, 25 gr hoa sắn dây, 25 gr hoa đậu xanh, 10 gr nhân sâm, 10 gr nhục đậu khấu, 30 gr muối ăn. Các vị sấy khô, nghiền thành bột, đựng trong bình kín để dành dùng dần. Khi say rượu, lấy 5-7 gr pha nước uống, mỗi ngày 3 lần.

Và biện pháp bấm huyệt

Trước hết, tiến hành day bấm huyệt yêu nhãn từ 3-5 phút. Vị trí huyệt yêu nhãn: giơ cao tay và nghiêng mình một chút, chỗ lõm hai bên thắt lưng (tương ứng với đốt sống thắt lưng 4) hiện rõ, huyệt nằm ở giữa đáy lõm từ mỏm gai đốt sống thắt lưng 4 đo ngang ra 3,8 tấc. Tiếp theo, tiến hành day bấm huyệt thái xung từ 3-5 phút.

Vị trí huyệt thái xung: ép ngón chân cái vào ngón thứ 2, huyệt nằm ở mu bàn chân, đo từ đầu kẽ hai ngón chân lên 2 tấc. Cũng có thể xác định bằng cách lấy huyệt ở điểm giữa đường nối đầu ngón chân cái với nếp gấp ngang cổ chân. Cuối cùng, tiến hành xoa xát toàn bộ mu bàn chân. Nếu người say có thể đứng được thì dùng gót chân này giẫm mạnh và xoa mu bàn chân kia và ngược lại từ 5 – 6 phút.

Các biện pháp giải rượu trên đơn giản, dễ kiếm, dễ làm. Nhưng lưu ý, với những trường hợp uống quá nhiều rượu bị ngộ độc rượu cần phải đến cơ sở y tế để khám và cấp cứu kịp thời.

Hoàng Khánh Toàn

Kinh nghiệm châm cứu điều trị liệt mặt

Liệt dây thần kinh số VII ngoại vi, gọi tắt là liệt mặt ngoại vi (facial paralysis), là một bệnh rất thường gặp Trong Đông y, cǎn bệnh này thuộc phạm vi các chứng “khẩu nhãn oa tà”, “khẩu tịch”, “điếu tuyến phong”… với đặc điểm bệnh lý là mạch lạc không hư, phong hàn phong nhiệt xâm nhập, khí huyết trở trệ, cân mạch thất dưỡng… biểu hiện bằng các dấu hiệu miệng méo, mắt nhắm không kín, nếp nhǎn tự nhiên mờ hoặc mất, không thổi sáo, thổi lửa được ǎn vãi, chảy nước mắt, giảm vị giác…

Các biện pháp điều trị chứng bệnh này của y học cổ truyền cũng hết sức phong phú và thường đem lại kết quả khả quan, trong đó không thể không đề cập đến việc sử dụng các thủ thuật châm cứu. Tuy nhiên, không hiếm trường hợp mặc dù xoay sở đủ cách nhưng tình trạng liệt chỉ đỡ rất ít hoặc không đỡ, thậm chí còn để lại các di chứng như co giật các cơ ở mặt, đau tê kéo dài… Bởi thế, cho đến nay các nhà châm cứu vẫn phải tiếp tục dày công nghiên cứu để tìm ra các công thức huyệt vị và kỹ thuật châm cứu hữu hiệu nhất cho việc điều trị liệt mặt.

ở Trung Quốc, trong vài chục nǎm gần đây, chỉ tính riêng việc sử dụng các kỹ thuật châm và cứu để giải quyết cǎn bệnh này đã có đến hơn 100 công trình nghiên cứu khác nhau. Dưới đây xin được giới thiệu một số kinh nghiệm đặc sắc của các nhà châm cứu nước bạn, chủ yếu là các kỹ thuật thể châm, để độc giả có thể tham khảo và vận dụng trong nghiên cứu và điều trị.

1 . Viên Thanh Thuận (1 987) đã thực hiện phương pháp lấy huyệt kết hợp cục bộ và toàn thân. Các huyệt cục bộ gồm : giáp xa, địa phương (hai bên), cự khuyết, thừa khấp, ngư yêu, tứ bạch (bên bệnh). Các huyệt toàn thân gồm thái xung, hợp cốc. Thủ pháp châm : huyệt cục bộ châm xuyên huyệt, ngược chiều với hướng lệch của miệng ; giáp xa xuyên địa phương (bên lành), châm bổ, địa phương xuyên giáp xa, cự khuyết xuyên thừa khấp, ngư yếu xuyên dương bạch (bên bệnh), châm tả ; châm bình bổ bình tả thái xung và hợp cốc. Hiệu quả trị liệu đạt 96%, trong đó khỏi hoàn toàn 84%.

2. Mục Thục Khôn (1989) châm dương bạch xuyên ngư yêu, dương bạch xuyên toàn trúc, giáp xa xuyên địa phương, thái dương xuyên ty trúc không, tứ bạch xuyên nghênh hương, cự khuyết xuyên thừa khấp, ế phong và hợp cốc. Gia giảm, đau đầu châm đầu duy, phong trì, bách hội ; mắt nhắm không kín châm tình minh, đồng tử liêu. Hiệu quả điều trị đạt 98,7%, trong đó khỏi hoàn toàn 93,2%.

3. Giang Sơn (1989) đã sử dụng một huyệt kinh nghiệm làm chủ huyệt, vị trí : ở điểm nối giữa 1/3 trong và 2/3 ngoài đường nối hai huyệt địa phương và giáp xa. Các huyệt phối hợp tùy theo bệnh tình cụ thể mà lựa chọn từ 1 – 2 huyệt : nếu bệnh khởi phát trong vòng 1 tuần chọn phong trì, thái dương, ế phong, hợp cốc, túc tam lý ; nếu bệnh khởi phát trong vòng 2 tuần đến 1 tháng chọn ế phong (hoặc khiên chính), đầu duy xuyên huyền ly, ngoại quan, hợp cốc thái xung, túc tam lý ; nếu bệnh khởi phát trên 1 tháng chọn tình minh, nghênh hương, thiên dung, liệt khuyết, chiếu hai, thái xung, túc tam lý.

Thao tác kỹ thuật : dùng kim hào châm dài 2 thốn châm nghiêng 15o Xuyên tới huyệt hạ quan, vừa tiến kim vừa vê nhẹ nhàng sao cho cảm giác tê tức lan ra má, mắt, miệng, mũi và sau tai là đạt, lưu kim 15 – 30 phút các huyệt phối hợp châm tả nếu do phong nhiệt, châm bổ nếu do phong hàn. Trị liệu 713 ca đạt hiệu quả 100%, 75% khỏi hoàn toàn.

4. Kim Bá Hoa (1986) dùng ế phong làm chủ huyệt phối hợp với giáp xa, địa thương, nhân trung, thừa tương, toàn trúc. tứ bạch, hợp cốc và túc tam lý. Thao tác : châm ế phong hướng mũi kim về phía chóp mũi, tiến kim từ từ sâu khoảng 1 ,5 thốn sao cho có cảm giác tê tức, chướng nóng lan ra mặt là đạt (tả pháp); các huyệt khác châm bình bổ bình tả. Mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Đạt hiệu quả 100%.

5. Tân Tuyên Anh (1982) sử dụng 2 nhóm huyệt, nhóm 1 : dương bạch xuyên ngư yêu, địa thương xuyên giáp xa, ế phong, nghênh hương, hợp cốc ; nhóm 2 : toàn trúc, tình minh, cự khuyết xuyên thừa khấp, phong trì, dương lǎng tuyền. Thao tác : châm 2 nhóm thay thế nhau, lưu kim 15 phút, mỗi ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 3 ngày. Trị liệu 413 ca, đạt hiệu quả 99,7%, khỏe hoàn toàn 97,3%.

6. Quan Nhàn Thanh (1 990) dùng phương pháp “bốn kim tám huyệt” gồm dương bạch xuyên ngư yêu, tứ bạch xuyên nghênh hương, nghênh hương xuyên tình minh, địa thương xuyên giáp xa, phối hợp thêm hợp cốc. Gia giảm : đau và ù tai gia ế phong, đau mỏi cổ gia phong trì, đau nửa đầu gia thái dương.

Chọn dùng kim hào châm số 28 dài 2 thốn ; bệnh nặng, mắc lâu ngày, thể trạng suy nhược “dĩ hư giả bổ chi”; bệnh nhẹ, mới mắc, thể trạng tốt “dĩ thực giả tả chi”. Trị liệu 1 170 ca đạt hiệu quả 99,8%, khỏi hoàn toàn 80,9%.

7. Đỗ Thiếu Hoa (1991) châm bình bổ bình tả hữu thái dương, phong trì, ế phong, khiên chính, liệt mặt thượng (ở ngoài huyệt thái dương 5 phân), liệt mặt hạ (trung điềm đường nối địa thương và giáp xa), dương bạch xuyên ngư yêu, địa phương xuyên giáp xa, nghênh hương, tả hợp cốc, lưu kim 30 phút, mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.

8. Mã Thụy Lâm (1981) chọn dùng các huyệt tại chỗ và lân cận gồm dương bạch, đồng tử liệu, phong trì, tứ bạch, giáp xa, địa thương, hạ quan, nghênh hương, quyền liêu, ngư yêu, nhân trung, thừa tương, hòa liêu (chọn châm mỗi lần 3 – 4 huyệt) và các huyệt ở xa gồm hợp cốc, chi câu, túc tam lý. Các huyệt cục bộ dùng bổ pháp, các huyệt ở xa dùng tả pháp. Trị liệu 1 195 ca đạt hiệu quả 99,4%. khỏi hoàn toàn 80,7%.

9. Vương Minh Minh (1992) dùng các huyệt khuyết bền, ế phong, giáp xa, địa phương, hạ quan, tứ bạch. Khuyết bồn châm thẳng hoặc chếch sâu 0,3 – 0 5 thốn, các huyệt khác châm bình bổ bình tả. Trị liệu 80 ca, khỏi 72 ca, đạt hiệu quả 97,5%. Châm cách nhiệt, 7 lần là 1 liệu trình.

10. Vương Dân Tập (1993) chọn dùng các chủ huyệt : dương bạch, toàn trúc, tự trúc không, tứ bạch, hạ quan, địa phương, giáp xa, hợp cốc và các phối huyệt : ế phong và hoàn cốt khi có đau và ù tai, phong trì khi đau cứng cổ gáy, trung chữ khi đau đầu và chóng mặt, túc tam lý khi bệnh lâu thể trạng suy nhược. Thủ pháp : châm địa phương và giáp xa bên liệt hướng xuyên lẫn nhau, châm dương bạch, toàn trúc và ty trúc không xuyên tới ngư yêu, châm tứ bạch nghiêng kim 15o Xuyên tới địa thương ; châm tả, lưu kim 30 phút, vê kim 2 lần, bệnh mới châm hàng này, 10 ngày là 1 liệu trình, bệnh cũ châm bổ cách nhật. Hiệu quả trị liệu đạt 98,6%, khỏi hoàn toàn 80,1%.

11 . Hoàng Trí Hoa (1995) chọn ế phong làm chủ huyệt phối hợp với hạ quan, địa thương, thừa tương, nhân trung, giáp xa, hợp cốc và túc tam lý. Thao tác: trước hết day xoa ế phong cho nóng lên rồi châm, nếu bị liệt bên trái thì hướng mũi kim về phía huyệt khiên chính bên phải và ngược lại. Trị liệu 36 ca đạt hiệu quả 100%, khỏi hoàn toàn 72,2%.

12. Vương Hiếu Lợi (1 991) chỉ châm huyệt phong long. Thao tác: người bệnh nằm, dùng kim hào châm dài 3,5 thốn châm nhanh qua da tiến sâu 3 thốn, khi đắc khí thì vê nhẹ, lưu kim 30 phút. Trị liệu 102 ca đạt hiệu quả 98%, khỏi hoàn toàn 75,5%.

13. Ngải Hồng Thọ (1989) sử dụng địa thương và khiên chính làm chủ huyệt phối hợp với hợp cốc, lao cung. Thao tác: châm kim từ địa thương xuyên tới khiên chính, vê nhanh và lắc kim để đạt đắc khí, không lưu kim. Sau đó, châm tiếp hợp cốc xuyên lao cung, kích thích mạnh, không lưu kim. Trị liệu 100 ca, trong đó có 76 ca mới bị chỉ châm 1 lần đã khỏi 53 ca, đỡ nhiều 18 ca, đỡ ít 5 ca, 24 ca bị bệnh kéo dài 3 – 7 tháng sau khi châm 1 lần khỏi 3 ca, đỡ nhiều 12 ca, đỡ ít 7 ca, không đỡ 2 ca.

14. Lữ Cǎn Vinh (1986) chọn dùng các huyệt địa thương, giáp xa, quyền liêu, phong trì, dương bạch, hợp cốc, túc tam lý. Thao tác: châm địa thương xuyên giáp xa, quyền liêu xuyên địa thương, thái dương xuyên giáp xa, dương bạch xuyên ngư yêu. Các huyệt khác đều châm thẳng, lưu kim 30 phút, vê kim 3 – 5 lần. Hiệu quả trị liệu 100%.

Như vậy có thể thấy, chỉ riêng về phương diện sừ dụng thể châm điều trị liệt mặt, kinh nghiệm của các tác giả Trung Quốc đã hết sức phong phú. Đó là chưa kể đến các phương pháp khác như cứu, thủy châm, điện châm, laser châm, từ châm, dán thuốc trên huyệt… hoặc phối hợp giữa các phương pháp

Hoàng Khánh Toàn
Khoa Đông Y – Viện Quân y 108

Vài nét về nghiên cứu huyệt nội quan

Nội quan là một huyệt vị quan trọng thường dùng trong lâm sàng, tất cả các thày thuốc châm cứu từ xưa đến nay đều biết tới. Trong những nǎm gần đây, nhiều tác giả đã đi sâu khảo sát lâm sàng và tìm hiểu cơ chế tác dụng của huyệt này. Tựu chung có mấy vấn đề đáng chú ý sau đây:

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
Khoa đông y Viện quân y 108

1. Phương pháp lấy huyệt và cách châm
Nội quan có nguồn gốc được ghi trong “Linh khu – Kinh mạch”: “Thủ tâm chủ chi biệt, danh viết nội quan, khứ uyển nhị thốn, xuất vu lưỡng cân chi gian”. “Nội” là chỉ mặt trong, “quan” là chỉ quan khẩu. Nội quan là huyệt Lạc của kinh Quyết âm tâm bào, nối với kinh thiếu dương tam tiêu, giao hội của kinh Quyết âm ở tay với mạch âm duy.

Cách lấy huyệt: lấy ở trong khe của gân 2 cơ gan tay lớn và gan tay bé trên nếp gấp khớp cổ tay 2 tấc (gấp bàn tay vào cẳng tay và nghiêng tay vào trong cho nổi rõ khe cơ).

Cách châm:
(1) Sau khi lấy huyệt dùng kim châm vuông góc với mặt da vào huyệt, sâu từ 0,5 – 1 tấc,
(2) dùng móng tay cái bên trái bấm sát huyệt rồi dùng kim châm thằng góc,
(3) đồng thời châm thẳng cả 2 huyệt cùng một lúc
(4) châm từ Nội quan xuyên Ngoại quan nhưng mũi kim không lộ ra ngoài mặt da, sâu chừng 1-2 tấc,
(5) từ huyện Nội quan mũi kim châm chếch 450 xuyên tới huyệt Chi câu, sâu sâu chừng 1,5 – 2,5 tấc.

2. Thủ pháp và hiệu quả diều trị
Nội quan là huyệt có phạm vi sử dụng rất rộng rãi. nó là huyệt Lạc nối với kinh Tam tiêu, còn thông qua giao hội với mạch âm duy liên lạc với lục kinh ở vùng ngực. bụng. đặc biệt có quan hệ mật thiết với kinh Nhâm, Xung, Can, Phế. Theo “Giáp ất kinh” nó cũng là một trong “Bát mạch giao hội huyệt”. Bởi vậy, nó có tác dụng điều chỉnh hữu hiệu các rối loạn bệnh lý ở ngực, sườn, phổi, họng, thực quản, dạ dày tạo nên những công dụng đặc trưng của nó.

2.1. Đối với bệnh lý hô hấp
“Lan giang phú” viết: “Hung trung chi tật nội quan đảm”. “Tiêu u phú” viết: “Hung mãn phúc thống thích nội quan”. Nội quan là huyệt chủ trị bệnh lý vùng ngực. Có tác giả đã châm Nội quan đơn thuần điều trị 285 ca có cơn hen phế quản cấp tính đạt kết quả khá tốt chỉ sau 1-2 lần châm đã cắt được cơn hen. Thông thường phải dùng tả pháp và lưu kim 30 phút. Huyệt Nội quan có tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản rõ rệt.

2.2. Đối với bệnh lý tuần hoàn
(1) Điều trị bệnh lý mạch vành
“Giáp ất kinh” viết: “Thực tắc tâm bạo thống, nội quan chủ chi”. Đây có thể nói là y thư cổ nhất bàn đến việc điều trị tâm giảo thống. Nhiều tác giả nhận đinh khi xuất hiện tâm giảo thống nếu châm Nội quan với lượng kích thích mạnh sẽ làm hết đau nhanh chóng, có thể kết hợp châm thêm Giản sử, Túc tam lý. Một nghiên cứu điều trị 36 ca trấn tâm thống bằng cách châm cả 2 huyệt Nội quan, vê nhanh chóng trong 2 phút, lưu kim 30 phút, mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình, kết quả: 16 ca thực chứng đều có hiệu quả, 20 ca hư chúng có 18 ca có hiệu quả.

Một nghiên cứu khác châm Nội quan, Quyết âm du xuyên Tâm du điều trị 30 ca tâm giảo thống đạt hiệu quả 93,3%, trong đó tỷ lệ diện tim chuyển biến tốt là 33,3%. Cũng có tác giả nhận xét đối với nhồi máu cơ tim châm bổ Nội quan có khả nǎng hồi dương cứu thoát cơ bản khá tốt.

(2) Điều trị loạn nhịp tim
Một nghiên cứu dùng phương pháp châm Nội quan điều trị 50 ca nhịp nhanh kịch phát với phương thức : sau khi đắc khí, vê kim mạnh cho đến khi nhịp tim trở lại bình thường rồi lưu kim 10 phút, kết quả cho thấy: nhịp tim trở lại bình thường sau 20 giây là 17 ca, sau 3 phút là 33 ca. Một nghiên cứu khác châm Nội quan và Nhân nghênh điều trị 1 7 ca nhịp nhanh kịch phát trên thất đạt hiệu quả 85,2%.

Cũng có tác giả dùng dung dịch Đương quy thủy châm hai huyệt Nội quan và Thần môn điều trị 4 1 ca ngoại tâm thu đạt hiệu quả 87,8%. Một nghiên cứu châm Nội quan điều trị 84 ca loạn nhịp tim với phương thức: bệnh lâu hư chứng châm bổ lưu kim 15 – 30 phút, bệnh mới thực chứng kích thích mạnh và lưu kim 3 – 5 phút hoặc không lưu kim, đạt hiệu quả 92,8%. Một nghiên cứu khác châm Nội quan và Túc tam lý điều trị nhịp chậm xoang nhận thấy thường chỉ sau 6 phút nhịp tim đã nâng lên trên 60 lần phút, sau 5 ngày châm phục hồi về mức bình thường. Điều này chứng tỏ tác dụng điều tiết của Nội quan có tính 2 chiều theo hướng khôi phục hằng số sinh lý.

(3) Điều trị cao huyết áp
Tác dụng an thần của Nội quan có ý nghĩa rất lớn trong việc dùng huyệt này điều trị cao huyết áp. Vả lại Nội quan còn có khả nǎng điều chỉnh mỡ máu. Một nghiên cứu đã tiến hành điều trị 72 ca rối loạn lipid máu bằng cách châm Nội quan đơn thuần, kết quả cho thấy các chỉ số cholesterol toàn phần, triglycerid và b -lipoprotein đều giảm có ý nghĩa thống kê so với trước khi điều trị (p

2.3. Đối với hệ tiêu hóa
(1) Điều trị ẩu thổ.
Có tác giả đã châm bình bổ bình tả Nội quan. Thiên đột và Túc tam lý điều trị 81 ca ẩu thổ do thần kinh đạt hiệu quả 97,8%, trong đó 63 ca khỏi an toàn (77,8%). Ngoài ra. các trường hợp ẩu thổ do viêm dạ dày, ruột, rối loạn tiền đình và do có thai đều có thể dùng Nội quan để điều trị với kết quả khá tốt

(2) Điều trị bệnh lý vi tràng:
Nội quan đối với viêm dạ dày, ruột cấp hoặc mãn tính, loét dạ dày hành tá tràng, tắc ruột cơ nǎng, nấc do vị hỏa… đều có tác dụng điều trị. Thông thường người ta hay phối hợp với Túc tam lý.

2.4. Đối với hệ thần kinh:
Nhiều nghiên cứu đã châm Nội quan điều trị suy nhược thần kinh, hysteria có kết quả tốt. Đối với động kinh, Nội quan có tác dụng định thần định giản. Trong điều trị trúng phong, có tác giả đã khảo sát tác dụng tỉnh não khai khiếu của nhóm huyệt Nội quan, Nhân trung và Tam âm giao trên 2336 ca đạt hiệu quả 97,48%.

2.5. Đối với bệnh lý khác:
Nhiều nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát tác dụng của Nội quan trên các bệnh lý như sốt rét, viêm hầu họng cấp tê bì tứ chi do thần kinh, lạc chẩm, choáng do dị ứng thuốc, thống kinh. . . đều thu được hiệu quả ở các mức độ khác nhau. Trong châm tê, Nội quan là một trong những huyệt thường dùng để phẫu thuật mắt, tai, mũi, vùng cổ, vùng ngực, đặc biệt là trong phẫu thuật tuyến giáp trạng.

3. Cơ chế trị liệu
Những nǎm gần đây nhiều tài liệu đã công bố kết quả nghiên cứu cơ chế trị liệu của Nội quan trên động vật thực nghiệm. Người ta nhận thấy điện trở da vùng huyệt Nội quan thấp hơn nhiều so với vùng lành.

3.1. Nghiên cứu cơ chế chống gốc
Trên mô hình thỏ gây số thực nghiệm người ta nhận thấy điện châm Nội quan có tác đụng nâng huyết áp chốc sốc rõ rệt. Sau 30 điện châm huyết áp đã trở về mức 75% so với bình thường và khá ổn định. Các chỉ số huyết học khác cũng được cải thiện. Như vậy có thể thấy Nội quan có tác dụng thúc đẩy chức nǎng của các tổ chức và điều hòa chuyển vật chất của cơ thể trong trạng tái sốc.

3.2. Nghiên cứu cơ chế đối với tim mạch
Có thể nói, cùng tác động lên huyệt Nội quan để điều trị rối loạn nhịp xoang nhưng cơ chế tác đụng là hoàn toàn khác nhau tùy theo từng thể bệnh. Đối với nhịp chậm xoang cơ chế tác dụng tương tự thần kinh giao cảm, còn đối với nhịp nhanh xoang thì tương tự thần kinh phó giao cảm. Có tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên 88 con thỏ, kết quả cho thấy các nơ-rôn thần kinh vận động liên quan đến huyệt Nội quan nằm ở nhân sau bên (posterlateral nuclerus) của tủy sống trừ C6-C8, dây thần kinh cảm giác từ tim đi theo 2 đường tới trung khu hợp lại thành một dây mang tính chất lưỡng tính, cơ chế tác động trị liệu của Nội quan đôi với các bệnh lý và chức nǎng tim mạch cũng phải thông qua hoạt động của dây X.

Cũng có tác giả khảo sát trên động vật thực nghiệm nhận thấy các nơ-ron thần kinh cảm giác chi phối 3 huyệt Thần môn, Nội quan, Giản sử và tâm trạng có tác động tương hỗ lẫn nhau và sắp xếp chồng chéo ở tiết đoạn thần kinh C8-D2. Một nghiên cứu khác cho thấy kích thích do điện châm Nội quan được dẫn truyền tới nhân bó đơn độc (nucleus tractus solitarii) và gây nên hiệu ứng ức chế, thông qua đó điều tiết hoạt động phản xạ của hệ tim mạch.

Một tác giả khi quan sát 40 con thỏ được điện châm để oải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim cấp tính đã cho rằng tác dụng này có liên quan với việc làm hưng phấn các opium receptor ở vùng bụng hành não nhưng không ảnh hưởng đến các b – receptor.

Một số bài thuốc Đông y trị đau lưng

Trong Đông y, đau lưng được gọi là yêu thống, thường liên quan đến các bệnh về thận như có sỏi, viêm, ứ nước. Bệnh còn do phong thấp hoặc các cơ chằng vùng lưng bị tổn thương do tại nạn, bị đánh đập…

Nguyên nhân gây lưng đau:

– Do hàn thấp xâm nhập hệ cân cơ kinh lạc gây bế tắc vận hành kinh khí gây nên đau, hoặc do lao động quá sức mất thăng bằng khí cơ hoặc tổn thương cân cơ xương khớp gây đau. Triệu chứng điển hình là lưng đau nhẹ, đau nặng dần, thay đổi tư thế vẫn không giảm, thời tiết thay đổi làm đau hơn, rêu lưỡi trắng nhớt.

– Do công năng thận quá suy giảm không nuôi dưỡng được xương khớp, tinh tủy hoặc thận bị trở trệ đình tích lâu ngày gây đau.

Một số bài thuốc chữa lưng đau:

– Nếu đau do hàn thấp: dùng bài thuốc bạch thược 8 g, cam thảo 2 g, đảng sâm 8 g, đỗ trọng 8 g, độc hoạt 4 g, đương quy 8 g, ngưu tất 4 g, phòng phong 4 g, phục linh 8 g, quế tâm 2 g, sinh địa 12 g, tang ký sinh 4 g, tần giao 4 g, tế tân 2 g, xuyên khung 4 g. Sắc uống ngày 1 thang.

– Đau do thấp nhiệt vùng hông và lưng đau, cảm giác đau nóng, tiểu ít, nước tiểu đỏ, vàng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch nhu sác. Cần dùng bài thuốc: hoàng bá 40 g, khương truật 40 g. Các vị tán mịn, ngày uống ba lần, mỗi lần 15 g, hòa với nước khương trấp.

– Đau do thận quá hư suy với triệu chứng đau âm ỉ liên miên, vận động đau tăng, gối mỏi, chân không có sức. Thận dương hư làm bụng dưới co cứng, mặt nhạt, chân tay lạnh, mạch trầm tế. Cần dùng bài thuốc: cam thảo 4 g, đỗ trọng 12 g, hoài sơn 16 g, kỷ tử 8 g, nhân sâm 8 g, nhục quế 4 g, phụ tử chế 2 g, thù du 8 g, thục địa 32 g. Các vị sao giòn, tán mịn, trộn mật hoàn viên (trừ thục địa chưng thành cao), ngày uống 3 lần, mỗi lần 20g.

– Đau do thận âm hư gây bứt rứt khó ngủ, miệng khô, sắc mặt đỏ, lòng bàn tay, bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác. Dùng bài thuốc: cam thảo 4 g, kỷ tử 8 g, hoài sơn 12 g, ngô thù 8 g, phục linh 12 g, thục địa 32 g. Các vị sao giòn, tán mịn, trộn mật, hoàn viên (trừ thục địa chưng nghiền mịn). Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20g.

– Đau do lao động quá sức gây thương tổn lưng, vùng đau cố định, song đau như dùi đâm, ấn vào càng đau hơn, chất lưỡi tối hoặc có điểm xuất huyết, mạch tế sác. Dùng bài thuốc: chích thảo 4 g, đào nhân 12 g, địa long 6 g, đương quy 12 g, hồng hoa 12 g, hương phụ 12 g, tương hoạt 12 g, ngũ linh chi 12 g, ngưu tất 12 g, tần giao 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Bác sĩ Hoàng Bội Hương, Sức Khỏe & Đời Sống

Các bài thuốc Nam chữa cảm, sốt

Húng chanh 15-20 g, giã vắt lấy nước cốt uống; hoặc thêm gừng, hành mỗi vị 12 g, cùng sắc uống và xông cho ra mồ hôi. Bài thuốc có tác dụng chữa cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm.

Một số bài thuốc dễ áp dụng khác:

– Dùng lá trầu không đánh gió, xát mạnh dọc theo hai bên xương sống từ trên xuống, nếu bị cảm sẽ có nhiều nốt tụ máu, xung huyết. Dân ta thường gọi là cách nhể đậu lào, có tác dụng chữa cảm mạo.

– Chua me đất một nắm, giã nát, chế nước nguội vào, vắt lấy nước cốt uống. Bài thuốc có tác dụng chữa sốt cao, trằn trọc, khát nước.

– Cỏ nhọ nồi, rau sam, sài đất, huyền sâm, mạch môn, ngưu tất mỗi vị 10-15 g, sắc uống. Bài thuốc có tác dụng chữa sốt xuất huyết nhẹ, sốt phát ban, phong nhiệt nổi mẩn…

– Đậu ván trắng sao 20 g, hương nhu 16 g, hậu phác 12 g, sắc uống. Bài thuốc có tác dụng chữa cảm sốt mùa hè, nôn mửa, trong bụng nôn nao, bụng đầy không tiêu hay tiêu chảy.

– Lá bưởi bung 20 g sắc uống. Bài thuốc có tác dụng chữa cảm sốt, ho.

– Bạc hà và sắn dây mỗi vị 10-15 g, đổ 1/3 lít nước, bịt kín ấm, đun sôi một lúc rồi đưa xuống để xông, rót một chén uống. Sau đó sắc uống thêm 1-2 nước. Nếu cảm có mồ hôi thì không xông và uống nước nguội. Bài thuốc có tác dụng chữa các chứng cảm sốt nóng (không gai rét), nhức đầu, mắt sưng đỏ, nôn ọe, hoặc trẻ sốt nóng, lên sởi lúc mới bắt đầu mọc.

– Lá tía tô khô 15 g, vỏ quýt cũ, củ gấu (hương phụ), gừng tươi, hành trắng cả cây mỗi thứ 8 g, sắc uống lúc thuốc còn nóng. Dùng 1 củ gừng giã nhỏ, chưng nóng, gói vải, xát 2 bên gáy và dọc xương sống (đánh gió). Bài thuốc có tác dụng chữa cảm lạnh, nóng rét, thân thể đau mỏi, nhức đầu sổ mũi.

– Hương nhu trắng cả lá cành 30 g, sắc, xông hơi và uống một bát lúc còn nóng cho ra mồ hôi. Bài thuốc có tác dụng chữa cảm sốt ớn lạnh, nhức đầu, nôn mửa, thân thể đau nhức, không có mồ hôi.

– Tinh dầu hương nhu 15 giọt, uống với nước nóng; ngoài dùng xoa mũi, 2 bên gáy và dọc sống lưng, đắp chăn cho ra mồ hôi, chưa ra mồ hôi thì uống thêm. Bài thuốc có tác dụng giải cảm cúm hay cảm sốt có gai rét.

BS Kim Ngân, Sức Khỏe & Đời Sống

Những phương thuốc chữa bệnh tăng huyết áp

Những phương thuốc bí truyền
chữa bệnh tăng huyết áp


Theo lương y Nguyễn Công Đức (khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh), để chữa các thể bệnh tăng huyết áp, Đông y có những phương thuốc cổ phương, bí truyền (bí phương), hay thuốc nam, hoặc kết hợp châm cứu…

Những thể tăng huyết áp theo Đông y

Theo lương y Nguyễn Công Đức (khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh), Đông y quan niệm bệnh tăng huyết áp có những thể sau: thể can thận hư; thể âm hư hỏa vượng; thể tâm tỳ hư, thể đàm thấp.

Thể âm hư hỏa vượng thường gặp ở người trẻ và phụ nữ lúc “giao thời” – thời điểm tiền mãn kinh. Triệu chứng biểu hiện thường là: hoa mắt, chóng mặt, ù tai, miệng khô, đắng, ít ngủ, mạch huyền sác (mạch nhanh, cứng) và hay cáu gắt…

Nếu trường hợp bệnh thiên về âm hư, thì những triệu chứng sẽ là: chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, lòng bàn tay bàn chân nóng, mạch huyền tế sác (mạch cứng, nhỏ, nhanh).
Còn nếu thiên về hỏa vượng, thì sẽ bị đau đầu dữ dội, mắt đỏ, táo bón, họng khô, đầu lưỡi đỏ, mạch huyền sác hữu lực (mạch nhanh, mạnh). Còn tăng huyết áp thể can thận hư hay gặp ở người lớn tuổi, bị xơ cứng động mạch, triệu chứng biểu hiện thường là: nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, hoảng hốt, ít ngủ, hay mê, lưng đau, gối mỏi, miệng khô, mặt đỏ, mạch huyền tế sác (nếu bệnh thiên về âm hư).

Nếu bệnh thiên về dương hư, sẽ có những triệu chứng: sắc mặt trắng, lưng, chân, gối yếu mềm, đi tiểu nhiều, liệt dương, di mộng tinh, mạch trầm tế (mạch chìm, nhỏ). Tăng huyết áp thể tâm tỳ hư hay gặp ở người già có kèm theo bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mãn tính. Triệu chứng biểu hiện thường thấy: sắc mặt trắng, da khô, mệt mỏi, ít ngủ, ăn uống kém, thường đi tiêu phân lỏng, đầu choáng, mắt hoa, rêu lưỡi nhợt…

Nếu mắc bệnh ở thể đàm thấp (thể này thường gặp ở những người béo phệ, nghiện thuốc lá, uống rượu nhiều, cholesterol máu cao…), triệu chứng biểu hiện: ngực tức, tim đập mạnh, khó thở, hồi hộp, chân, tay tê, đầu nhức căng, chóng mặt, hoa mắt, ăn ngủ kém…

Nữ trinh tử

Nữ trinh tử

Cổ phương và bí phương chữa trị Tăng huyết áp sẽ nặng hơn nếu gặp các yếu tố thuận lợi. Cần kìm chế bản thân tránh giận dữ, lo lắng, nghĩ ngợi, buồn rầu… quá mức để tránh bệnh nặng thêm; sinh hoạt lao động thường ngày cần có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý; tập luyện thể dục, các bài dưỡng sinh nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe mỗi người, giữ tinh thần thoải mái trước lúc đi ngủ; ăn uống điều độ, hạn chế rượu, bia, thuốc lá…

Theo lương y Nguyễn Công Đức, để chữa các thể bệnh tăng huyết áp, Đông y có những phương thuốc cổ phương, bí truyền (bí phương), hay thuốc nam, hoặc kết hợp châm cứu… Nếu bệnh ở thể âm hư hỏa vượng, thì phép chữa sẽ là tư âm tiềm dương. Bài thuốc cổ phương cho trường hợp này có tên Thiên ma câu đằng ẩm, gồm các vị thuốc: thiên ma, chi tử (mỗi vị 8gr), bạch linh, đỗ trọng, ngưu tất, hoàng cầm (mỗi loại 12gr), câu đằng, tang ký sinh, dạ giao đằng, ích mẫu (mỗi thứ 16gr) và 20gr thạch thuyết minh (vỏ bào ngư).

Tất cả đem sắc uống mỗi ngày một thang. Tùy trường hợp, nếu nhức đầu nhiều thì thêm vào vị thuốc cúc hoa 12gr. Nếu khó ngủ thì thêm táo nhân 20gr và bá tử nhân 12gr. Nếu bệnh thể âm hư hỏa vượng mà thiên về âm hư, thì bài thuốc dùng thích hợp gồm những vị: trạch tả, bạch linh, đơn bì (mỗi vị 12gr), sơn thù, hoài sơn (mỗi vị 16gr), kỷ tử, cúc hoa (20gr mỗi vị) và 32gr thục địa. Đem sắc uống mỗi ngày một thang. Đặc biệt ở bệnh tăng huyết áp thể âm hư hỏa vượng, Đông y còn có bí phương hiệu nghiệm đó là bài Kỷ cúc địa hoàng gia giảm, gồm các vị thuốc: kỷ tử, cúc hoa, sơn thù, đơn bì (mỗi loại 10gr), hoài sơn, quy bản (mỗi loại 16gr), thục địa, đơn sâm (mỗi loại 20gr) và 30gr mẫu lệ. Tất cả đem sắc uống mỗi ngày một thang.

Hoàng cầm

Hoàng Cầm

Nếu tăng huyết áp thể can thận hư, phép chữa bổ can thận âm (nếu âm hư) và ôn dưỡng can thận (nếu dương hư). Phương thuốc cổ phương chữa trị trong trường hợp can thận âm hư là dùng bài thuốc: thục địa 32gr, hoài sơn, sơn thù (16gr mỗi loại), bạch linh, trạch tả, đơn bì (mỗi loại 12gr), đương quy, bạch thược (mỗi loại 8gr). Nếu là can thận dương hư, thì cũng với bài thuốc như trên, nhưng gia thêm các vị, ba kích, ích trí nhân, thỏ ty tử (mỗi thứ 12gr) và 16gr đỗ trọng.

Và bí phương ở thể này gồm có bài Nhất quán tiên gia giảm, với những vị thuốc: sa sâm, huyền sâm, sinh địa, câu đằng, hạ khô thảo, hạn liên thảo, thạch thuyết minh, táo nhân (mỗi vị 16gr), đương quy, mạch môn, kỷ tử, cúc hoa, trần bì, nữ trinh tử (mỗi vị 10gr) và 6gr xuyên luyện tử. Sắc uống ngày một thang (nếu can thận âm hư).

Nếu âm dương lưỡng hư thì dùng bí phương Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm, với các vị: 32gr thục địa, 20gr câu đằng, cùng sơn thù, hoài sơn, hải tảo, cúc hoa, tiên liên bì, đan sâm, xuyên khung (mỗi vị 16gr), bạch linh, đơn bì, trạch tả (mỗi vị 12gr) và 4gr nhục quế. Sắc uống ngày một thang.

Bạch linh

Trường hợp tăng huyết áp thể tâm tỳ hư, thì cổ phương có bài Quy tỳ thang gia giảm, gồm: đảng sâm, bạch truật, hoa hòe, tang ký sinh, táo nhân, long nhãn, ngưu tất (mỗi loại 12gr), hoàng cầm, viễn chí, mộc hương, đương quy (mỗi loại 8gr). Sắc uống ngày một thang.

Và bí phương trong trường hợp này là bài Ôn dương giáng áp, gồm: thái tử sâm, đan sâm, bạch linh (mỗi vị 20gr), hoàng kỳ, phụ tử chế, tiên linh bì, bá tử nhân, trạch tả, táo nhân (mỗi vị 16gr), đào nhân, sinh khương (mỗi vị 10gr) và 6gr quế chi. Sắc uống mỗi ngày một thang.

Đơn bì

Đơn bì

Còn tăng huyết áp thể đàm thấp, thì bài cổ phương, gồm: thiên ma, câu đằng, ngưu tất, hoa hòe, ý dĩ (mỗi vị 16gr), bán hạ, bạch truật (mỗi vị 12gr), trần bì, bạch linh (mỗi vị 8gr) và 6gr cam thảo. Sắc uống ngày một thang.

Bí phương trong trường hợp này là bài Giả quyết thất vị thang, với các vị: hoàng kỳ, đại giả thạch (mỗi vị 30gr), đảng sâm, bạch linh (mỗi vị 16gr), bạch truật, cam thảo (mỗi vị 10gr), 24gr thảo thuyết minh, 12gr bán hạ, 8gr trần bì. Sắc uống mỗi ngày một thang. Với những cổ phương và bí phương trên, mỗi đợt trị liệu thường là khoảng 2 tuần.

Các bài thuốc với cây sen

Hạt sen có vị ngọt tính bình, bổ dưỡng an thần; tâm sen vị đắng tính hàn, trị sốt cao mê sảng, huyết áp cao; gương sen vị đắng sáp, tính ôn, dùng trị các chứng băng lậu ra máu… Trong thế giới thảo dược, ít có loài cây nào mà các bộ phận đều là những vị thuốc quý như cây sen.

Hạt sen – liên nhục, liên tử – là vị thuốc quý, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng. Một số bài thuốc với hạt sen là:

– Chữa di tinh, hoạt tinh, di niệu: bài Cố tinh hoàn, gồm liên nhục 2 kg, liên tu 1 kg, hoài sơn 2 kg, sừng nai 1 kg, khiếm thực 0,5 kg, kim anh 0,5 kg. Các vị tán thành bột, riêng kim anh nấu cao, làm thành viên hoàn, ngày uống 10-20 g.

– Chữa tiêu chảy mãn tính: gồm liên nhục 12 g, đảng sâm 12 g, hoàng liên 5 g. Các vị sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10 g.

– Chữa mất ngủ do tâm hỏa vượng: bài Táo nhân thang, gồm táo nhân 10 g, viễn trí 10 g, liên tử 10 g, phục thần 10 g, phục linh 10 g, hoàng kỳ 10 g, đảng sâm 10 g, trần bì 5 g, cam thảo 4 g. Tất cả sắc uống ngày 1 thang.

Tâm sen – liên tử tâm: vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền, chỉ huyết sáp tinh, dùng để an thần, trị sốt cao mê sảng, hồi hộp tim đập nhanh, huyết áp cao. Tâm sen thường được phối hợp với cúc hoa, hoa hòe, hạt muồng… pha trà uống để dễ ngủ, hạ áp. Liều dùng 1,5-3 g.

Tua sen – liên tu: vị ngọt sáp, tính bình, tác dụng thanh tâm cố thận, sáp tinh chỉ huyết, dùng riêng hoặc phối hợp với hạt sen. Liều thường dùng 1,5-5 g.

Gương sen -liên phòng: vị đắng sáp, tính ôn, có tác dụng tiêu ứ chỉ huyết, dùng trị các chứng băng lậu ra máu, tiểu ra máu… Gương sen thường dùng để cầm máu bằng cách đốt thành than rồi phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng 5-10 g.

Lá sen – hà diệp, ngẫu diệp: vị đắng sáp, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết, dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Lá sen đã được ứng dụng nhiều năm chữa sốt xuất huyết thể nhẹ. Một số bài thuốc khác với lá sen:

– Chữa sốt cao nôn ra máu, chảy máu cam: bài Tứ sinh thang, gồm sinh địa tươi 24 g, trắc bá diệp tươi 12 g, lá sen tươi 12 g, ngải cứu tươi 8 g. Các vị nấu lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

– Trị béo phì, hạ cholesterol máu cao: đây là công dụng mới được phát hiện của lá sen. Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen, song có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá.

Ngó sen – ngẫu tiết: là một món ăn ngon và dùng trị các chứng đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết kéo dài, khí hư bạch đới, tiêu chảy kéo dài. Liều dùng 6-12 g.

Bác sĩ Quan Thế Dân, Sức Khỏe & Đời Sống

CỎ LÀO – KHÁNG SINH KHÁNG VIÊM TỐT

Cỏ Lào còn có tên là Yến Bạch, Cỏ hôi, Cỏ Việt Minh, Cây Cộng sản, Cây Lốp bốp, Cây Ba bớp, Cây Phân xanh, Cỏ Nhật. Tên khoa học: Chromolaena odorata (L) King et Robinson hoặc Eupatorium odoratum L. Họ Cúc (ASTERACEAE).

Cỏ Lào là một loại cây nhỏ mọc thành bụi, thân hình trụ thẳng cao tới hơn 2 mét, có nhiều cành. Lá mọc đối, lúc non hình tam giác, dài 5 – 10cm, rộng 3 – 6cm; khi cây trưởng thành, lá biến dạng thành hình quả trám lệch.

Đầu lá nhọn, mép có răng cưa thưa, có lông thưa và ngắn ở cả hai mặt lá và ngọn cành. Vò lá và cành non có mùi thơm hắc. Cụm hoa đầu, hình trụ dài 9 – 11mm, đường kính 5 – 6mm. Lúc mới nở, hoa màu xanh tím nhạt, sau trắng. Quả bé, nhỏ dài, đầu có túm lông nên có thể phát tán đi rất xa nhờ gió. Mùa hoa tháng 11 – 12 dương lịch.

Ở Việt Nam, Cỏ Lào phân bố nhiều nhất ở trung du, miền núi thấp, ngay ở ngoại thành Hà Nội cũng thấy những bụi lớn cỏ Lào mọc ven đường. Cây có thể sinh sản vô tính rất mạnh. Ngọn non, cành già bẻ trụi lá, cắm xuống đất chỉ một tuần sau là mọc rễ trắng. Chặt cây sát gốc càng đâm chồi mạnh. Mãi đến năm 1935 các nhà thực vật học mới ghi nhận cây Cỏ Lào ở Việt Nam. Vì vậy nó có tên là Cỏ Nhật, Cỏ Việt Minh, Cây Cộng sản.

Các nhà khoa học nông nghiệp thấy nông dân hái ngọn và lá Cỏ Lào làm phân xanh nên nghiên cứu thành phần hoá học thấy giàu đạm, lân, kali. Lá và ngọn non cỏ Lào chứa: Đạm 2,65%, Kali (K2O) 2,48%, Lân (P2O5) 0,5%, tanin, ancaloid, tinh dầu.

Năm 1976, Viện Nghiên cứu Y học quân sự công bố kết quả nghiên cứu: Tác dụng chống viêm, tác dụng kháng khuẩn, liều độc của Cỏ Lào. Tác dụng chống viêm: Lá, thân, rễ Cỏ Lào đều có tác dụng, nhưng lá mạnh hơn cả. Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Cỏ Lào có tác dụng ức chế vi khuẩn gây mủ trên vết thương và ức chế trực khuẩn lỵ Shigella.

Liều độc LD 50 trên chuột nhắt: Thân 160g/kg thể trọng. Lá 135g/kg thể trọng. Rễ 120g/kg thể trọng.

* Năm 1983 chúng tôi đã nghiên cứu xác định:
Hiệu lực kháng khuẩn của Cỏ Lào theo tháng và theo tuổi. Ngọn non và lá bánh tẻ thu hái trong các tháng đều có hiệu lực như nhau. Ngọn có nụ hiệu lực kháng khuẩn kém (điều này khác với các dược liệu khác, khi có nụ là lúc hoạt chất cao nhất).

So sánh giữa dược liệu tươi, khô và các dung môi chiết suất khác nhau thấy: Dược liệu tươi chiết bằng nước nóng 80oC ít tạp chất và có hiệu lực kháng khuẩn cao nhất, so với dược liệu khô và dung môi cồn. Cao đặc và cao khô (chiết từ dược liệu tươi bằng nước nóng 80oC) bảo quản được lâu (sau 1 năm không mốc) và giữ nguyên hiệu lực kháng khuẩn. Cao khô Cỏ Lào hút nước mạnh hơn cao khô dược liệu khác.

Chúng tôi thấy rằng sử dụng Cỏ Lào làm nguyên liệu sản xuất thuốc kháng viêm, kháng khuẩn thực vật, bổ sung cho các thuốc kháng khuẩn chế từ vi sinh vật đang bị kháng thuốc là một hướng mới cần được chú ý.

DS. Trần Xuân Thuyết_CTQ số 20


CÂY CỎ LÀO CÓ THỂ CHỮA BỆNH NAN Y

Dịch chiết từ lá cây cỏ lào, ở những nồng độ nhất định có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của tế bào gốc dây cuống rốn. Đây sẽ là cơ sở để tiến hành nghiên cứu các chế phẩm điều trị bệnh nan y.

Th.S Mai Mạnh Tuấn, Khoa Nghiên cứu Đông y Thực nghiệm bệnh, Viện Y học Cổ truyền T.Ư cho biết. Ví dụ như điều trị vết loét do biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường. Thông thường, những bệnh nhân này phải mang thương tật suốt đời hoặc phải cắt bỏ chi trở thành tàn phế.

Để điều trị, bác sĩ dùng tiêm một ít tế bào vào dưới vùng thương tổn để hỗ trợ các tế bào khu vực đó. Sau đó, trộn một ít hỗn hợp gel – tế bào gốc bôi lên bề mặt vết thương.

Chỉ sau 3 tháng điều trị, mỗi tuần ghép tế bào 2 lần, vết loét của bệnh nhân có thể liền hẳn. Ngoài ra, ghép tế bào gốc còn được ứng dụng trong điều trị ung thư, ghép giác mạc và phẫu thuật thẩm mỹ.
Tuy nhiên, theo Th.S Mai Mạnh Tuấn, hiện nay, việc nuôi cấy tế bào gốc còn đang gặp nhiều khó khăn, trong khi đó, nhu cầu điều trị lại rất lớn.

Theo kinh nghiệm dân gian cổ truyền, cỏ lào được dùng để điều trị nhiều căn bệnh như: Lỵ cấp tính, viêm đại tràng, ghẻ lở, cầm máu, chống viêm, chữa liền vết thương…

Nghiên cứu trên bệnh nhân bỏng cho thấy, dịch chiết từ lá cây cỏ lào có hiệu quả ức chế vi khuẩn mạnh, có tác dụng kích thích biểu mô liền vết thương và giảm sưng viêm. Ngoài ra còn có tác dụng chữa vết thương ở mắt do xước hoặc loét giác mạc.

Hồng Hạnh (Theo Vnmedia)