Category Archives: Y Học Cổ Truyền

Đông y điều trị xơ gan

Xơ gan là một bệnh thường có ở Việt Nam, là một bệnh nặng, nhất là đã có cổ trướng hoặc đã vàng da. Bệnh được ổn định lâu hay mau phụ thuộc chủ yếu vào chế độ làm việc, chế độ dinh dưỡng và việc phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Nhưng nói chung xơ gan tiên lượng rất xấu. Tuy đã điều trị ở bệnh viện, nhưng tỷ lệ tử vong khá cao. Vì vậy việc phòng bệnh để tránh mắc bệnh viêm gan, dẫn đến xơ gan là rất quan trọng, cần hiểu biết để phòng tránh.

Xơ gan thường tiếp theo sau một viêm gan mạn tính. Rất khó xác định được lúc nào viêm gan mạn đã chuyển sang xơ gan nếu không quản lý bệnh nhân, theo dõi định kỳ và nhất là soi ổ bụng hoặc sinh thiết.

Cổ trướng thường được coi là một biểu hiện mất bù của xơ gan, tiến triển dần dần. Khi to nhiều, bệnh nhân mới để ý đến. Nước cổ trướng màu vàng chanh, còn nước màu hồng hay đỏ là có ý nghĩa xấu: xơ gan đã ung thư hóa, hoặc có áp lực tĩnh mạch cửa tăng nhiều, lách to, cứng chắc, có khi đến tận rốn.

Theo y học cổ truyền, xơ gan cổ trướng là do viêm gan, sốt rét, uống rượu, kém dinh dưỡng. Căn cứ vào triệu chứng và phương pháp chữa, các thầy thuốc Đông y chia làm 3 thể bệnh với phép điều trị như sau:

1. Thể xơ gan do can uất, tỳ hư, can tỳ bất hòa

Triệu chứng: Sắc mặt xạm tối, đầu choáng, mệt mỏi, ăn kém, đau vùng gan, tức vùng thượng vị, ợ hơi, bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyết tê. Phép chữa xơ can kiện ty:

Bài 1: Rau má 12g, mướp đắng (khổ qua) 12g, thanh bì, chỉ thực, uất kim, hậu phác, mỗi vị 8g; ý dĩ, hoài sơn, biển đậu, đinh lăng mỗi vị 12g. Nước 3 bát, sắc còn 1 bát, uống lúc bụng đói, uống ấm.

Bài 2: Đan sâm 16g, huỳnh kỳ 10g, bạch phục linh 10g, bạch truật 12g, bạch thược 10g, nhân trần 20g, chi tử 8g, ngũ gia bì 8g, đại phúc bì 6g, sài hồ 10g, ý dĩ 16g, cam thảo 6g, đại táo 6g, gừng khô 6g. Sắc uống như trên ngày một thang.

2. Xơ gan do khí trệ huyết ứ:

Triệu chứng: đau nhiều vùng mạng sườn, bụng trướng, người gầy, lách to, môi lưỡi tím, mạch tế. Phép chữa: hành khí hóa ứ:

Bài 1: Kê huyết đằng 12g, cỏ nhọ nồi 12g, uất kim 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, chỉ xác 8g, sinh địa 12g, mẫu lệ 16g, quy bản 10g. Sắc uống ấm ngày một thang.

Bài 2: Bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, diên hồ sách 8g. Sắc uống ngày một thang. Nếu lách to, thêm tam lăng 12g, nga truật 12g, mẫu lệ 10g, mai ba ba 20g.

Bài 3: Đào nhân 12g, hồng hoa 8g, đương quy 12g, xích thược 12g, đan sâm 22g, tam lăng 8g, nga truật 8g, hương phụ chế 8g, chỉ xác 8g. Sắc uống ngày một thang.

3. Thể xơ gan cổ trướng: Thể này có 3 loại:

Âm hư thấp nhiệt: Thể này thường kèm theo chảy máu. Triệu chứng: sắc mặt vàng tối, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chân phù, sốt hâm hấp, hoặc sốt cao, phiền táo, miệng khát, họng khô, lợm giọng, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sác. Phép chữa: thanh nhiệt, hóa thấp, dưỡng âm, lợi thủy:

Bài 1: Nhân trần 20g, thạch hộc 20g, sa sâm 12g, sinh địa 12g, xa tiền 12g, trạch tả 12g, bạch mao căn 12g, hậu phác 6g, trần bì 6g, bán hạ chế 6g, chi tử 8g, nước 3 bát sắc còn 1 bát, uống trong ngày một thang.

Bài 2: Thục địa 12g, sơn thù 8g, hoài sơn 12g, trạch tả 8g, đơn bì 8g, phục linh 8g, bạch truật 12g, đương quy 8g, địa cốt bì 12g, bạch mao căn 20g.

Tỳ thận dương hư: Triệu chứng: mệt mỏi, ăn kém, bụng trướng, chân phù, tiểu tiện ít, đại tiện lỏng, sợ lạnh, sắc mặt vàng hoặc xanh nhợt, chất lưỡi nhạt hoặc bệu, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế. Phép chữa: ôn thận tỳ dương, hành thủy.

Bài 1: Phụ tử chế 12g, nhục quế 4g, chỉ xác 6g, mộc hương 6g, bạch truật 12g, ý dĩ 16g, trạch tả 12g, hoài sơn 12g, kê nội kim 4g, xa tiền tử 12g.

Bài 2: Phụ tử chế 12g, quế chi 6g, gừng khô 6g, phục linh 12g, hậu phác 6g, trạch tả 12g, đại phúc bì 12g, huỳnh kỳ 12g, xuyên tiêu 6g.

Thể cổ trướng nhiều, thủy khí tương kết: Triệu chứng: cổ trướng tăng nhanh, không nằm được, tiểu tiện ít, đại tiện không thông, mạch huyền sác. Phép chữa: công hạ, trục thủy. Chú ý theo dõi mạch, huyết áp tránh trụy mạch do mất nước và điện giải quá nhiều.

Bài 1: Cam toại nướng 6g, thương lục 6g, đại phúc bì 12g, đại hoàng 12g, hắc sửu 8g, úc lý nhân 8g, nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống nguội sáng chiều.

Bài 2: Nguyên hoa 8g, cam toại 8g, đại kích 8g, phơi khô tán bột. Ngày uống 2g vào buổi sáng với nước đại táo.

Bài 3: Cây lá trạch lan 30g, rễ muồng trâu (sao rượu) 30g, rễ bồ ngót 30g, lá tía tô 10g, hậu phác 5g, lá dâu 12g. Nước vừa đủ, sắc còn 1/2 uống ấm trong ngày.

Bài 4: Hương phụ chế 12g, vỏ quýt sao 12g, vỏ cau sao 6g, hậu phác 6g, cam thảo 3g, nước vừa đủ, sắc uống như trên.

Bài 5: Hoàng cầm 12g, sơn chi tử 12g, nhân trần 12g, đình lịch tử 8g, long đờm thảo 8g. Nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống ấm trong ngày một thang.

4. Món canh, cháo chữa xơ gan cổ trướng

Cá chép nấu xích tiểu đậu: Cá chép 1 con 0,5 – 1kg, đánh vảy, bỏ mang và ruột, đậu đỏ 120g và trần bì (vỏ quýt) 6g, rửa sạch, nhồi 2 vị vào bụng cá. Nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi, rồi nhỏ lửa, nấu tới nước sánh là được. Công dụng: thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, tiêu thũng, trị xơ gan cổ trướng vàng da, viêm túi mật, viêm tuyến tụy. Ngày ăn 2 lần, ăn cá, uống canh.

Canh thịt lợn mao căn: Mao căn, rễ cỏ tranh (rễ khô 50g, rễ tươi 150g), cắt từng đoạn ngắn rửa sạch, thịt lợn nạc 350g, rửa sạch thái chỉ. Hai thứ cho vào nồi, nước vừa đủ, nấu chín, cho gia vị là được. Công dụng: ích khí, thanh nhiệt, lợi thấp, thoái hoàng. Trị cổ trướng vàng da, mệt mỏi, cơ thể suy nhược.

Cháo tạm trúc diệp, đậu đỏ: tạm trúc diệp 100g, rửa sạch, cắt nhỏ, đậu đỏ loại nhỏ 50g, gạo nếp 100g đãi sạch, ngâm trương cho vào nồi, nước 1 lít, đun lửa to cho sôi, khi hạt gạo nếp sắp nở mới cho tạm trúc diệp vào, nấu chín là được. Công dụng: thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, cổ trướng, chia ngày ăn 2 – 3 lần.

Cháo ý dĩ, phục linh: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, ý dĩ (hạt bo bo) 100g. Ngâm xích tiểu đậu nửa ngày rồi cho vào nấu cháo cùng ý dĩ, khi chín nhừ thì cho bột phục linh vào nấu tiếp; sau đó cho ít đường đỏ, ăn trong ngày. Công dụng chữa viêm gan, xơ gan vàng da.

Cháo táo tàu, ngó sen: táo tàu 10 quả (bỏ vỏ và hạt), hạt bo bo (ý dĩ) 50 – 100g, bột ngó sen 15g. Nấu hạt bo bo cho chín, mềm, cho táo tàu vào, đun sôi tiếp, sau đó cho bột ngó sen vào (bột hòa tan cho đều với nước sôi), đun sôi lại lần nữa là được, chia 2 lần ăn trong ngày. Công dụng: an thần, lợi thủy, trừ xơ gan cổ trướng.

Cháo nhân trần: nhân trần 60g, gạo lức 100g. Nhân trần rửa sạch đun lấy nước, bỏ bã, cho gạo lức vào, đã vo sạch, đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa, nấu cháo loãng, có thể cho ít đường đỏ, ăn ngày 2 – 3 lần. Ăn liền 7 – 10 ngày là một liệu trình. Công dụng: trị xơ gan cổ trướng, vàng da cấp. Hoặc thay nhân trần bằng chi tử nhân 30g, gạo lức 100g. Nấu ăn như cháo nhân trần. Công dụng: trị viêm gan vàng da, thổ huyết, lỵ ra máu, tiểu ra máu, họng đau, bệnh lậu.

Ăn cá chép ốp thấm ba đậu: cá chép 1 con to 0,5 – 1kg, dùng dao mổ dọc 2 bên sống lưng thật sâu, ba đậu 40 hạt, lột bỏ vỏ rồi nhét vào 2 bên dọc sống lưng cá cho đầy, ốp cá lại, dùng giấy bạc bọc ngoài 3 lớp, ràng rịt kỹ, để lên lửa than, nướng chín, rồi bỏ hết ba đậu, chỉ ăn cá chép với nước cơm sôi, ăn nhạt, kiêng mắm, muối. Trong ngày sẽ đi đại tiện, tống hết vật tanh hôi. Bụng xọp dần. Nếu đi đại tiện nhiều thì uống nước đun sôi để nguội sẽ đi bình thường.

Ăn cá chép, tỏi, đậu đỏ: Cá chép tươi sống khoảng 500g, mổ thịt, để cả vảy, bỏ ruột. đậu đỏ nhỏ hạt 100g, tỏi vài nhánh. Đậu nấu chín, nhét tỏi và đậu vào bụng cá, gói cá bằng lá chuối tươi, buộc kỹ rồi vùi vào tro nóng có than hồng, khi chín dừ cá lấy ra ăn nhạt, ngày ăn một lần, ăn 3 – 6 ngày liền.

Các loại nước uống:

– Chi tử 12g, nhân trần 12g, nước 600ml, sắc còn 200ml, cho chút đường chia 3 lần uống trong ngày.

– Chi tử 16g, hoàng bá 12g, cam thảo 4g, sắc nước uống ngày một thang.

– Mẫu đơn bì 8g, rễ cỏ tranh 20g, thục địa, hoài sơn, bạch truật, địa cốt bì mỗi vị 12g, sơn thù, trạch tả, phục linh, đương quy mỗi vị 8g, sắc uống ngày một thang.

– Cây chó đẻ răng cưa 100g, sắc nước 4 lần. Lần 1: sắc với 3 bát nước lấy một bát thuốc. Ba lần sau đều sắc với 2 bát nước lấy nửa bát thuốc. Trộn chung 4 nước, thêm ít đường đỏ, đun sôi cho tan, chia 6 lần uống trong ngày. Khi hết triệu chứng xơ gan, vàng da, thôi không uống thuốc chữa.

– Nhân trần, bồ công anh, uất kim mỗi vị 30g, nghệ vàng 12g, sắc uống ngày một thang.

– Nhân trần 20g, quả dành dành 10g, đại hoàng 5g, sắc uống ngày một thang.

– Nhân trần 100g, bồ công anh 50g, đường đỏ 30g, nước 600ml, sắc với nhân trần và bồ công anh còn 400ml, cho đường vào là được. Chia 2 lần uống trong ngày.

Thuốc thoa ngoài: Rễ trầu già 10g, bồ kết 5g, long não 3g, gừng khô 4g, tỏi 1 củ nhỏ. Tất cả giã nát, ngâm với rượu trong một tuần. Dùng thoa bụng, ngày 3 lần, nhiều hơn càng tốt.


( theo suckhoedoisong.vn)
Advertisements

Châm cứu học Tập 1

+ Chủ biên: PGS.TS Phan Quan Chí Hiếu
+ NXB Y học 2007
+Link download:
http://vatm.edu.vn/download/CCHtap1.pdf

theo ykhoavn.net

Bệnh học và điều trị nội khoa – Kết hợp Đông Tây

+ Chủ biên : PGS.TS Nguyễn Thị Bay
+ NXB Y học – 2007
+ Link download:
http://vatm.edu.vn/download/bh_dt_noi_khoa1.pdf

theo ykhoavn.net

Bệnh học và điều trị đông y

+ Chủ biên: PGS.TS Phan Quan Chí Hiếu
+ NXB Y học – 2007
+ Link download :
http://vatm.edu.vn/download/benhhocdtdy.pdf

theo ykhoavn.net

Dịch cân kinh – Ebook

Phần thứ nhất: Dẫn nhập

Nguồn gốc
Nội dung

Phần thứ nhì: Chuẩn bị
Điều kiện để luyện
Trường hợp không nên luyện Dịch Cân Kinh
Tư thức dự bị lúc mới luyện
Hiệu năng
Chủ trị
Thu công

Phần thứ ba: 12 thức Dịch Cân kinh
Phần thứ tư: Tổng kết
Tài liệu Dịch Cân kinh Của nhà văn Vũ Hạnh sưu tầm.

Mobipocket Reader cho phép xem các tập tin có định dạng PRC, PDB…

Theo Edu.vn

Liên kết để bạn tải xuống máy:

http://www.download.com.vn/Data/Soft/2008/07/03/DichCanKinh.rar

557 bài thuốc dân gian gia truyền – Ebook

Tài liệu gồm 577 bài thuốc chữa trị bệnh thường gặp, các bài thuốc được trên nguyên tắc quan trọng là bổ sung các khoáng chất, các vitamin để tăng sức đề kháng của cơ thể. Ngăn ngữa và tiêu diện các mầm bệnh của các loại bện tuỳ theo từng bài thuốc.


Y học cổ truyền Việt Nam – Ebook

Xin giới thiệu tới bạn đọc bộ sách kinh điển của Y học cổ truyền Việt Nam gồm 5 quyển:

Quyển 1 : Kim Quỹ
Quyển 2 : Linh Khu
Quyển 3 : Nam Kinh
Quyển 4 : Tố Vấn
Quyển 5 : Thương Hàn Luận

Liên kết để bạn tải xuống máy:

http://www.download.com.vn/Data/Soft/2008/07/17/y_hoc_co_truyen.rar

Điểm Huyệt Liệu Pháp – Ebook

Ông Mã Tú Đường là một nhà châm cứu và điểm huyệt đã nhiều năm. Riêng về khoa điểm huyệt, ông bắt đầu nghiên cứu từ mùa xuân năm 1956 đến mùa thu năm 1959,

Ông đã đem những liệu pháp kinh nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu làm thành tổng kết bước đầu ,nhà xuất bản Thiểm Tây nhân dân xuất bản xã giúp đỡ đem xuất bản. Sau đó, trải qua nhận được nhiều thư của độc giả cổ vũ, thúc giục, ông càng thêm tin tưởng và quyết tâm tăng thêm sức mạnh nghiên cứu của minh.

Đến năm 1978, trên cơ sở thực tiễn lâm sàng “ Điểm huyệt liệu pháp” đã qua 20 năm, chữa nhiều loại bệnh, tăng thêm được nhiểu thủ pháp chữa trị, xác minh được một số vấn đề có tính lý luận đã gặp trên lâm sàng, làm cho một liệu pháp bất luận là cơ sở lý luận, hay là ở vận dụng thủ pháp và thực tiễn lâm sàng đều rất là phong phú so với sách trước.

Nguồn phát hành:

Nxb Thiểm tây Khoa học Kỹ thuật

Theo Edu.vn

Liên kết để bạn tải xuống máy:

http://www.download.com.vn/Data/Soft/2008/07/17/diem_huyet_lieu_phap.rar

Tác dụng chữa bệnh của gấc

Dầu gấc rất hữu ích đối với những trường hợp thiếu vitamin A như trẻ con chậm lớn hay mắc bệnh khô mắt, quáng gà, người kém ăn, mệt mỏi. Nó cũng được bôi vào vết thương, vết bỏng để giúp nhanh lên da non.

Bộ phận dùng làm thuốc của gấc: Hạt gấc đã bóc bỏ áo hạt, phơi hay sấy khô; dầu gấc được ép từ màng hạt đã phơi hoặc sấy khô; rễ thu hái vào mùa đông rửa sạch và phơi khô.

Dầu gấc dùng kèm với một số vị thuốc kháng khuẩn đặc hiệu sẽ chữa được bệnh trứng cá có nhân. Dầu gấc có tác dụng nhuận tràng, thích hợp cho người táo bón.


Người lớn mỗi ngày dùng 10-20 giọt, chia làm 2 lần, uống trước bữa ăn chính. Trẻ em 5-10 giọt mỗi ngày.

Hạt gấc dùng theo kinh nghiệm nhân dân chữa mụn nhọt, quai bị, sưng vú, tắc tia sữa, trĩ, lòi dom. Có nơi còn dùng chữa sốt rét có báng; chủ yếu dùng ngoài, mỗi ngày 1-2 g.


Các bài thuốc:

– Gốc dây gấc, đơn gối hạc, mộc thông, tỳ giải mỗi vị 15 g, sắc uống hoặc ngâm rượu xoa bóp cũng chữa phong thấp, sưng chân.

– Nhân hạt gấc mài với nước, bôi chữa mụn nhọt, ghẻ lở:

– Nhân hạt gấc giã với một ít rượu 30-40 độ, đắp chữa vú sưng đau.

– Hạt gấc giã nát, thêm một ít giấm, gói bằng vải, đắp chữa trĩ, lòi dom, để suốt đêm.

– Hạt gấc và vảy tê tê hai vị bằng nhau, sấy khô tán bột, mỗi lần dùng 2 g hòa với rượu ấm uống lúc đói để chữa sốt rét có báng.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

SÂM TAM THẤT

Sâm tam thất dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản thảo cương mục, tập 12 với tên Tam thất, còn có tên khác là Kim bất hoán, Điền thất, sơn thất, Nhân sâm tam thất, là rễ phơi khô của cây Tam thất (Panax notoginseng (burt). F.H.Chen hoặc Panax repens Maxim) thuộc họ Ngũ gia bì ( Araliaceae).

Tính vị qui kinh:

Vị ngọt hơi đắng, ôn. Qui kinh Can, Vị.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Bản thảo cương mục: ngọt, hơi đắng, ôn, không độc.
  • Sách Bản thảo hội ngôn: vị ngọt hơi đắng, tính bình, không độc, qui Dương minh, Quyết âm kinh.
  • Sách Bản thảo bị yếu: vị ngọt, đắng hơi ôn.
  • Sách bản thảo cầu chân: nhập Can, Vị kiêm Tâm, Đại tràng.
  • Sách bản thảo tái tân: nhập Phế Thận.

Thành phần chủ yếu:

Theo sách Trung dược học, thành phần chủ yếu có: saponin Tam thất tương tự như saponin của Nhân sâm, chủ yếu có saponin Nhân sâm Rb1, Rd, Re, Rg1, Rg2, Rh1 và saponin Tam thất C3, D1 ,D2, E2,R1,R2,R3,R4,.Hoạt chất cầm máu trong Tam thất là chất Decichine.

Ngoài ra còn có alkaloit, protid, saccharide, lipid, tinh dầu, các acid amin tự do, caroten và calci.

Tác dụng dược lý:

A.Theo y học cổ truyền:

Hóa ứ chỉ huyết, hoạt huyết định thống. Chủ trị các chứng xuất huyết ngoài và bên trong nội tạng, té ngã ứ huyết sưng đau.

Theo các Y văn cổ:

  • Sách Bản thảo cương mục: ” chỉ huyết, tán huyết, định thống, chảy máu do tổn thương dao kéo, té ngã, nhai nát hoặc tán bột bôi vào đều cầm máu, chủ thổ huyết, nục huyết, hạ huyết, huyết lî, băng lậu, sau sanh huyết ối không ra hết, đau do huyết ứ, mắt đỏ sưng mủ, hổ, rắn casn chảy máu đều cầm”.
  • Sách Y trung tham tây lục: ” Tam thất vị đắng, hơi ngọt, tính bình, hóa ứ huyết chỉ huyết, vượng hành là vị thuốc chủ yếu cầm thổ huyết, nục huyết, bệnh khỏi không sinh ứ huyết ở kinh lạc.kiêm trị nhị tiện hạ huyết, con gái băng huyết, lî ra máu đỏ tươi lâu không khỏi ( nên dùng với Nha đảm tử). Trường hợp ruột bị loét đi lî phân sắc tím hôi tanh có màng mỡ, loét ruột muốn thủng. Tam thất có tác dụng hóa hủ sinh tân, dùng để trị. Thuốc còn có tác dụng hóa ứ huyết trị chứng trưng hà, kinh nguyệt không thông, thuốc hóa ứ mà không hại huyết mới sanh, chảy máu ngoài da dùng bột đắp vết thương cầm ngay. Trường hợp té ngã tổn thương ảnh hưởng nội tạng, kinh lạc ngoài đắp trong uống rất tốt. Nhọt mới bị sưng đau đắp ngoài là khỏi ( nên kết hợp với đồng lượng bột Đại hoàng trộn dấm đăép). Trường hợp sang độc trong xương có thể dùng Tam thất làm độc thóat ra”.

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Tác dụng cầm máu: nước sắc uống của rễ Tam thất, bột Tam thất và dịch chiết Tam thất đều có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu và thời gian prothrombin có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu ( theo Đoàn thị Nhu, Vũ thị Tâm và Nguyễn thị Nho, Thông báo Dược liệu 1977,4:14-20, Hà nội); rễ Tam thất có kháng năng kháng lại hiện tượng giảm prothrombin trong máu thỏ và giảm khả năng máu đông gây thực nghiệm với dicumarol.
  2. Aûnh hưởng của thuốc đối với trung khu thần kinh: Loại Saponin Rg có tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh, có tác dụng chống mệt mỏi, tăng khả năng lao động trí óc và chân tay, nhưng loại Saponin như Rb thì có tác dụng ức chế trung khu thần kinh biểu hiện an thần gây ngủ. Bộ phận trên mặt đất của Tam thất như lá hoa có nhiều loại Saponin Rb nên có tác dụng ức chế trung khu là chính còn bộ phận rễ thì hưng phấn là chủ yếu. Tất cả các loại tổng Saponin của rễ cũng như tổng Saponin của lá Sâm Tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.
  3. Aûnh hưởng của thuốc đối với hệ tim mạch: Dịch tiêm Tam thất đối với chó gây mê có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, tăng lưu lượng máu động mạch vành, giảm lực cản của động mạch mạch vành. Tổng saponin rễ Tam thất có tác dụng rõ rệt hạ huyết áp động mạch và giảm lực cản mạch máu ngoại vi, tăng lượng máu xuất của tim và làm chậm nhịp tim, giảm thấp lượng tiêu hao oxy của tim. Chất chiết xuất rễ nhung của Tam thất có tác dụng đối kháng với kích thích tố thùy sau tuyến yên ( oxytoxin và vasopressin) và độ rung tim gây nên thiếu máu động mạch vành.
  4. Aûnh hưởng của thuốc đối với chuyển hóa: bột Tam thất có tác dụng làm hạ cholesterol, lượng triglycerid trong máu. Saponin Tam thất C1 có tác dụng điieù tiết hai chiều đối với glycogen tổng hợp và phân giải. Tổng Saponin của Tam thất có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp protein huyết thanh của gan, tăng hàm lượng cAMP và làm giảm hàm lượng cGMP của tế bào cơ tim chuột nhắt, do đó làm tăng rõ rệt tỷ lệ cAMP/cGMP nhưng Tam thất nếu được chế biến với nhiệt độ cao ngược lại làm tăng cao cholesterol huyết thanh, Triglycerid, betalipoprotein và làm giảm alpha lipoprotein.
  5. Aûnh hưởng đến chức năng miễn dịch: cũng như Nhân sâm, sâm Tam thất có tác dụng hồi phục lại bình thường phản ứng miễn dịch quá thấp hoặc quá cao không làm ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch bình thường của cơ thể.
  6. Độc tính của thuốc: Liều dùng chí tử chích tĩnh mạch thỏ nhà của cao nước Tam thất là 2,5-3g/kg, chích ổ bụng đối với chuột nhắt thì liều chí tử của mỗi loại chuột phân biệt là 0,5-0,75/kg và 0,075-0,1/kg. Tổng saponin Tam thất tiêm dưới da chuột nhắt, LD50 : 1246mg/kg, tiêm tĩnh mạch cho chuột nhắt LD50: 628mg/kg, 3-5% có tác dụng dung huyết nhẹ, tiêm tĩnh mạch cho 1ml 5% dịch Tam thất/phút thì liều chí tử là: 587 ± 108ml/kg. Dùng bột Tam thất 15g/kg cho bơm vào dạ dày chuột nhắt không có tử vong, sau 2 tuần, làm sinh thiết tim, gan, thận, lá lách, dạ dày và ruột đều không thay đổi.
  7. Một số kết quả nghiên cứu sâm Tam thất trên súc vật thí nghiệm của Đoàn thị Nhu và cộng sự tại Hà nội – Việt nam ( Thông báo Dược liệu 1977,4:14-20, Hà nội).

  • Rễ Tam thất làm tăng khả năng hoạt động của súc vật thể hiện kéo dài thời gian của lô chuột thử thuốc so với lô đối chứng.
  • Thuốc có tác dụng làm tăng sức đề kháng của súc vật đối với yếu tố độc hại như liều độc Uabain với tim, nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao hoặc quá thấp vượt ngoài giới hạn điều hòa của cơ thể.
  • Thuốc Tam thất khác với Nhân sâm không có tác dụng gây tăng huyết áp.
  • Đối với tác dụng nội tiết:

a. Rễ Tam thất thí nghiệm trên chuột cống cái non với liều 5g/kg, uống trong 6 ngày đã làm tăng trọng lượng tử cung một cách có ý nghĩa so với lô chứng, chứng tỏ thuốc có tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái.

b. Rễ Tam thất thí nghiệm trên chuột đực non với liều 5g/kg, uống trong 6 ngày, không làm thay đổi một cách có ý nghĩa trọng lượng tinh hoàn và tuyến tiền liệt so với chuột đối chứng, chứng tỏ Tam thất không có tác dụng hướng sinh dục đối với vật đực với liều này.

c. So sánh hoạt tính gây động dục của rễ Tam thất có độ tuổi khác nhau, các tác giả nhận xét là rễ Tam thất 5 năm có hoạt tính gây động dục hai lần mạnh hơn rễ Tam thất 3 năm.

d. Nghiên cứu tác dụng gây động dục của lá và rễ phụ so sánh với rễ củ Tam thất thì thấy lá Tam thất có hoạt tính yếu hưo khoảng 8 – 10 lần so với rễ củ Tam thất 5 năm.

  1. Tác dụng tiêu viêm: Nước sắc Tam thất có tác dụng chống viêm đối với chuột cống gây viêm khớp thực nghiệm ( ảnh hưởng của nước sắc Tam thất đối với viêm khớp thực nghiệm, Dược học học báo 12:446-451.1965).
  2. Nước ngâm kiệt Tam thất trên ống nghiệm có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da ( Tạp chí Bệnh ngoài da Trung hoa:286-292,1957).

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị các chứng xuất huyết:

  • Dùng dịch tiêm Tam thất trị xuất huyết đường tiêu hóa trên 110 ca, hiệu quả tốt hơn 50 ca đối chiếu dùng Tây y. Số bệnh nhân bao gồm loét hành tá tràng 113 ca, viêm dạ dày mạn 19 ca, loét dạ dày 6 ca, loét hổn hợp 4 ca, 18 ca chưa phát hiện bệnh lý. Tổ điều trị dùng dịch tiêm Tam thất do Xí nghiệp 1 Thượng hải sản xuất ( 2ml/ống hàm lượng 1g thuốc sống) liều 8 – 16ml gia vào dung dịch gluco đẳng trương 500ml truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, không dùng các loại thuốc cầm máu khác gia vào dịch gluco đẳng trương, lượng và truyền như nhau. Kết quả: Tổ dùng Tam thất máu trong phân chuyển âm tính bình quân sau 5,98 ngày, thời gian nằm viện trung bình 15,2 ngày. Tổ Tây y, máu trong phân chuyển âm tính bình quân sau 9,12 ngày và thời gian nằm viện trung bình 21,64 ngày ( P nhỏ hơn 0,02 có ý nghĩa thống kê) (Theo Phạm xương Háo và cộng sự, Báo cáo 110 ca huyết xuất đường tiêu hóa trên chữa bằng bằng dịch tiêm Tam thất, Tạp chí Trung y dược Thượng hải 1983,9:15).
  • Trị xuất huyết bao tử: dùng bột Tam thất mỗi lần 1,5g x 3 lần/ngày, uống với nước ấm, bệnh nhân nghỉ tại giường, trừ trường hợp nôn ra máu còn ăn bình thường, chế độ lỏng hoặc bán lỏng, sau khi máu trong phân âm tính còn uống thêm 2 ngày để củng cố. Kết quả 60 ca chảy máu khỏi hoàn toàn 58 ca, không khỏi 2 ca ( La Dụ Dân, Bột Điền thất trị xuất huyết bao tử, Tạp chí Trung y Vân nam 1985,1:28).
  • Trị loét dạ dày chảy máu cấp lượng nhiều: Hòa bột Tam thất 10g vào 30 – 50ml nước muối sinh lý, cứ mỗi 6 – 8 giờ bơm vào dạ dày 1 lần, kẹp ống trong một giờ rồi hút dịch dạ dày cho đến khi dịch không còn máu tươi, lưu ống dạ dày 2 – 3 ngày sau đó tiếp tục cho uống bột Tam thất mỗi lần 10g, 3 – 5 lần. Thời gian hết máu tươi trong dịch dạ dày từ 12 giờ ( ngắn nhất) đến 96 giờ ( dài nhất) bình quân 55,33 giờ, sắc phân trở lại bình thường 2 – 8 ngày, bình quân 3,83. Tác giả trị 6 ca, trừ 1 ca hết chảy máu và chết sau 5 ngày do viêm phổi và nhiễm trùng huyết, còn tất cả đều khỏi ( Dương quốc Phong, trị dạ dày chảy máu cấp do loét, Thực dụng ngoại khoa tạp chí 1982,4:90).
  • Trị ho ra máu: Bột Tam thất mỗi lần uống 6 – 9g, ngày 2 – 3 lần. Trị dãn phế quản, lao phổi và áp xe phổi kèm ho ra máu: 10 ca uống thuốc 5 ngày, cầm máu trong đó hoàn toàn cầm máu 8 ca, còn 2 ca cầm máu được 1 – 2 tuần lại ho ra máu ít ( Trịnh Hỉ Vân, sơ bộ quan sát bột Tam thất trị ho ra máu – Tạp chí Trung y 1965,11:29).
  • Trị tiểu ra máu: Trị 39 ca bệnh nhân tiểu ra máu, mỗi 4 – 8 giờ uống bột Tam thất 0,9 – 1,5g, đại bộ phận bệnh nhân sau khi dùng thuốc trên dưới 3 ngày hết tiểu ra máu ( Khoa Tiết niệu ngoại Bệnh viện số 1 Cáp nhĩ Tân, Quan sát lâm sàng dùng bột Tam thất trị tiểu ra máu, Báo Đại học Y Cáp nhĩ tân 1974,7(2):51).
  • Trị xuất huyết nhãn tiền phòng: do chấn thương nhãn tiền phòng xuất huyết 21 ca, trường hợp xuất huyết nhẹ, nhỏ mắt 2% dịch Tam thất, ngày 6 lần. Trường hợp xuất huyết nhiều ngoài việc nhỏ mắt dùng thêm phương pháp thẩm thấu Ion 10% dịch Tam thất ngày 1 lần, mỗi lần 20 phút. Kết quả trừ 1 ca xuất huyết lâu ngày teo cũng mạc không kết quả, 1 ca xuất huyết giác mạc nhuộm máu kết quả không rõ, còn lại vài ngày sau hết, thị lực hồi phục nhanh ( Trạm bảo vệ sức khỏe Xưởng điện cơ Thượng hải,1978,3:16).

2.Trị chấn thương sọ não: cho uống bột Tam thất 3g ( hôn mê cho xông qua mũi) ngày 2 – 3 lần, theo dõi trị 40 ca, có kết quả 75% đối với thể nhẹ và vừa, kết quả tốt, ý thức hồi phục nhanh, triệu chứng thần kinh và cảm giác chủ quan được cải thiện, nước não tủy trong nhanh, lưu lượng máu, lực cản mạch máu não và phù não đều được cải thiện. Thời gian dùng thuốc 3 – 10 ngày dài nhất 21 ngày, trường hợp nặng dùng thêm lợi niệu, trụ sinh, an thần.( Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện thực hành số 1 thuộc Y học viện Quảng tây – Quan sát kết quả điều trị 40 ca chấn thương sọ não điều trị bằng Tam thất, Báo Tân y học 1979,10(7):330).

3.Trị bệnh mạch vành:

  • Dùng Tam thất Quan tâm ninh ( chiết xuất từ Tam thất ) trong 28 Bệnh viện của tỉnh đã tổng kết 828 ca bệnh mạch vành, mỗi ngày uống 0,6 – 1,2g; 778 ca đau thắt ngực có kết quả 70,2% kết quả rõ rệt 20,1% ( trong tổng số liệu trình từ 4 đến 6 tháng, tỷ lệ kết quả 82,7%; 625 ca kiểm tra điện tâm đồ có kết quả 34,8%, kết quả rõ rệt 14,2% ( Phóng viên Báo Trung thảo dược ghi báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tại Côn minh về kiểm định bài thuốc Tam thất quan tâm ninh – Báo Trung thảo dược 1980,11(10):439).
  • Phức phương Tam thất quan tâm phiến gồm: Tam thất 0,8g, Diên hồ sách 4g, Hồng hoa, Chế thủ ô, Kê huyết đằng mỗi thứ 12g, Một dược 2g. Tất cả đều lượng 1 ngày chia 3 lần uống, 30 ngày là một liệu trình, dùng trị 1 – 2 liệu trình nhận thấy kết quả: 68 ca đau thắt tim ( 127 lần), tỷ lệ kết quả 88,2%, trước khi dùng thuốc có 52 lần đã dùng Nitroglycerin, sau khi điều trị bằng phức phương Tam thất có 73,1% không dùng hoặc giảm liều. Tỷ lệ có kết quả điện tâm đồ 26,7% ( Tổ phòng trị bệnh mạch vành, Tổng Y viện Giải phóng quân Nhân dân Trung quốc – Quan sát kết quả điều trị bệnh mạch vành bằng Quan tâm phiến 68 ca, Tạp chí Tân y dược học 1973,10:12).

4.Trị chứng tăng lipid huyết: Tác giả dùng bột Tam thất sống cho uống 0,6g x 3 lần/ngày. Trị 10 ca huyết áp cao, bệnh mạch vành, xơ mỡ mạch não kèm theo lipid máu và cholesterol cao đã phát hiện lipid máu và cholesterol đều giảm. Cho uống liên tục 1 tháng, lipid huyết bình quân từ 1179,2mg% xuống còn 718,4mg%, cholesterol từ 272,6mg% xuống còn 185mg% ( Trương Côn, Tác dụng của Sinh Tam thất đối với hạ lipid và cholesterol máu – Tạp chí Tân y dược học 1973,10:13).

5.Trị bệnh gan:

  • Tác giả cho bệnh nhân gan mật và những bệnh nhân không rõ nguyên nhân 45 ca có SGPT tăng cao uống bột Tam thất 1g/lần, ngày 3 lần liên tục trong một tháng có 44 ca có SGPT hạ bình thường, trong đó có 10 ca viêm gan ạn có protit huyết tương được cải thiện ( Trương Côn, Tác dụng hạ SGPT và cải thiện Protit huyết tương của bột Tam thất, Trung y tạp chí 1980,5:25).
  • Dùng dịch tiêm Tam thất trị viêm gan mạn 65 ca thể huyết ứ, chích với liều lượng khác nhau, chích bắp hoặc tĩnh mạch, mỗi ngày 1 ống ( 1 ống 2ml có 1g thuốc sống) có 25 ca, chích 2 ống 34 ca, chích 3 ống 6 ca, 1 lần/1 ngày, một liệu trình 3 – 4 tháng. Kết quả tốt 47 ca, có chuyển biến 5 ca, không kết quả 13 ca, tỷ lệ kết quả 80,0% ( Thiện Minh và cộng sự, Tiêm dịch Tam thất trị viêm gan mạn thể huyết ứ, Thượng hải Trung y dược tạp chí 1983,8:12).

6.Giới thiệu một số kinh nghiệm dùng Tam thất trị bệnh:

  • Trị té ngã chảy máu trong và ngoài da, có ứ huyết đau, cho uống bột Tam thất 4g với nước cơm hoặc cho uống với 30 – 40ml rượu trắng, ngoài xoa bột Tam thất 2g, phối hợp với Long cốt nung, Ngũ bội tử mỗi thứ 15 – 20g.
  • Trị thổ huyết ho ra máu dùng bài An huyết ẩm ( bột Tam thất 4g, Bạch cập 16g, nước củ sen 1 chén con 5 – 10ml), Bạch mao căn 30g, Mẫu lệ 20g, Đại hoàng chế 8g sắc uống.
  • Trị băng lậu, kinh nguyệt ra nhiều, có huyết cục, dùng Tam thất kết hợp với Ngũ vị tử, Nhục quế, Đơn bì, Xích thược.
  • Trị cơn đau thắt ngực: dùng bột Nhân sâm và Tam thất mỗi thứ 2g, hòa nước uống.

Liều và cách dùng:

  • Thuốc bột: 2 – 8g/ 1 lần, cấp có thể dùng 4 – 5 lần/ngày.