Category Archives: Tai Mũi Họng – tai

Đau tai khi đi máy bay

Những ngày mùa nghỉ sắp tới sẽ là mùa du lịch bận rộn nhất trong năm.

Mà bây giờ, khi nói tới du lịch là nói tới chuyện đi máy bay vì đây là phương tiện di chuyển đường xa tiện dụng và thông thường nhất. Tưởng tượng sau những thủ tục check in rất dài và phiền toái, bạn thở phào ngồi thoải mái trong lòng ghế.

Nhưng khi máy bay cất cánh bay lên cao, bạn bắt đầu cảm thấy khó chịu, ù và đau trong tai. Âm thanh chung quanh bỗng trở nên mờ mịt không rõ. Bạn đang bị chứng “tai máy bay” hay nói rõ hơn “đau tai khi đi máy bay”.

Triệu chứng
Chứng đau tai khi đi máy bay có thể xẩy ra ở một hay cả hai tai. Triệu chứng gồm có:
– Cảm giác khó chịu hay đau trong tai
– Tai cảm thấy nghẹt hay đầy
– Nghe kém đi
– Ù tai
– Chảy máu trong tai
– Chóng mặt

Nếu bị nặng hay kéo dài, bạn có thể bị thêm những triệu chứng sau:
– Đau tai dữ dội
– Thấy nghẹt trong tai giống như khi lặn xuống nước
– Thính lực bị giảm nhiều hay mất hẳn

Nguyên nhân
Phần tai giữa và tai ngoài của chúng ta ngăn cách bằng màng nhĩ (do đó, khi đi bơi ta không bị nước tràn vào tai trong). Nơi tai giữa có một ống gọi là eustachian tube. Ống này thông với mũi và miệng. Khi ta ngáp hay nuốt, ống này mở ra khiến không khí từ mũi và miệng vào tai giữa. Do đó, áp xuất không khí của tai giữa và tai ngoài bằng nhau và bạn không cảm thấy tai bị nghẹt hay gì cả.

Tuy nhiên, khi máy bay cất cánh hay đáp xuống, có sự khác biệt giữa áp suất không khí của tai
ngoài và tai giữa khiến màng nhĩ bị phồng lên hay kéo giật về sau khiến bạn bị đau tai và có những triệu chứng đã kể.

Cũng vậy, khi ống eustachian bị nghẹt, áp suất không khí của tai ngoài và tai giữa sẽ bị chênh lệch, bạn cảm thấy tai bị nghẹt. Màng nhĩ không rung động được nên âm thanh nghe không rõ và bệnh nhân cảm thấy đau tai vì màng nhĩ bị giãn ra.

Khi nào bị “tai máy bay”
1. Khi bị cảm, vì ống eustachian sẽ bị nghẹt do màng nhầy trong mũi và miệng sưng lên. Trẻ em dễ bị hơn người lớn vì ống eustachian của các em nhỏ hơn người lớn.

2. Khi bị viêm xoang hay bị dị ứng mũi, cùng nguyên tắc như trên.

3. Thợ lặn, người leo núi hay người trượt nước dễ bị tai nạn do thay đổi áp xuất này

4. Bị đánh mạnh vào tai hay rơi vào nước với tốc độ nhanh cũng sẽ bị “tai máy bay”.

Biến chứng
1. Màng nhĩ bị thủng

2. Nhiễm trùng tai

3. Mất thính lực
Tuy nhiên, bệnh này thường không nặng lắm và có thể tự chữa. Thính lực sẽ được phục hồi. Nếu bạn bị nặng và đau kéo dài, nên đi gặp bác sĩ.

Ngăn ngừa
1. Không đi máy bay khi đang bị cảm, nghẹt mũi hay nhiễm trùng tai

2. Dùng thuốc chống nghẹt mũi (mua tự do) xịt: khi bắt đầu cài dây nịt an toàn, xịt 4 cái vào một bên mũi trong khi bịt lỗ mũi bên kia. Trong lúc đó, nên nhai kẹo cao su và nuốt nước miếng, bạn sẽ không cảm thấy vị đắng của thuốc xịt và làm cho thuốc gần ống eustachian hơn

3. Tránh uống thuốc nghẹt mũi viên: các ông trên 50 tuổi khi uống thuốc nghẹt mũi có chứa chất pseudoephedrine có thể bị sưng tuyến tiền liệt bất thình lình, cần vào bệnh viện.

4. Uống thuốc chống dị ứng trước khi lên máy bay nếu bạn bị dị ứng.

5. Ngậm kẹo hay nhai kẹo cao su trong khi bay để nuốt nhiều. Ngáp cũng làm các bắp thịt co thắt khiến ống eustachian mở

6. Làm thông tai trong khi máy bay lên hay xuống: bằng cách thổi nhẹ trong khi bịt mũi và đóng miệng. Làm nhiều lần để quân bình áp suất của tai giữa và tai ngoài

7. Đừng ngủ trong khi máy bay đáp xuống: bạn cần nuốt nhiều lần trong lúc này để tai được thông.

8. Trẻ nhỏ: cho uống nước trong khi máy bay lên xuống để giúp các em nuốt nhiều. Cho uống Tylenol 30 phút trước khi máy bay cất cánh để giảm đau. Không dùng thuốc nghẹt mũi cho các em.

9. Cần hỏi bác sĩ trước khi bay nếu bạn mới bị mổ tai.

10. Dùng nút tai loại filtered để làm cân bằng áp suất từ từ. Có thể mua tại các nơi chữa bệnh tai hay ở phi trường.

11. Uống nhiều nước trước khi bay để tránh bị thiếu nước. Không nên uống cà phê hay rượu vì những thứ này làm co thắt các mạch máu khiến càng dễ bị vỡ các mạch máu nhỏ.

Tự chữa
Nếu bị nghẹt tai trong khi bay, bạn nên thử làm thông tai bằng cách hít vô rồi từ từ thở ra trong lúc bịt mũi và đóng miệng lại. Làm nhiều lần cho tới khi thấy dễ chịu.
Nếu tai vẫn bị nghẹt nhiều giờ sau khi xuống máy bay, nên đi gặp bác sĩ.

Bs Nguyễn Thị NhuậnTheo yduocngaynay

Advertisements

Chảy tai cấp, viêm tai giữa cấp

Mục tiêu

1 – Trình bày được một số đặc điểm dịch tễ học và các nguyên nhân của chảy tai cấp, Viêm tai giữa cấp(VTG).

2 – Kể ra được đúng và đủ các triệu chứng của VTG cấp, VTXC cấp.

3 – Kể ra được các biến chứng của VTG cấp, VTXC cấp.

4 – Trình bày được hướng điều trị của VTG cấp, VTXC cấp.

5 – Tư vấn được cho cộng đồng về phòng bệnh VTG và điều trị tốt, giữ vệ sinh trong các bệnh lý NKHHT.

Nội dung

1 – Nhắc lại các vấn đề cơ sở về tai:

Giải phẫu ứng dụng của Tai xương chũm

Liên quan với màng não, não

Các chức năng sinh lý của tai

Các hội chứng về tai


2 – Đặc điểm dịch tễ học của chảy tai cấp, Viêm tai giữa cấp

Là bệnh khá phổ biến ở Việt nam.

Bắt đầu ở tuổi mẫu giáo.

Thường do các bệnh lý NKHHT gây ra.


3 – Nguyên nhân gây viêm tai giữa cấp

Viêm nhiễm mũi họng, VA, mũi xoang Amiđan…

Viêm tắc, bán tắc vòi nhĩ do các nguyên nhân.

Do chấn thương trực tiếp, hoặc áp lực

Do sau nhiễm trùng lây, trẻ em suy dinh dưỡng, còi xương…

Các cấu trúc thông bào xương chũm.


4.1 – Triệu chứng lâm sàng của VTG cấp

Triệu chứng toàn thân VTG cấp

Triệu chứng cơ năng của VTG cấp

Triệu chứng thực thể của VTG cấp

4.2 – Triệu chứng lâm sàng của VTXC cấp

Triệu chứng toàn thân VTXC cấp

Triệu chứng cơ năng của VTXC cấp

Triệu chứng thực thể của VTXC cấp


5.1 – Chẩn đoán VTG cấp

5.2 – Chẩn đoán VTXC cấp


6 – Các biến chứng chảy tai cấp

+ VTG mạn.

+ VTXC mạn.

+ Liệt mặt ngoại biên.

+ Viêm xương đá.

+ Các biến chứng nội sọ.


7 – Nguyên tắc, chỉ định điều trị cho chảy tai cấp tính.


8 – Phòng bệnh và tư vấn

Viêm tai mạn tính

Mục tiêu

1 – Trình bày được 1 số đặc điểm dịch tễ học và nguyên nhân của chảy tai mạn tính, Viêm tai giữa mạn tính.

2 – Kể ra được đúng và đủ các triệu chứng lâm sàng của VTG mạn, VTXC mạn.

3 – Kể ra được đúng và đủ các biến chứng của VTG mạn, VTXC mạn.

4 – Trình bày được hướng điều trị của chảy tai mạn tính.

5 – Tư vấn được cho cộng đồng về phòng bệnh chảy tai và điều trị tốt, giữ vệ sinh trong các bệnh lý NKHHT

Nội dung

1 – Nhắc các vấn đề cơ sở về tai:

  • Giải phẫu ứng dụng của tai- xương chũm.
  • Liên quan với màng não, não.
  • Các chức năng sinh lý của tai.
  • Các hội chứng về tai.

2 – Đặc điểm dịch tễ học.

  • Là bệnh khá phổ biến ở Việt Nam.
  • Bắt đầu ở tuổi mẫu giáo.
  • Thường do các bệnh lý NKHHT gây ra.

3 – Nguyên nhân gây chảy tai mãn tính.

  • Viêm nhiễm mũi họng, VA, mũi xoang, Amiđan…
  • Viêm tắc, bán tắc vòi nhĩ do các nguyên nhân
  • Do chấn thương trực tiếp, hoặc áp lực
  • Do sau NT lây, TE suy đinh dưỡng, còi xương…
  • Các cấu trúc thông bào xương chũm

4 – Triệu chứng lâm sàng.

4.1. VTG không nguy hiểm.

  • Triệu chứng toàn thân.
  • Triệu chứng cơ năng.
  • Triệu chứng thực thể.

4.2. VTG nguy hiểm:

  • VTXC mủ mạn tính.
  • VTXC hồi viêm.

5 – Chẩn đoán chảy tai mạn tính.

  • Dựa vào lâm sàng, phim Schuller, thính lực đồ.

6 – Các biến chứng.

7 – Nguyên tắc, chỉ định điều trị cho chảy tai mạn tính

8 – Phòng bệnh và tư vấn.

Làm sao để biết trẻ không bị điếc ?

Trẻ bị khiếm thính nếu không được phát hiện và can thiệp sớm có thể sẽ bị những hậu quả nặng nề…

Tại hội thảo quốc tế về chủ đề “Sản phụ khoa và nhi sơ sinh” vừa diễn ra ở Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn – PSQTSG (TP.HCM), báo cáo của PGS.TS Lê Diễm Hương và nhóm bác sĩ của Bệnh viện PSQTSG về bước đầu triển khai “tầm soát khiếm thính trẻ sơ sinh tại Bệnh viện PSQTSG” đã được trình bày.

Theo đó, 3 năm đầu đời là khoảng thời gian rất quan trọng đối với hình thành, phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng xã hội của trẻ. Vì thế, việc phát hiện, chữa trị sớm khiếm thính sẽ giảm bớt những thiếu hụt do khiếm thính gây ra, giúp trẻ sớm hòa nhập với cộng đồng.

Trước đây người ta sử dụng phương pháp “sử dụng đáp ứng bằng cư xử của trẻ” để xác định khiếm thính. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng được cho ở trẻ 6, 7 tháng tuổi, hoặc lớn hơn. Sau đó, người ta sử dụng phản xạ cơ bàn đạp để chẩn đoán khiếm thính cho trẻ sơ sinh. Tiếp nữa, các nhà chuyên môn sử dụng tiếng ồn dải tần hẹp 2.500-3.500 Hz ở cường độ 90 dB để tầm soát khiếm thính ở trẻ sơ sinh.

Tuy nhiên, phương pháp này dễ bị bỏ sót đối với trẻ sơ sinh bị khiếm thính mức độ nhẹ và vừa. Theo sau đó nữa, người ta áp dụng phương pháp đo đáp ứng thân não để thay thế các phương pháp tầm soát cũ.

Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi người làm phải có kiến thức sâu, thời gian thực hiện lâu, máy móc đắt tiền, nên các nhà chuyên môn tiếp tục đưa phương pháp mới khác – phương pháp đo âm ốc tai. Và, hiện nay, nhiều nước trên thế giới sử dụng đo âm ốc tai để khám sàng lọc khiếm thính cho trẻ sơ sinh. Để khắc phục hạn chế của phương pháp đo âm ốc tai (có thể bỏ sót những trường hợp bị điếc sau ốc tai), người ta đã kết hợp phương pháp này với phản ứng âm thanh của trẻ.

Theo các bác sĩ, cần tầm soát trẻ sơ sinh 2-3 ngày tuổi, vì thời điểm này trẻ nhạy với phương pháp thử nhất. Em bé được đặt trong một căn phòng yên tĩnh, không bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn.

Bác sĩ sẽ đo âm ốc tai lúc bé ngủ, đo tai nào thì đặt đầu thử vào tai đó, nếu đèn hiện màu xanh là nghe tốt (nhưng có thể có điếc sau ốc tai), màu vàng thì nghi ngờ, màu đỏ là nghe kém. Sau đó, bé được test phản ứng với âm thanh: thử lần lượt với âm trống và chuông reo lúc bé nằm yên hoặc mới vừa ngủ. Nếu bé có một trong những biểu hiện giật mình, cựa quậy chân tay, chớp mắt, nhíu mày, xoay người về phía có tiếng động là cho thấy bé có phản ứng nghe.

Điếc và cách phát hiện

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bethoven nhà soạn nhạc nổi tiếng, cả thế giới ai cũng biết đến khi bị điếc đã thốt lên:”Sự bất hạnh này của tôi làm nỗi đau tăng lên gấp hai, không ai hiểu được tôi. Tôi không còn những cuộc vui, những cuộc nói chuyện thú vị, không còn những buổi trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp. Tôi muốn được hòa nhập với xã hội nhưng căn bệnh của tôi bắt tôi sống như một người bị ruồng bỏ”.

Bác sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy
Trưởng khoa thanh thính học
Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM

Ảnh hưởng điếc đối với người lớn đã vậy, nhưng đối với trẻ nhỏ còn nặng nề hơn nhiều, có thể ví như một thảm họa. Nó gây ra các hậu quả liên tiếp. Trẻ nghe kém thường chậm nói hoặc không nói được. Từ đó dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ và gây khó khăn cho việc học tập.

Theo số liệu thống kê của WHO năm 2000, trên thế giới có khoảng 250 triệu người điếc, chiếm 4,2 % dân số. WHO cũng ước tính số người điếc trên 14 tuổi của vùng Đông Nam Châu Á là 63 triệu người.

Riêng ở Việt Nam từ 12/2000 đến 12/2001 Trung tâm Tai Mũi Họng TP.HCM và Viện Tai Mũi Họng thực hiện điều tra “Bệnh tai và nghe kém” tại 6 tỉnh trên cả nước, 3 tỉnh phía Bắc và 3 tỉnh phía Nam, kết quả tỷ lệ điếc khoảng 6% tức là cứ 100 người có 6 người bị điếc. Đây là một tỷ lệ rất cao.

II. ĐIẾC VÀ ĐỘ ĐIẾC

1. Thế nào là điếc ?

– Người điếc là người không có khả năng nghe như người có sức nghe bình thường.

– Có nhiều mức độ điếc khác nhau :

· Nghe bình thường: có thể nghe được cả lời nói thầm

· Điếc nhẹ: chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách 1 mét

· Điếc trung bình: Chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1mét

· Điếc nặng: chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.

· Điếc sâu (rất nặng) : Không nghe được cả những từ hét sát tai = điếc

2. Điếc mức độ nào được coi là tàn tật ?

Người lớn: khi chỉ nghe được tiếng nói lớn hoặc các từ thét lên

Trẻ em: Khó khăn nghe khi giao tiếp bình thường

Vì sao mức độ điếc được coi là tàn tật của trẻ em so với người lớn lại nhẹ hơn ? vì trẻ em cần nghe tốt để học nói và phát triển ngôn ngữ

3. Để hiểu chúng ta nghe như thế nào, trước tiên xin nhắc lại

a. Giải phẫu tai:

– Tai ngoài: vành tai, ống tai ngoài, màng nhĩ

– Tai giữa: chuỗi 3 xương nhỏ (xương búa, xương đe, xương bàn đạp)

– Tai trong: ốc tai, hệ thống tiền đình, thần kinh thính giác

b. Vậy chúng ta nghe như thế nào?

1. Vành tai thu nhận âm thanh truyền qua ống tai ngoài đến màng nhĩ.

2. Âm thanh chạm vào màng nhĩ làm màng nhĩ rung động.

3. Sự rung động này chuyền qua chuỗi xương con đến ốc tai

4. Và làm cho dịch trong ốc tai chuyển động

5. Sự chuyển động của nước nội dịch làm cho các tế bào lông chuyển động từ đó tạo ra các tín hiệu điện rất nhỏ. Những tín hiệu điện này kích thích thần kinh thính giác. Các tế bào lông nằm ở đỉnh ốc tai tạo ra những thông tin âm trầm và các tế bào lông nằm ở đáy ốc tai tạo ra những thông tin âm cao

6. Các tín hiệu điện được truyền qua thần kinh thính giác đến não. Não có bộ phận phân tích những tín hiệu điện này thành các âm.

4. Có mấy loại điếc

4.1 Điếc dẫn truyền:

· Nguyên nhân: bệnh tích nằm ở tai ngoài và tai giữa, ngăn cản đường truyền của âm thanh đến tai trong như nút ráy tai, viêm tai giữa.v.v…

· Mức độ điếc: từ nhẹ đến vừa, có thể điếc tới 60-70 dB

· Một số trường hợp có thể chỉ bị điếc tạm thời.

· Điều trị:Nhiều trường hợp tùy theo nguyên nhân, có thể bằng thuốc hay phẫu thuật

· Máy nghe đối với dạng điếc này rất tốt

4.2 Điếc tiếp nhận ốc tai

· Nguyên nhân: bệnh tích nằm ở tai trong làm âm thanh truyền đến tai trong không biến đổi được thành các xung điện ví dụ như điếc già (lão thính) , Điếc nghề nghiệp (các tế bào của ốc tai bị hư hại do tiếng ồn), điếc do nhiễm khuẩn hoặc virus (quai bị, viêm màng não, giang mai…)

· Mức độ điếc: nhẹ, vừa, nặng, sâu, thậm chí điếc hoàn toàn

· Thường là điếc vĩnh viễn

· Điều trị: Tùy theo nguyên nhân, một số trường hợp có thể điều trị thuốc. Giải phẫu không tác dụng.

· Máy nghe: có thể giúp trong các trường hợp điếc nhẹ đến nặng

· Cấy điện ốc tai rất tốt trong các trường hợp điếc nặng và sâu

4.3 Điếc thần kinh sau ốc tai : rất hiếm

· Nguyên nhân: dây thần kinh thính giác không có hoặc bị hư hại vì thế tín hiệu không thể đưa lên não (u dây thần kinh thính giác. Tổn thương ở thân não (tắc mạch,u, nhiễm khuẩn, xơ cứng rải rác). Tổn thương ở vỏ não (viêm não, viêm màng não, chấn thương, xuất huyết, tắc mạch, u, thiếu máu…)

· Máy nghe: có tác dụng rất ít

· Cấy điện ốc tai: không ích lợi gì

· Cấy điện thân não: có thể giúp ở vài trường hợp

4.4 Điếc hỗn hợp: thường hay gặp

· Nguyên nhân: có thương tổn tai ngoài, hoặc tai giữa, hoặc cả tai ngoài và tai giữa với thương tổn tai trong

· Đặc điểm: có cả đặc điểm của điếc dẫn truyền lẫn đặc điểm của điếc thần kinh ốc tai.

III. NGUYÊN NHÂN ĐIẾC VÀ PHÒNG NGỪA

1. Các nguyên nhân trước và trong sanh

1.1.Di truyền: điếc truyền lại trong dòng họ và gia đình

1.2.Trong thời gian mang thai :

· Mẹ bị bệnh: sởi hoặc các bệnh virút khác

· Mẹ dùng thuốc có hại cho tai: quinin, streptomycin v.v

· Bệnh truyền qua đường sinh dục: giang mai

1.3.Trong sanh và ngay sau sanh

· Sanh: non, thiếu tháng

· Sanh khó: hút, mổ

· Sau sanh: ngạt, vàng da

Các biện pháp phòng ngừa điếc trước và trong sanh:

· Có chương trình thực hiện tiêm phòng một số bệnh trong cộng đồng trong đó có ngừa sởi

· Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai,

· Cần phải thận trọng khi ghi đơn thuốc cho phụ nữ mang thai vì có một số loại thuốc gây ngộ độc tai.

· Chăm sóc tốt từ khi mới mang thai đến khi sanh sẽ là điều kiện tốt nhất để sanh ra một em bé khỏe mạnh.

· Trẻ sanh ra bị vàng da cần được điều trị

2. Các nguyên nhân sau sanh

Bệnh trẻ em

Sởi, quai bị, viêm màng não

Nhiễm trùng tai

Viêm tai ngoài, viêm tai giữa, nhiễm trùng tai trong

Thuốc có thể gây ngộ độc tai

Thuốc kháng sinh: streptomycin, gentamycin

Thuốc chống sốt rét: Kinin, chloroquin

Tiếng ồn

Làm việc trong môi trường ồn liên tục, trong tiếng nhạc lớn, hoặc tiếp xúc các tiếng nổ lớn

Tai nạn

Chấn thương đầu, chấn thương tai

Tuổi già

Khi tuổi càng lớn, hệ thống thính giác cũng bị lão hóa và gây điếc

Nút ráy tai

Cản trở đường truyền âm thanh có thể gây điếc ở bất cứ tuổi nào

Tai có dịch

Viêm tai giữa thanh dịch là nguyên nhân thường gặp gây nghe kém ở trẻ em

Các biện pháp phòng ngừa điếc sau sanh:

· Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia

· Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai,

· Cần phải thận trọng khi ghi đơn thuốc cho trẻ em vì có một số loại thuốc gây ngộ độc tai.

· Điều trị sớm các nhiễm trùng tai

· Gíáo dục cho cộng đồng về tác hại của tiếng ồn

· Trẻ sanh ra bị vàng da cần được điều trị

· Khuyến khích người dân mang nón bảo hộ khi đi xe máy


IV. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC:

A. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHE ĐỐI VỚI TRẺ EM

1. Nghe tốt rất quan trọng trong việc học nói

2. Nghe tốt và nói tốt rất quan trọng trong giao tiếp

3. Giao tiếp tốt rất quan trọng đối với việc học ở nhà và ở trường

4. Học tốt giúp cho trẻ phát triển năng lực một cách toàn diện

Trẻ có sức nghe bình thường, lúc đầu phát ra những âm ngẫu nhiên, rồi uốn nắn dần theo khuôn mẫu các âm phát ra từ người xung quanh. Sau nhiều lần nghe, tập nói theo trẻ bắt đầu lập lại được những từ dễ nhất. Cứ như thế ngôn ngữ được hình thành theo chu kỳ nghe – phát âm.

Trẻ điếc nặng không nghe được các âm tự mình phát ra và các âm xung quanh mình vì vậy không học nói được. Không những tiếng nói không hình thành, ngôn ngữ không phát triển mà trẻ còn bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lý. Trẻ điếc bị ngăn cách với bên ngoài vì không nghe được, nói được. Do thiếu giao tiếp trẻ bị cô lập với thế giới bên ngoài và dẫn tới rối loạn về tâm lý, thiếu quan hệ xã hội, kiến thức về thế giới bên ngoài nghèo nàn. Trẻ điếc thường bồn chồn, lo lắng, khổ sở trước các tình huống bất ngờ không được chuẩn bị, không hiểu nỗi ý nghĩ của người khác và cũng không bộc lộ được ý muốn của bản thân. Từ đó mỗi trẻ phản ứng một cách khác nhau: cáu kỉnh, hay gây gỗ, hoặc lãnh đạm thờ ơ, tính khí thất thường. Cách xử sự của gia đình như quá thương cảm rồi nuông chiều hay ghét bỏ lạnh nhạt đều làm cho tình trạng ngày càng xấu hơn

Vì những tầm quan trọng trên trẻ em từ khi mới sanh đến khi thành trẻ lớn phải thường xuyên được kiểm tra thính lực (sức nghe).

Nhà bảo sanh,trạm xá, khoa sản và khoa nhi của các bệnh viện huyện tỉnh là những địa diểm tốt để thực hiện việc đánh giá sức nghe cho trẻ.

Cần phải đưa các phương pháp đánh giá sức nghe đơn giản vào nội dung đào tạo nhân viên y tế và giáo viên

B. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE

Tổ chức y tế thế giới đề nghị sử dụng 2 phương pháp để đánh giá sức nghe

– Sử dụng máy đo thính lực (audiometer)

– Sử dụng giọng nói (voice test)

Độ điếc

Máy đo TL

Giọng nói

Xử trí

bình thường

£ 25 dB

Nghe được tiếng nói thầm

Nhẹ

26-40 dB

Nghe và nhắc lại giọng bình thường cách 1 mét

Có lúc cần máy nghe

Trung bình

41-60 dB

Nghe và nhắc lại giọng lớn cách 1mét

Cần máy nghe thường xuyên

Nặng

61-80 dB

Nghe 1 số từ hét lớn vào tai

Cần máy nghe thường xuyên. Nếu không có thì phải dạy đọc hình môi và ra dấu

Sâu

³ 81 dB

Không có khả năng nghe và hiểu cả tiếng hét vào tai

Máy nghe có thể giúp phần nào. Phải có huấn luyện phục hồi thêm. Đọc hình môi và ra dấu là chủ yếu


1. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC BẰNG MÁY ĐO THÍNH LỰC

Máy để kiểm tra độ điếc gọi là máy đo thính lực (audiometer). Có nhiều loại máy đo thính lực khác nhau. Có loại đơn giản chỉ để khám tầm soát điếc. Có loại máy phức tạp để xác định không những mức độ điếc mà còn xác định các dạng điếc Hiện nay ở nước ta, chỉ có một số bệnh viện lớn có loại máy này.

2. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC BẰNG GIỌNG NÓI

Tại gia đình và ở hầu hết các cơ sở y tế tuyến dưới không có dụng cụ để kiểm tra thính lực vì thế có thể dùng giọng nói để phát hiện điếc. Các bước tiến hành:

Đứng cách bệnh nhân 1 cánh tay ra phía sau,

chếch về 1 bên

¯

Yêu cầu bệnh nhân đè lên nắp tai bên kia

¯

Lần lượt nói thầm nhiều từ

¯

Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,

tai đang thử Þ nghe bình thường

¯

Đổi tai thử

¯

Nếu bệnh nhân không nhắc lại được, tiếp tục thử bằng cách phát ra nhiều từ ở giọng bình thường

¯

Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,

tai đang thử Þ điếc nhẹ

¯

Đổi tai thử

¯

Nếu bệnh nhân không nhắc lại được, tiếp tục thử bằng cách phát ra nhiều từ ở giọng nói lớn

¯

Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,

tai đang thử Þ điếc trung bình

¯

Đổi tai thử

¯

Nếu bệnh nhân không nhắc lại được tiếp tục thử bằng cách hét ra nhiều từ ở sát tai

¯

Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,

tai đang thửÞ điếc nặng

¯

Đổi tai thử

Bệnh nhân thậm chí tiếng hét lớn cũng không nghe thì bị điếc sâu hay còn gọi là điếc

3. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ EM NHỎ

Đối với trẻ em nhất là trẻ nhỏ, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc là người có thể biết tốt nhất trẻ có nghe được hay không. Trẻ phát triển bình thường, ở mỗi độ tuổi khác nhau có thể có những biểu hiện khác nhau với âm thanh. Vì vậy, chúng ta cần phải nắm được quá trình này.

Tuổi (tháng)

Đáp ứng với âm thanh

Một vài dấu hiệu như mở mắt, chớp mắt

6

Quay đầu hoặc mắt nhìn theo hướng phát âm thanh

9

Lắng nghe và tự phát ra các loại âm từ lớn đến nhỏ

12

Biết tên mình và một số từ, bắt đầu bập bẹ nói

18

Biết chỉ một số đồ vật quen thuộc khi được yêu cầu, biết nói một số từ đơn giản

24

Có thể nghe những từ rất nhỏ và hướng của nó, có khả năng nói những câu đơn giản

BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE CỦA TRẺ

Từ đáp ứng của trẻ nghe bình thường đối với âm thanh chúng ta có bảng câu hỏi để đánh giá sức nghe của trẻ như sau:

Tuổi (tháng)

Câu hỏi

không

Con của bạn có mở mắt, nhắm mắt khi nghe tiếng động? Bé có vẻ như lắng nghe khi bạn nói hoặc hát không?

6

Con của bạn có nhìn theo hoặc quay đầu theo hướng phát âm thanh không? Bé có vui khi bạn nói chuyện với nó không?

9

Con của bạn có nghe được âm rất nhỏ không? Có thích bập bẹ hay tạo ra các âm khác không?

12

Khi bạn gọi tên, con của bạn có biết không? khi bạn nói tên một số đồ chơi bé có biết không? Có bắt đầu bập bẹ vài từ không?

18

Khi bạn yêu cầu con của bạn cầm lên hay chỉ một đồ vật gì bé có làm theo không? Có biết sử dụng một số từ đơn giản không?

24

Con bạn có nghe được ngay cả khi bạn nói nhỏ không? Có biết nói những câu đơn giản với bạn không?

Nếu có câu hỏi nào trả lời không, có thể đứa trẻ này bị nghe kém. Cần giải thích với bố mẹ và giới thiệu trẻ đến nơi có máy móc đặc hiệu để chuẩn đoán xác định.

4. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ SƠ SINH

Phương tiện: – Phòng yên tĩnh

– Dụng cụ: Gịong nói

– 01 người, tốt nhất là nữ, nếu là mẹ thì tốt nhất

Các bước tiến hành:

– Bé vừa mới ngủ không quá 5 phút

– Người thử: nói lần lượt năm chữ cái: A, I, M, X, S cách tai thử của bé 50 cm

– Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của bé với tiếng động: chớp mắt, mở mắt, vặn mình, cử động chân tay.

– Bé có phản ứng với âm thử có nghĩa bé nghe bình thường.

5. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ 1-3 TUỔI

Phương tiện: – Phòng yên tĩnh

– Dụng cụ: lục lạc, ly, thìa, trống, chuông

Các bước tiến hành:

– Điều quan trọng là người thử phải đứng cách 1mét phía sau lưng bé không được để bé biết và tạo ra tiếng động từ các dụng cụ thử.

– Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của bé với tiếng động: chớp mắt, lắng nghe, quay đầu về nơi phát ra tiếng động.

– Bé có phản ứng với những tiếng động nhỏ của lục lạc hay tiếng cà ly có nghĩa bé nghe bình thường.

6. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ 3-7 TUỔI

Phương tiện: – Phòng yên tĩnh

– Dụng cụ: một số tranh hình dơn giản

Các bước tiến hành:

– Người thử ngồi đối diện với bé, nói ra tên các hình để bé nghe và chỉ vào thực hiện cho đến lúc bé hiểu cách thử.

– Sau đó người thử đứng phía sau nói thì thầm tên các hình, mỗi hình nói từ 2-3 lần cho đến lúc chắc chắn bé nghe được .

– Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát bé có chỉ đúng hình được nói ra hay không.

– Nếu không có tranh, có thể yêu cầu bé chỉ đồ vật quen thuôc trong phòng thử như bàn, ghế, bút, cửa v.v…hay chỉ các bộ phận cơ thể như tóc, tai, tay, mũi, miệng v.v…

– Nếu nói thầm bé chỉ không đúng thì dùng giọng nói thường, nếu không đúng nữa thì dùng giọng nói lớn, rồi đến hét lớn gần tai. Từ đó, ta có thể đánh giá sơ bộ bé điếc nhẹ, trung bình, hay nặng …

V. PHÁT HIỆH SỚM VÀ CAN THIỆP SỚM

Khi bị điếc, cần phải được can thiệp sớm. Muốn can thiệp sớm thì phải phát hiện được sớm. Can thiệp càng sớm bao nhiêu thì tác hại của điếc giảm đi bấy nhiêu. Tùy theo từng loại điếc và nguyên nhân gây ra mà chúng ta can thiệp.


1. Điều trị bằng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu thuật

Tai ngoài: Có nhiều bệnh nhân sau khi đi tắm biển về hoặc sau khi tắm gội bị điếc luôn một hoặc hai tai, đó là do ráy tai bị nở ra bít kín đường truyền âm thanh đến màng nhĩ. Đối với những trường hợp này chỉ cần lấy ráy tai ra bệnh nhân sẽ nghe lại bình thường.

Tai giữa: tắc vòi nhĩ hoặc viêm tai giữa thanh dịch nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm tai giữa thủng nhĩ. Lúc này muốn tăng sức nghe lên không chỉ điều trị bằng thuốc mà còn phải thực hiện phẫu thuật vá nhĩ.

– Tai trong
: Điếc đột ngột, bệnh nhân thường bị điếc sau một đêm ngủ dậy. Đây là bệnh không gây tử vong ngay như các bệnh cấp cứu khác nhưng cũng là một trong các bệnh cấp cứu tai mũi họng, vì kết quả điều trị rất khác nhau nếu ngay 1 ngày sau điếc hay một tuần sau mới điều trị.

Sau điều trị thuốc và phẫu thuật mà sức nghe đã cải thiện vẫn không đáp ứng được giao tiếp bình thường thì phải có thêm trợ thính bằng máy nghe hay cấy điện ốc tai


2. Cho bệnh nhân mang máy nghe.

Tất cả các trường hợp điếc nhẹ và điếc trung bình, thậm chí điếc nặng và điếc sâu mà không có đủ khả năng kinh tế để cấy điện ốc tai đều nên mang máy nghe càng sớm càng tốt. Những người điếc nhẹ và điếc vừa nếu không can thiệp sớm sẽ ảnh hương đến sinh hoạt và công tác hàng ngày vì không giao tiếp tốt. Nếu để lâu không can thiệp, tiếng nói có thể bị méo. Không nghe được tốt và hiểu người khác cũng không tốt, dần dần họ trở nên cô lập, tâm sinh lý thay đổi và sức khỏe cũng ảnh hưởng.

3. Cấy điện ốc tai:

Bệnh nhân điếc nặng và sâu, máy nghe cũng không giúp được cho họ nữa thì có chỉ định cấy điện ốc tai. Đối với trẻ điếc bẩm sinh và điếc trước ngôn ngữ, thời gian bắt đầu mang máy nghe hoặc cấy điện ốc tai rất quan trọng, muốn đạt kết quả tốt nhất phải thực hiện trước 5 tuổi, tuổi thích hợp nhất là từ 2 đến 3 tuổi vì đây là giai đoạn học nói của trẻ.

Đối với người điếc nặng và sâu, sau khi có ngôn ngữ nếu không được can thiệp sớm dây thần kinh thính giác 15-10 năm không hoạt động khi có âm thanh trở lại nó cũng không truyền tải thông tin tốt đến vỏ não vì vậy dù có được cấy điện ốc tai kết quả cũng kém xa những người được cấy ốc tai sau 1,2 năm điếc. Tại bệnh viện Tai mũi họng, trong 3 năm qua có thực hiện 9 trường hợp cấy điện ốc tai, kết quả khả quan. Trẻ nghe được tốt và đang trong thời gian tập nói.

Điều trị ù tai bằng thuốc Nam

Nếu bị ù tai do ảnh hưởng của tiếng ồn, dùng rau má 10 g, lá dâu 10 g, tơ hồng xanh 12 g, thổ phục linh 16g sắc uống. Nếu huyết áp cao, thêm lá tre 10 g; huyết áp thấp thêm ngải cứu 6 g; mất ngủ thì thêm lá vông 8 g.

Ù tai do làm việc mệt mỏi, căng thẳng: Đỗ đen (sao tồn tính), xích đồng mỗi thứ 16 g; hà thủ ô, tơ hồng xanh, dây chiều, hoài sơn mỗi thứ 12g. Nếu ngủ ít, nhịp tim chậm, thêm lạc tiên 12 g, ngải cứu 6 g.
Ngủ ít, nhịp tim nhanh thêm cúc áo 12 g, cỏ mần trầu 10 g.

Ù tai do hỏa bốc: Đỗ đen 12 g, cúc hoa 6 g, vừng đen 10 g, lá tre 6 g, rau má 8 g, nhân trần 10 g. Nếu huyết áp cao, thêm cần tây tươi 50 g; huyết áp thấp thêm rau ngót tươi 100 g, ngải cứu 6 g.

Các thể bệnh trên đều cần kiêng các chất cay, thơm như rượu, ớt, hạt tiêu, các loại rau thơm. Đối với người huyết áp thấp, nhịp tim chậm, không nên dùng cam, chanh, nước dừa, nước đá, rau cải, củ cải.

Cách sắc thuốc: 1 thang sắc uống trong 1 ngày. Ngày sắc 2 lần, mỗi lần cho 3 bát nước, đun lấy nửa bát, uống thuốc lúc còn ấm, ngày uống 2 lần sáng, chiều.

BS Lê Minh Ngọc, Sức Khỏe & Đời Sống


Viêm tai giữa tiết dịch – bệnh hay gặp ở trẻ

Bệnh thường xuất hiện sau viêm nhiễm đường hô hấp trên, hay bị bỏ qua vì không có biểu hiện rõ, nhất là ở trẻ chưa biết nói. Viêm tai giữa tiết dịch nếu kéo dài sẽ gây giảm thính lực, giảm khả năng hình thành ngôn ngữ, giao tiếp và học tập.

Về mặt thời gian, có thể xếp thành 3 thể: thể cấp tính xảy ra trong thời gian 3 tuần trở lại; thể mạn tính khi bệnh kéo dài trên 3 tháng. Bệnh kéo dài trong khoảng thời gian từ 3 tuần đến 3 tháng được xếp vào thể bán cấp.

Cuộc khảo sát trên 3.300 trẻ từ 6 tháng đến 15 tuổi ở hai quận nội và ngoại thành TP HCM cho thấy tần suất viêm tai giữa tiết dịch là 7%, trong đó đỉnh cao nhất là 2 tuổi, chiếm 22%. Bệnh thường xảy ra trong những tháng mùa đông và liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp trên. Một số tác giả cho rằng bệnh thường xảy ra sau một đợt viêm tai giữa cấp.

Một nghiên cứu khác ở trẻ em 2-5 tuổi cho thấy, 53% trẻ trong năm đầu tiên và 61% trẻ trong năm thứ hai bị viêm tai giữa tiết dịch ở ít nhất một tai. Trong hai năm đầu tiên, bệnh thường xảy ra ở cả hai tai, có khuynh hướng xảy ra ở một tai ở trẻ lớn. Đa số các trường hợp tự khỏi trong vòng vài tháng không cần điều trị.

Nhiều bệnh nhi không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng. Cha mẹ hoặc thầy cô giáo có thể nghi ngờ trẻ bị giảm thính lực khi thấy trẻ mất tập trung hay chậm nói. Có thể phát hiện nghe kém bằng khám sàng lọc định kỳ cho trẻ tại trường học, nhưng cũng có trường hợp không phát hiện ra, nhất là khi trẻ chỉ nghe kém một tai. Một số trẻ có những đợt đau tai thường vào ban đêm, loạng choạng, ù tai, sốt và bứt rứt.

Ngoài việc giảm thính lực và khả năng ngôn ngữ, giao tiếp, viêm tai giữa tiết dịch không điều trị còn gây một số di chứng như: để lại một lỗ thủng vĩnh viễn trên màng nhĩ, viêm tai giữa nung mủ mãn, xơ nhĩ, viêm tai giữa dính, hoại tử chuỗi xương con, các túi lõm trên màng nhĩ… Vì vậy, cha mẹ cần sớm phát hiện những bất thường ở tai trẻ để điều trị sớm.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


Viêm tai do chấn thương khí áp

Bệnh này thường gặp ở những người đi lại nhiều bằng đường hàng không. Nếu không được can thiệp, bệnh nhân sẽ ù tai, nghe kém do tiết dịch trong thùng nhĩ, tràn dịch thùng nhĩ.

Nếu bị chấn thương khí áp, người bệnh ngay khi xuống máy bay đã cảm nhận ngay điều bất thường ở bên tai tổn thương; thậm chí cảm giác này có thể xuất hiện ngay khi máy bay đang hạ độ cao để tiếp đất (khoảng 2.000-3.000 m, đặc biệt khi hạ độ cao quá nhanh). Người bệnh bỗng cảm thấy có sự thay đổi áp lực ở bên tai bị tổn thương (cũng có thể bị cả 2 bên); đôi khi cảm thấy như có tiếng “ục” nhẹ do áp lực mạnh của không khí tác động lên bề mặt ngoài của màng nhĩ. Tiếp đó, sức nghe bị giảm và cảm giác ù tai xuất hiện. Một số người xuất hiện cảm giác đau; đa số có cảm giác “bì bì trong tai” như có nút bông.

Những ngày tiếp theo, nếu không được can thiệp, cảm giác ù tai, nghe kém tăng dần do hiện tượng xuất tiết thanh dịch trong thùng nhĩ, gây ra tràn dịch thùng nhĩ. Nếu quá thời gian 10 ngày, thanh dịch không tự chảy ra được thì thầy thuốc bắt buộc phải chích rạch màng nhĩ để dẫn lưu. Nếu tràn dịch tái phát thì phải đặt 1 ống thông qua lỗ rạch để bảo đảm thông khí cho thùng nhĩ trong một thời gian.

Do việc điều trị khá phức tạp nên những người có nhiều nguy cơ bị viêm tai do chấn thương khí áp (viêm đường hô hấp mạn tính, viêm mũi-xoang mạn tính) nên phòng bệnh. Mỗi khi có đợt cảm cúm, viêm tắc mũi hay viêm xoang cấp, nên tránh đi máy bay.

Bệnh sinh ra là do vòi nhĩ bị tắc, làm áp lực không khí trong thùng nhĩ giảm, mất cân bằng áp lực giữa mặt bên trong và bên ngoài màng nhĩ. Để duy trì được sự cân bằng đó, cần tiến hành thủ thuật “thổi hơi vào thùng nhĩ” khi máy bay hạ độ cao để tiếp đất. Cách làm như sau: hít vào sâu rồi dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải bóp chặt 2 cánh mũi (trong khi miệng ngậm chặt), phì mạnh hơi lên tai. Nếu làm đúng và vòi nhĩ thông, bạn sẽ cảm nhận 1 tiếng “ục” trong tai do áp lực luồng hơi thở không ra được qua đường mũi, miệng, sẽ đi vòng ra sau họng, lên vòi nhĩ, qua thùng nhĩ mà tác động lên mặt sau màng nhĩ, làm chấn động màng nhĩ.

Trong thời gian máy bay hạ cánh, phải tiến hành “thổi hơi vào thùng nhĩ” như thế mỗi khi cảm thấy có sự biến đổi áp lực trong tai; không phải chỉ tiến hành 1 lần mà phải làm nhiều lần cho đến khi vòi nhĩ được thông, nghĩa là hết mọi cảm giác bất thường về áp lực ở tai.

Để giúp cho vòi nhĩ mở ra dễ dàng hơn, có thể nhỏ mũi hoặc tốt hơn là xịt mũi bằng thuốc co mạch như xylomethazolin 1 giờ trước khi máy bay hạ cánh và sau đó cứ 20 phút xịt 1 lần. Cần nhớ lần xịt đầu nên xịt thuốc 2 đợt, cách nhau vài phút để sau khi phần trước của mũi được thông thoáng thì thuốc lần sau có thể vào sâu được tới sau vòm, đến tiếp cận với lỗ của vòi nhĩ.

Nhai kẹo cao su trong thời gian máy bay hạ cánh cũng có tác dụng tốt do động tác nuốt kéo theo sự mở lỗ của vòi nhĩ, tạo sự thông thoáng giữa họng mũi với thùng nhĩ.

GS. Phạm Kim, Sức Khỏe & Đời Sống


Vitamin E có thể phục hồi thính lực

Loại vitamin khá phổ biến này có thể khôi phục khả năng nghe ở những người bị điếc đột ngột hoặc không rõ nguyên nhân.

Rất nhiều người trên thế giới bị mất khả năng nghe đột ngột. Hiện tượng này được gọi là rối loạn hệ thống thần kinh cảm nhận. Trong đa số trường hợp người ta biết được nguyên nhân. Thủ phạm có thể là virus, vi khuẩn hoặc chấn thương. Tuy nhiên, khoảng 10-15% trường hợp không tìm ra nguyên nhân mắc bệnh. Các bác sĩ gọi hiện tượng này là mất khả năng nghe tự phát. 2/3 bệnh nhân bị bệnh này sẽ phục hồi trong vòng 2 ngày không cần điều trị, nhưng số còn lại thì không.

Một nghiên cứu tìm hiểu tác dụng của vitamin E trong việc chữa bệnh này đã được tiến hành tại Học viện Kỹ thuật Technion (Israel). Đối tượng là 66 bệnh nhân mất thính lực đột ngột. Tất cả đều đã đến bệnh viện trong khoảng thời gian 8 ngày trước đó do mất thính lực tự phát không rõ nguyên nhân. Họ được điều trị theo liệu pháp tiêu chuẩn bao gồm nghỉ ngơi trên giường, sử dụng thuốc có chứa steroid và dùng mặt nạ chứa hỗn hợp oxi và cacbon.

Các chuyên gia cho một nửa số bệnh nhân dùng 400 mg vitamin E mỗi ngày kết hợp với điều trị. Sau khi theo dõi họ nhận thấy, mặc dù cả 2 nhóm bệnh nhân – dùng và không dùng vitamin E – đều phục hồi nhưng nhóm dùng vitamin kết hợp với điều trị phục hồi nhanh hơn. Thính lực của nhóm này phục hồi ít nhất là 75% vào thời điểm họ được xuất viện, và sau đó tỷ lệ này còn tăng lên.

Tiến sĩ Arie Gordin, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết nhóm của bà sẽ tiến hành thêm các nghiên cứu trên nhiều đối tượng bệnh nhân hơn để khẳng định tính đúng đắn của kết quả vừa tìm được. Nhưng những gì đã đạt được đã khiến cho bà và giới khoa học rất phấn khởi.

Việt Linh (theo BBC)

Thuốc có tác dụng phụ làm giảm thính lực và gây điếc

Ngoài những tác dụng hữu ích, có lợi cho việc điều trị, hầu hết CÁC THUỐC đều có ít nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, gây tác hại cho cơ thể người bệnh; Trong số đó có những thuốc gây hại cho tai, làm giảm khả năng nghe, giảm thính lực, thậm chí có thể gây điếc vĩnh viễn.

Tác giả : DS. PHAN QUỐC ĐỐNG


Vấn đề tác dụng phụ của thuốc làm giảm thính lực, gây điếc như thuốc Quinin, Salicylat và tinh dầu giun… đã được đề cập từ thế kỷ thứ 19, với các triệu chứng ù tai, chóng mặt, nghe kém. Các triệu chứng này có thể xuất hiện tạm thời rồi hết, nhưng cũng có thể diễn tiến ngày càng nặng và không thể hồi phục.

Mức độ suy giảm thính lực cũng tùy thuộc vào từng người, thường nặng ở người cao tuổi, người suy giảm chức năng thận, chức năng gan.

Có nhiều thuốc gây suy giảm thính lực, gây điếc, nhưng hai loại gây tác hại nhiều nhất là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid và thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé.

1. Nhóm kháng sinh aminoglycosid

Gồm các kháng sinh: Néomycin, Streptomycin,Amikacin,Paramycin, Kanamycin, Gentamycin

a. Néomycin: Là kháng sinh gây hại nhất cho tai, ngay cả khi dùng bằng đường uống với liều cao để diệt khuẩn đường ruột hoặc dùng liều cao để bôi vết thương cũng có thể gây điếc. Hiện nay, thuốc không được dùng dưới dạng tiêm.

Kanamycin và Amikacin cũng gây độc hại mạnh như Néomycin.

b. Streptomycin: Gây tổn hại nhanh chóng cho bộ phận tiền đình, dẫn đến chóng mặt, mất cân bằng, loạng choạng, khó bước đi trong chỗ tối. Nếu sử dụng 1g/ngày cho bệnh nhân trong 1 tuần lễ thì sau 7-10 ngày sẽ làm suy giảm sức nghe. Nếu tiếp tục điều trị sẽ dẫn tới điếc nặng, điếc vĩnh viễn không phục hồi được. Đã có trường hợp dùng Streptomycin điều trị viêm phổi cho trẻ rồi dẫn tới hậu quả trẻ bị câm điếc.

Gentamycin cũng gây độc cho tai như Streptomycin nhưng nhẹ hơn.

2. Các kháng sinh khác

a. Erythromycin: Dùng liều cao 4g/ngày, tiêm tĩnh mạch để điều trị viêm phổi cho bệnh nhân cao tuổi, suy gan, thận có thể gây điếc và chóng mặt. Tuy vậy triệu chứng này sẽ giảm và hết nếu ngưng thuốc kịp thời.

b. Ampicillin: Dùng điều trị viêm màng não do Hemophillus influenzae có thể làm suy giảm thính lực.

c. Chloramphenicol: Giống như Ampicillin, dùng điều trị viêm màng não cũng làm giảm sút sức nghe.

d. Những kháng sinh như Viomycin, Vancomycin, Capreomycin cũng gây độc hại cho tai, làm suy giảm thính lực, gây điếc.

3. Thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé

Nhóm thuốc lợi tiểu này gồm Acid Ethacrynic, Furosemid, Bumetanid; có tác dụng ức chế tái hấp thu các chất điện giải ở nhánh lên của quai Henlé, tác dụng lợi tiểu mạnh, làm giảm nhanh Natri.

Thuốc gây độc mạnh cho tai nhất là ở người cao tuổi, người suy gan, suy thận. Độc tính tăng thêm khi dùng đồng thời với kháng sinh nhóm aminoglycosid. Độc tính giảm dần theo thứ tự Bumetanid, acid Ethacrynic, Furosemid.

4. Thuốc chống viêm

Salicylat thường gây ù tai và giảm thính lực, nhưng có khả năng hồi phục.

Aspirin liều cao cũng gây ù tai và giảm thính lực ở tần số cao, thường phục hồi sau khi ngừng thuốc.

Các thuốc chống viêm không steroid như Ibuprofen, Indomethacin, Piroxicam... cũng có tác dụng làm suy giảm sức nghe, gây điếc.

5. Thuốc chống sốt rét

Từ thế kỷ 19, người ta đã phát hiện Quinin và Chloroquin có thể làm giảm thính lực. Nếu dùng liều nhỏ thì triệu chứng sẽ mất hẳn khi ngưng thuốc, nhưng với liều cao thì có thể gây điếc vĩnh viễn.

6. Thuốc chống ung thư

Cis-Platinum có thể gây nghe kém, ù tai, rối loạn tiền đình; Ở mức độ nhẹ có thể hồi phục được, nếu nặng có thể gây điếc vĩnh viễn.

Bleomycin, – 5. Fluorouracil cũng có thể gây hại cho tai, làm suy giảm thính lực.

Tuy vậy các thuốc thuộc nhóm này chưa được nghiên cứu nhiều.

7. Các loại thuốc khác

– Thạch tín.

– Tinh dầu giun.

– Hexadin.

– Pentobarbital.

– Thuốc tim mạch, thuốc trị cao huyết áp: Quinidin chữa loạn nhịp tim, Propanolol (thuốc chẹn beta) chữa cao huyết áp.

– Kháng độc tố uốn ván…

Để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân cao tuổi, có thai, suy gan thận, không được dùng các thuốc có khả năng gây độc cho tai, mà phải thay thế bằng các thuốc khác có cùng tác dụng. Nếu bắt buộc phải dùng, bệnh nhân cần được đo thính lực và theo dõi thường xuyên trong suốt quá trình dùng thuốc (đặc biệt là các kháng sinh); Và nếu có suy thận, phải đo nồng độ thuốc trong máu và điều chỉnh liều để không vượt quá mức cần thiết.