Category Archives: Tai Mũi Họng – mũi xoang

TAI, MŨI, HỌNG

Viêm mũi do dị ứng (Allergic rhinitis) BS Nguyễn Văn Đức (California, USA)

Viêm mũi do dị ứng – Các thuốc chữa BS Nguyễn Văn Đức (California, USA)

Advertisements

Bài giảng PTNS Tai Mũi Họng

Tổng hợp các bài giảng phẫu thuật nội soi tai mũi họng
Bộ môn TMH ĐH Y Dược Tp.HCM

1. GIẢI PHẪU SINH LÝ VÙNG MŨI XOANG
Giảng viên : GS.TS. BS Nguyễn Hữu Khôi

Download

2. CÁC DỤNG CỤ PHỤC VỤ PHẪU THUẬT – KINH NGHIỆM CHỌN LỰA VÀ BẢO QUẢN
Giảng viên : Bs Nguyễn Trường Hải
Download *

3. VIÊM MŨI XOANG CẤP MẠN
Giảng viên : PGS.TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

4. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BỆNH VIÊM MŨI XOANG
Giảng viên : TS.BS Nguyễn Hoàng Nam
Download *

5. HÌNH ẢNH HỌC VÙNG MŨI XOANG
Giảng viên : BS Huỳnh Khắc Cường
Download

6. NGUYÊN LÝ CỦA PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : TS.BS Nguyễn Hoàng Nam
Download *

7. CHỌN LỰA CÁC BỆNH NHÂN CẦN PHẪU THUẬT
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

8. CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

9. KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI THÔNG THƯỜNG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

10. CÁC PHƯƠNG PHÁP VÔ CẢM DÙNG TRONG PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

11. BIẾN CHỨNG CỦA PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

12. CHIẾU VIDEO MINH HỌA KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI
Giảng viên : PGS. TS.BS Võ Hiếu Bình

13. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 1 – GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Giảng viên : GS.TS.BS Nguyễn Hữu Khôi
Download *

14. SĂN SÓC SAU MỔ NỘI SOI MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

15. CHIẾU VIDEO MINH HỌA KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI
Giảng viên : PGS.TS.BS Võ Hiếu Bình

16. KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI NÂNG CAO
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

17. PHẪU THUẬT CÁC CƠ QUAN LÂN CẬN QUA ĐƯỜNG NỘI SOI MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

18. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 2
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu

19. THẢO LUẬN, GIẢP ĐÁP THẮC MẮC
Giảng viên : PGS.TS.BS Võ Hiếu Bình


POLÝP MŨI XOANG: điều trị nội khoa hay phẫu thuật?

Polýp mũi xoang (PMX) là hệ quả của một sự thoái hoá phù nề nhiều chỗ của niêm mạc mũi có bản chất viêm mạn tính. PMX là u lành tính thường gặp nhất ở vùng mũi xoang, hiện diện trên hơn 25% BN bị suyễn, viêm mũi và viêm mũi xoang mạn tính. Vị trí xuất phát thường là niêm mạc thành ngoài hốc mũi, ở khe mũi giữa, ở xoang sàng trước, xoang hàm.(1) Từ xoang, mô bệnh chui qua lỗ thông mũi xoang để vào trong hốc mũi. Khám thấy được u dạng polýp bằng soi mũi trước hay nội soi.

Về đại thể: Ðiển hình là những khối mềm, trơn láng, hơi trong suốt, có màu hồng, xanh xám, ngả vàng, ít chảy máu. Polyp? mũi có khi đơn độc, nhưng thường mọc thành chùm, chiếm đầy hốc mũi, các xoang, cả hai bên.

Vi thể:(1,2) tổn thương đa dạng, ở nhiều mức độ khác nhau.

+ Biểu bì: bị thoái triển thành biểu bì đa tầng, nổi bật là sự hư? hoại của tế bào lông, màng đáy dày lên và không liên tục.

+ Mô đệm có những biến đổi rõ nhất: Tình trạng giãn rộng của các tuyến nhày thành nang, kích thước không đều. Vắng mặt các tuyến nhày-thanh dịch (vốn là đặc trưng của niêm mạc cuốn giữa và dưới). Sự tụ tập các loại tế bào viêm, đặc biệt là các tế bào đa nhân ái toan.

Nguyên nhân và bệnh sinh của PMX vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Gần đây nhiều thành tựu trong nghiên cứu cơ bản cho thấy bệnh sinh chủ yếu của PMX là tình trạng viêm thường trực, mạn tính tại chỗ. Bệnh lý này do nhiều nguyên nhân phối hợp: giải phẫu, di truyền, dịch thể, tế bào, thần kinh, nhiễm trùng, chấn thương.

Bệnh có khi bệnh xuất hiện nguyên phát, có khi phối hợp với những bệnh khác như suyễn, tam chứng Widal, viêm nang xơ. PMX có thể là một biểu hiện của rối loạn niêm mạc đường hô hấp của tuyến ngoại tiết (như muco-viscodose), bệnh của chất nhầy (hội chứng Young), bệnh của lông chuyển như rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát.

Triệu chứng chính gây ra bởi polýp mũi là nghẹt mũi và mất khứu giác. Mục đích của trị liệu là lấy bỏ polýp đi. Có thể dùng hai cách: nội khoa và phẫu thuật.

Ðiều trị NỘI KHOA

Dành cho các polýp còn nhỏ và vừa.

Dùng glucocorticoid?

PMX được thành lập cơ bản là do phản ứng viêm, vậy phải điều trị bằng thuốc kháng viêm. Các loại gluco-corticoid là những thuốc được chọn hàng đầu. Gluco-corticoid là những chất kháng viêm mạnh, dùng theo đường toàn thân và tại chỗ đều có tác dụng tốt. Ðiều không may là polýp thường tái phát sau khi ngưng thuốc.

Tác động? cơ bản của glucocorticoid là ngăn trở hoạt động của phospholipase A2 qua trung gian lipocortin. Thuốc chận đứng quá trình viêm từ đầu ở phản ứng tạo arachidonic acid từ phospholipid màng và do vậy, ngăn chận sự tạo lập prostaglandin và leucotrien. Qua cơ chế này, thuốc tác động lên mọi giai đọan của quá trình viêm trong mô:

– Giai đoạn mạch máu: điều chỉnh lại tình trạng giãn mạch, điều chỉnh độ thẩm thấu của thành mạch. Như vậy làm giảm phù nề và giảm đau.

– Giại đoạn tế bào: giảm hóa ứng động, giảm tụ tập của tế bào viêm, giảm hoạt động thực bào, củng cố màng của các lysosom của các tế bào đa nhân và thực bào, ngăn chận sự phóng thích các enzym làm duy trì và phát triển hiện tượng viêm.

– Giai đoạn thành sẹo: với tác động trên những yếu tố tăng trưởng, tác động trên sự tăng sinh các tế bào sợi, tác động trên sự tổng hợp collagen và mucopolysacharid.

Tuy nhiên, glucocorticoid có nhiều tác dụng phụ từ hoạt tính mineralocorticoid như: nguy cơ cao huyết áp, mất potassium và giữ nước. Có thể gây tiểu đường, làm chậm phát triển cơ thể và loãng xương. Làm teo cơ bởi tác dụng ngăn trở sự tổng hợp protein. Do ức chế hoạt động của trục vỏ não-thượng thận, glucocorticoid gây nguy cơ suy thượng thận khi ngưng thuốc hay khi có agression. Ngoài ra glucocorticoid còn gây loét dạ dày tá tràng, ảnh hưởng tâm thần kinh.

Những tác dụng phụ khá nguy hại của glucocorticoid khiến thầy thuốc phải cân nhắc lợi hại khi cho toa, sao cho sự trị liệu đạt hiệu quả tối đa với một nguy cơ tối thiểu. Ðây là nguyên nhân thúc đẩy khuynh hướng thiên về dùng glucocorticoid tại chỗ hơn là toàn thân.

Ðiều trị bằng glucocorticoid toàn thân:

Có rất ít những nghiên cứu về chỉ định, liều lượng, cách dùng và kết quả của việc trị liệu PMX bằng glucocorticoid đường toàn thân.

Peynègre và Serrano(3) nêu 3 cách dùng glucocor-ticoid:

Ðiều trị liên tục: không dùng cho PMX trừ khi BN bị kèm theo suyễn nặng-lệ thuộc glucocorticoid.

Ðiều trị ngắn hạn: dùng không quá 10 ngày. Cách dùng này cho phép ngưng glucocorticoid đột ngột, không cần cho liều giảm lần. Nên dùng loại glucocorticoid có thời gian bán hủy ngắn như prednison, prednisolon, methyl-prednisolon. Dùng một liều duy nhất 1mg/kg /ngày, uống vào buổi sáng, đúng vào chu kỳ sinh học tiết glucocorticoid của cơ thể. Có hiệu quả cao trên PMX. Nếu có bội nhiễm, dùng thêm kháng sinh. Không cần theo dõi gì đặc biệt đối với BN. Tuy nhiên, không nên dùng quá 3 lần trong một năm.

Ðiều trị theo chu kỳ: Trường phái Pháp [Rouvier]. Dùng glucocorticoid dài ngày, theo những qui tắc nhất định. Thường dùng tiếp theo sau một đợt điều trị ngắn hạn. Cho liều tối thiểu có hiệu quả (0,1-0,3 mg/kg/ngày). Nên chọn prednisolon hay prednison. Ví dụ:

– Uống một liều, hai ngày một lần, trong một tuần.

– Rồi uống một tuần, nghỉ một tuần, trong hai tháng;

– Rồi uống một tuần, nghỉ hai tuần, trong hai tháng;

– Rồi uống một tuần, nghỉ ba tuần, trong hai tháng.

Với kiểu dùng thuốc này, BN buộc phải được theo dõi sát những hằng số sinh học, theo chế độ kiêng muối, giảm ăn chất bột. Sự kiểm soát thường khó khăn vì mức độ đáp ứng với glucocorticoid của từng BN rất khác nhau.

Theo Bernstein,(1) glucocorticoid đường toàn thân chỉ định cho những trường hợp polýp nặng, gây tắc mũi. Chủ trương dùng ngắn hạn (không quá 2-3 tuần). Nếu không hiệu quả, nên phẫu thuật, nếu có hiệu quả, tiếp tục dùng corticoid tại chỗ.?

Liều lượng dùng Prednisolon:

– 40mg/ ngày/ trong 3 ngày.

– 30mg/ ngày/ trong 3 ngày

– 20mg/ ngày/ trong 3 ngày

– 10mg/ ngày/ trong 3 ngày

– cuối cùng cho 3 lần 10mg, mỗi 2 ngày

Ðiều trị bằng glucocorticoid tại chỗ:

Từ 1962, thử nghiệm lần đầu tiên bằng dexamethason cho thấy có nhiều phản ứng phụ toàn thân và tại chỗ. [Boxer]. Năm 1974, một tiến bộ quan trọng tổng hợp được thế hệ thứ hai của glucocorticoid là beclomethason dipropionat. Sau đó là các glucocorticoid dùng tại chỗ mới lần lượt xuất hiện: flunisolid, budesonid, fluticason. với hoạt tính cao hơn, liều sử dụng ít hơn, an toàn hơn

Hiện nay, đây là phương pháp tốt nhất được chọn lựa do những đặc tính:

Tác dụng trực tiếp, hiệu quả cao trên vùng mũi xoang.

Howland, 1996(4) đã so sánh tác dụng của fluticason tại chỗ và toàn thân trong thí nghiệm điều trị viêm mũi dị ứng bằng fluticason propionat trên 4 nhóm BN trong 2 tuần: Nhóm 1 được dùng fluticason propionat tại chỗ 200microgram/ ngày. Nhóm 2 dùng fluticason propionat uống, 5mg/ ngày. Nhóm 3 dùng fluticason propionat uống, 10mg/ ngày. Nhóm 4 dùng giả dược.

Kết quả được đánh giá bởi thầy thuốc và BN: các triệu chứng nhảy mũi, chảy mũi, nghẹt mũi, ngứa trong mũi giảm rõ rệt ở nhóm dùng tại chỗ so với 2 nhóm sử dụng thuốc uống.

Glucocorticoid tại chỗ có tác dụng rõ rệt trên các tế bào viêm. Nghiên cứu của Johnson M.(5)1995 qua trên BN dùng Fluticason propionat xịt tại mũi cho thấy Fluticason propionat ức chế đáng kể số lượng dưỡng bào (mast cell) trong niêm mạc mũi, ngăn chặn sự giải hạt của tế bào này. Ngoài ra còn ức chế sự tăng sinh tế bào lympho T, giảm lượng interleukin-5 (IL-5) và giảm yếu tố kích hoạt tiểu cầu (platelet activating factor) là yếu tố kích thích sự tập trung eosinophil tại phổi.

Glucocorticoid tại chỗ làm giảm rõ rệt kích thước polýp. Homberg K., Juliusson S., năm 1997,(6)? thử nghiệm dùng glucocorticoid tại chỗ trên 55 BN bị polýp mũi lâu ngày trong thời gian 26 tuần. Nhóm 1 dùng fluticason propionat tại chỗ, 200 mg x 2 lần/ ngày. Nhóm 2 dùng beclomethason dipropionat tại chỗ 200 mg/ 2 lần/ ngày. Nhóm 3 dùng giả dược. Kết quả được đánh giá dựa trên triệu chứng nghẹt mũi, kích thước polýp (thang điểm polyp) và lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi (peak nasal inspiratory flow). Có sự cải thiện các triệu chứng và giảm kích thước polyp trên tất cả BN, tăng lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi rõ rệt ở hai nhóm dùng fluticason propionat và beclomethason so với nhóm chứng sau 14 tuần. Nhóm dùng fluticason propionat cho thấy thời gian thuốc có tác dụng đạt nhanh hơn nhóm beclomethason. Không có khác biệt về độ dung nạp giữa hai chất trên.

Johansen,(7)1993 chứng minh hiệu quả của gluco-corticoid trên kích thước polyp trong một nghiên cứu mù đôi, đa trung tâm (4 ở Ðan mạch và 1 ở Thụy điển). Thuốc dùng là? budesonid, 50 mL mỗi bên mũi/ 2lần /ngày= 400 mg và giả dược.

Polyp được phân loại theo: độ 0? (không có polýp), độ 1 (polýp nhẹ -? polýp nhỏ, còn ở trên tầm bờ trên của cuốn dưới, gây nghẹt mũi nhẹ), độ 2? (polýp trung bình – ngang tầm của bờ trên và bờ dưới cuốn dưới, gây nghẹt mũi), độ 3 (polýp nặng – vượt quá bờ dưới của cuốn dưới, bít tắc hốc mũi).

BN được phân loại dựa trên polýp lớn nhất của một bên mũi và tổng của polýp hai bên. Chỉ đưa vào nghiên cứu các BN có polýp ở độ 2 hoặc nhỏ hơn. Kết quả cho thấy kích thước của các polýp nhỏ và trung bình giảm đáng kể trong đa số các trường hợp. Thuốc không có tác dụng đáng kể trên các polýp độ 3. Tính chung, khoảng 32% BN có điểm polyp? không thay đổi sau 3 tháng. Có lẽ cần liều cao hơn (800 mg) và có thể còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến polýp. Các triệu chứng kèm theo như nghẹt mũi, nhảy mũi, chảy mũi giảm rõ rệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng.

Dung nạp thuốc tại chỗ tốt.

1. Phản ứng phụ tại chỗ hiếm, nhẹ, thường thoáng qua: kích thích niêm mạc, khô mũi, chảy máu mũi.thường chỉ xuất hiện lúc khởi đầu trị liệu rồi giảm dần.

2. Tránh được những phản ứng phụ nếu dùng đường toàn thân. Gần như không có phản ứng phụ toàn thân: tác dụng trên toàn thân yếu, thời gian bán hủy trong huyết tương ngắn, được chuyển hóa trong gan nhanh chóng và mạnh mẽ trở thành những chất không hoạt tính.

3. Liều trị liệu rất thấp hơn liều độc.

4. Thời gian bắt đầu có tác dụng tùy theo loại thuốc. Từ vài ngày (beclomethason) đến chỉ còn vài giờ đối với thuốc thế hệ mới (fluticason).

5. Cách sử dụng đơn giản: Ða số các thuốc đều có liều dùng xịt 2 lần/ngày (beclomethason, triamcinolon, budesonid. Chỉ cần dùng 1 liều đối với các thế hệ thuốc mới hơn: fluticason, mometason.)

Bernstein, 1997, nêu phác đồ:

Nếu polýp chưa gây nghẹt mũi: dùng glucocorticoid tại chỗ trong 4-6 tuần.

– Beclometason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2-4 lần/ngày

– Budesonid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2 lần/ ngày hay xịt 1 lần 4 cái vào buổi sáng.

– Flunisolid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2 lần/ ngày.

– Fluticason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1 lần/ ngày.

– Triamcinolon:? xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1 lần/ ngày.

Nếu polýp không giảm thì điều trị ngắn hạn: Dùng prednisolon 40mg / ngày trong 3 ngày; 3 ngày kế tiếp dùng 30mg / ngày, 20mg trong 3 ngày, rồi 10mg trong 3 ngày; cuối cùng dùng thêm 10mg mỗi 2 ngày trong 6 ngày.

Không nên dùng glucocorticoid toàn thân quá 2-3 tuần. Nếu hết đợt trị liệu không hiệu quả, nên nghĩ dến phẫu thuật.

Không nên dùng glucocorticoid tại chỗ trước cho những BN bi polýp quá lớn. Nên khởi đầu bằng đường toàn thân. Nếu có hiệu quả, tiếp tục bằng xịt tại chỗ.

Vài thuốc khác:

Thuốc chống dị ứng có vai trò giới hạn, chỉ dùng phối hợp khi có bằng chứng về dị ứng.

Thuốc tác dụng trên bơm natrium và kalium được chứng minh tác dụng trong vài nghiên cứu,(2) áp dụng trên người còn hạn chế:

– Furosemid

– Amilorid.

Thuốc kháng sinh: không thể thiếu được trong tình trạng viêm mũi xoang bội nhiễm, những chất tan đàm (Mucofluidifiants) có tác dụng hỗ trợ.

Crenothérapie.

Nước muối sinh lý: rửa mũi.

Ðiều trị PHẪU THUẬT:?

Thường phải phối hợp phẫu thuật với trị liệu nội khoa.(8) Mục đích phẫu thuật nhằm:

– Tái lập chức năng của mũi, loại bỏ polyp, làm thông thoáng mũi, tái lập đường dẫn lưu từ các xoang.

– Ðiều chỉnh các yếu tố bất thường trong cấu trúc của mũi mà các cấu trúc này tạo thuận lợi cho sự thành lập và tồn tai của polyp.

– Loại bỏ mô polýp là nơi tích tụ các yếu tố tăng trưởng, các tế bào viêm là nguyên nhân của polyp.

Chỉ định:

– Polýp lớn gây tắc nghẽn đường thở

– Polýp gây mất khứu giác, không đáp ứng với trị liệu nội khoa.

– Polýp tái phát, xơ hóa.

– Polýp tái phát gây biến chứng viêm tai, viêm đường hô hấp dưới, kích hoạt cơn suyễn.ngăn trở sự lành bệnh của viêm mũi xoang nhiễm trùng.

– Dị dạng giải phẫu học của mũi xoang: lệch vách ngăn, concha bullosa, quá phát cuốn dưới, VA tồn lưu.

Phương pháp:

Có nhiều kỹ thuật mổ:

Cắt polýp đơn thuần: dùng khi mũi bị tắc bởi vài polýp lớn, có thể thực hiện với gây tê tại chỗ.

Mổ qua nội soi, mổ nội soi mũi xoang chức năng (FESS- Functional endoscopic sinus surgery) có thể dùng trong nhiều chỉ định:

– Cắt chính xác những polýp nhỏ nằm ở những vị trí quan trọng như khe giữa, lỗ thông mũi xoang, vùng dẫn lưu của xoang sàng trán.để cắt đứt vòng luẩn quẩn của viêm mũi xoang. FESS là một chỉ định tốt cho các polýp tái phát, không đáp ứng với corticoids.

– Trong FESS, có thể kết hợp dùng LASER để đốt polýp hay dùng dụng cụ vi phẫu cắt lọc (microdebrider).

Cắt polýp và mổ xoang (hàm-sàng -bướm) kèm theo qua nội soi hay với kính hiển vi:

– Khi BN bị viêm mũi xoang tái phát hay phải cắt polýp nhiều lần trong năm và có những bằng chứng tổn thương xoang trên CT scan.

– Bệnh nhân bị kèm theo suyễn hay không dung? nạp aspirin thường bị polýp nặng hơn và bệnh dễ tái phát hơn nên thường có chỉ định mổ.

Friedman,(8) 1982 thực hiện phẫu thuật mổ sàng-bướm trên 55 BN có polýp kèm viêm mũi xoang tái phát và suyễn, ghi nhận rằng đa số BN có thể ngưng dùng hay giảm liều corticoid trong một thời gian dài; duy trì được mũi thông thoáng và tránh hay giảm được tần suất viêm mũi xoang tái phát. Suyễn giảm hẳn sau khi tái? lập được chức năng của mũi.

Vai trò của corticoid tại chỗ trong việc phòng ngừa polýp tái phát:

Dù phẫu thuật đã được thực hiện tốt, polýp vẫn tái phát vì phẫu thuật không trị dứt được bản chất viêm của bệnh polýp. Trong điều trị bệnh polýp mũi, tuy phẫu thuật? có vai trò quan trọng, kháng viêm tại chỗ vẫn là trị liệu cơ bản, lâu dài.

Nghẹt mũi kéo dài –

ngửi kém – mất ngửi

Soi mũi trước – nội soi mũi

Nếu thấy pôlýp mũi

Xịt? steroid mũi 4 tuần liền

Ðáp ứng

Không đáp ứng

UỐNG STEROID

Ðáp ứng

Không đỡ

Tiếp tục xịt steroid mũi

Phẫu thuật









Sơ đồ điều trị polýp mũi xoang (theo hội nghị Bali, 2/1999)

Kết luận

Ðiều trị PMX là một công việc lâu dài và thường xuyên. Trong đa số các trường hợp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị nội khoa và phẫu thuật.

Viêm xoang khó chữa, biến chứng nguy hiểm

Bác sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Lan, Trưởng khoa Mũi xoang Bệnh viện Tai mũi họng TP HCM, cho biết, từ lâu bệnh nhi đã bị nhiễm trùng các răng số 5, 6, 7 của hàm trên, do không được điều trị nên đã gây viêm xoang hàm. Ổ áp-xe mắt chính là hậu quả của biến chứng từ xoang hàm ở giai đoạn mạn tính. Loại biến chứng này rất nguy hiểm và khó phát hiện vì không có triệu chứng báo trước. Mắt bệnh nhân chỉ bị đau nhức một tuần trước khi nhập viện. Không nhức đầu, không nghẹt mũi, không chảy mũi và cũng không có tiền sử bệnh căn mũi xoang.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, khí hậu Việt Nam nóng ẩm nên mọi người rất dễ bị nhiễm xoang. Ở Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM năm 2004, chỉ tính riêng số bệnh nhân đến nội soi để chẩn đoán viêm xoang đã là hơn 13.000 người. Tỷ lệ viêm xoang ở trẻ em ngày càng tăng, nhất là trẻ em dưới 6 tuổi. Theo khảo sát của Bệnh viện Nhi đồng 1, tỷ lệ viêm xoang cấp ở trẻ dưới 6 tuổi là gần 7% trong tổng số bệnh nhi.

Hiện nay, do đã có nhiều loại kháng sinh nên tỷ lệ biến chứng từ viêm xoang không cao. Nhưng vào mùa hè, những trường hợp như vậy vẫn hay xuất hiện.

Có nhiều nguyên nhân gây viêm xoang, hay gặp nhất là dị ứng môi trường, nhiễm trùng từ mũi, răng hoặc lạm dụng kháng sinh (viêm do nấm). Viêm xoang còn có thể do bị tác động sau chấn thương, hoặc các căn bệnh toàn thân như tiểu đường, suy giảm miễn dịch nguyên phát… Bệnh phát triển qua hai thời kỳ: cấp tính và mạn tính.

Theo các thống kê trên thế giới, cứ 10 người bị viêm xoang thì 3 là do dị ứng. Đối với nhóm này, bác sĩ Quỳnh Lan khẳng định, bệnh sẽ hết sau đợt điều trị nhưng chắc chắn tái phát”. Còn theo một nghiên cứu về điều trị viêm xoang của bác sĩ Nguyễn Thị Thu Thủy, Bệnh viện y học cổ truyền TP HCM, tỷ lệ điều trị không hết hẳn chiếm đến 50%.

Một nguyên nhân khiến bệnh không dứt hẳn, hay tái phát là sự thiếu kiên nhẫn, mất niềm tin của bệnh nhân trong quá trình điều trị. Bác sĩ Quỳnh Lan cho biết: “Trong điều trị viêm xoang, có nhiều loại thuốc gây tác dụng phụ như rối loạn tâm thần, đau bao tử, rối loạn tiêu hóa, suy thận, cơ thể như bị phù lên… Nhiều bệnh nhân không được bác sĩ cảnh báo trước nên hoang mang, lo sợ. Có những loại thuốc phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ dưới 6 tuổi”.

Viêm xoang cấp tính rất dễ nhận ra bởi sự ồ ạt của các triệu chứng: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, người luôn mỏi mệt. Nếu phát hiện ở giai đoạn này, quá trình điều trị rất đơn giản; nhưng nếu bỏ qua thì chỉ sau 2 tuần, bệnh sẽ chuyển sang mạn tính. Lúc này, bệnh phát triển âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng nào nên bệnh nhân khó nhận biết. Sau một thời gian, bệnh sẽ biến chứng ở mắt như viêm tấy ổ mắt, áp-xe ổ mắt (như trường hợp em Dung), viêm xương sọ – mặt, viêm màng não, áp-xe não, viêm tắc xoang tĩnh mạch hang, xoang tĩnh mạch dọc, nhiễm trùng huyết. Tất cả các biến chứng đều rất nguy hiểm, cách điều trị luôn là phẫu thuật và dùng kháng sinh liều cao, gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe về sau.

Đối với các nhóm viêm xoang do nhiễm trùng mũi, răng hay do nấm, nếu được phát hiện kịp thời và điều trị đúng cách, bệnh sẽ hết. Phương pháp chẩn đoán và điều trị viêm xoang hiện đại nhất Việt Nam hiện nay là nội soi, chỉ có ở các bệnh viện lớn. Rất nhiều cơ sở y tế vẫn còn dùng phương pháp thủ công là sử dụng đèn tráng khi khám bệnh; vì vậy nhiều ca viêm xoang đã bị bỏ sót.

Có những cách phòng chống viêm xoang đơn giản nhưng rất hiệu quả như đeo khẩu trang khi đi đường hay làm việc ở nơi bụi bặm; không để cơ thể bị nhiễm lạnh (đi khuya phải đội mũ, không tắm gội đầu ban đêm, ít ngủ máy lạnh). Người đang bị viêm xoang nên có ý thức gìn giữ cho cộng đồng như không đi bơi, nếu muốn hắt hơi cũng nên che lại. Bệnh nhân nên tránh rượu, bia, thuốc lá.

Viêm Mũi

Đại cương:

Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, có chức năng sinh lý rất quan trọng, là làm ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí để thở.; ngoài ra mũi còn đảm nhận chức năng khứu giác (ngửi) và đóng vai trò như một hòm cộng minh, cộng hưởng trong phát âm. Khi nghiên cứu về chức năng của mũi người ta còn thấy mũi có Globuline IgA bảo vệ niêm mạc mũi. Như vậy khi mũi bị viêm, tất cả các chức năng sinh lý trên đều ít nhiều bị ảnh hưởng, không có lợi cho sức khỏe con người.

Viêm mũi hay gặp trong mùa lạnh khi thời tiết thay đổi. Ở nước ta tùy theo mùa, và từng nơi tỷ lệ mắc bình quân 10-12% trong cộng đồng với hai thể lâm sàng cấp tính hoặc mạn tính.

I. Viêm mũi cấp tính

1.1. Triệu chứng lâm sàng. Viêm mũi cấp thông thường:

Bệnh có thể gây thành dịch, hay gặp mùa lạnh, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây sổ mũi cấp.

Giai đoạn đầu bệnh nhân cảm giác ớn lạnh xương sống, nổi gai ốc,… nóng rát trong mũi khi thở ra, nhức đầu mệt mõi, kém ăn ; có thể sốt rất cao (trẻ em), nóng khô rát trong mũi, trong họng, hắt hơi nhiều cái, ngạt tắc mũi, giảm hoặc mất khứu giác, nói giọng mũi kín…

Khám niêm mạc mũi đỏ rực, sưng nề, xung huyết dữ dội, chảy mũi có màu đục, đặc dần, đôi khi nhợt nhạt và khô hơn bình thường…Triệu chứng toàn thân giảm dần, ngửi khá hơn, triệu chứng tại chổ khá lên, bệnh khỏi sau khoảng một tuần.

Những chảy mũi do Virut cúm: Parainfluenza-, Adeno-, Reocorona-, Entero-, Myxovirus… còn có có thể gây biến chứng ở đường hô hấp: Ho, khó thơ…, hay đường tiêu hóa: Gây rối loạn tiêu hóa như ỉa chảy, nôn mửa… hoặc kèm các biến chứng: Viêm màng nảo, viêm nội tâm mạc, viêm thận, viêm cơ (đau chân tay…)

1. 2 Thể lâm sàng:

1.2.1.Viêm mũi cấp do cúm:

Biểu hiện toàn thân nặng hơn, triệu chứng đột ngột, sốt cao, có thể, có rét, đau mình mẩy, lây truyền nhanh có thể thành dịch…

1.2.2. Viêm mũi do sởi:

Viêm mũi là dấu hiệu đầu tiên của sởi, chảy mũi lẫn máu kéo dài, mắt và hệ thống lệ đạo cũng bị viêm, chảy nước mắt mi mắt phù nề, màng tiếp hợp đỏ, tiếng nói khàn, ho nhiều đôi khi có khó thở nhẹ.

1.2.3. Viêm mũi do thủy đậu:

Thấy ít nốt phổng ở tiền đình mũi, chảy nhiều mũi nhầy, viêm lóet niêm mạc cuốn mũi và vách ngăn, nên khi khỏi bệnh có thể để lại sẹo dăn dúm, teo niêm mạc… tuổi bị bệnh hay gặp từ 2-4 tuổi trở lên.

1.2.4.Viêm mũi bạch hầu:

Có thể nguyên phát hoặc thứ phát, có giả mạc trắng ngà ở mũi và họng. Đầy đủ tính chất đặc trưng của giả mạc bạch hầu. Cần nhuộm soi tươi ngay hoặc lấy giả mạc cấy tìm trực khuẩn bạch hầu.

1.2.5. Viêm mũi ở hài nhi:

Lâm sàng thường nặng nề. Chảy mũi, ngạt mũi, khó bú, bỏ bú, nôn mửa, sốt, dấu hiệu nhiễm trùng rõ rệt, không tăng cân… Lưu ý nếu kèm viêm đường hô hấp dưới như viêm thanh quản, phế quản, viêm phổi…tiên lượng càng nặng…

1.2.6. Viêm mũi do lậu ở trẻ nhỏ:

Lây từ âm đạo mẹ, sau sinh 3-4 ngày. Mũi, môi sưng vều, đỏ, chảy mũi vàng, xanh, tắc mũi hoàn toàn, không bú được, mắt cũng sưng mọng, mí mắt không mở được, màng tiếp hợp đỏ, phù nề…

1.2.7. Viêm mũi do dị vật:

Thường gặp tuổi nhà trẻ mẫu giáo, 2-6 tuổi bị mắc dị vật trong mũi lâu ngày không được phát hiện, lâm sàng ngạt mũi, chảy mũi rất thối, màu xanh, vàng có thể có lẫn máu…đôi khi có sốt, thường chỉ một bên mũi.

1.2.8. Viêm mũi lao:

Có 2 thể: Lupus và viêm lóet niêm mạc mũi do lao. Triệu chứng vùng tiền đình, cuốn mũi dưới, niêm mạc vách ngăn có những nốt nhỏ màu hơi đỏ, dần dần có mủ rồi hoại tử, làm sẹo co dúm gây hẹp hốc mũi…chẩn đoán dựa vào sinh thiết.

1.2.9. Viêm mũi giang mai:

Thường chỉ ở giai đoạn III. Lâm sàng sưng đau các xương vùng mũi, chảy mũi mủ, lóet hoại tử, sưng hạch vùng đầu mặt cổ, cuối cùng sập sống mũi hình yên ngựa…Chẩn đoán dựa vào phản ứng huyết thanh và sinh thiết.

1.3.. Giải phẩu bệnh:

Hiện nay người ta đã phân lập được trên 100 loại Virus từ Virus cúm có thời gian ủ bệnh khác nhau (1-3 ngày). Với những nhiễm Virus có tính nhỏ giọt, với sức đề kháng của cơ thể thay đổi, triệu chứng có thể bị lu mờ, không rầm rộ.

Do viêm, niêm mạc mũi xung huyết thâm nhiễm bởi các tế bào tròn, bong tế bào, thoát quản bạch cầu, chảy mũi, lúc đầu trong sau nhầy mũi, rồi có mủ thực sự… Cuốn dưới phì đại, các hồ huyết ứ đầy máu, nhưng còn đáp ứng tốt với các thuốc co mạch…

1.4. Chẩn đoán:

1.4.1. Chẩn đoán xác định:

Lúc đầu rất khó chẩn đoán là chảy mũi dơn thuần do nhiễm Vỉus tại mũi hay nhiễm Virus nặng từ các bệnh khác gây ra. Chủ yếu dựa vào lâm sàng, đôi khi phải theo dõi điều trị vài ngày mới biết được chắc chắn.

1.4.2. Chẩn đoán phân biệt:

Giữa viêm mũi dị ứng và viêm mũi vận mạch, các nhiễm trùng đặc hiệu khác như: Viêm mũi giang mai, bạch hầu…

1.5. Điều trị:

Điều trị triệu chứng là chủ yếu:

+ Thuốc làm co niêm mạc hốc mũi có Imidazol, làm khô niêm mạc chống xuất tiết. Không dùng kháng sinh quá sớm ngoại trừ có nhiễm trùng nặng, đe dọa biến chứng, khí dung các thuốc sát trùng, có thể chườm lạnh trên đầu, chiếu tia hồng ngoại…

+ Điều trị nguyên nhân: vẹo, lệch vách ngăn, cuốn mũi quá phát, v. họng, viêm xoang…

+Toàn thân nâng cao thể trạng, sinh tố chống mệt mỏi, đau mình mẩy; nhức đầu nhiều, phải dùng giảm đau, hộ lý cấp I, nghỉ ngơi yên tĩnh…

1.6. Phòng bệnh:

Tắm hơi, kích thích bằng nhiệt, trị liệu bằng hơi nước, thể thao, tránh lạnh đột ngột, nhỏ mũi các dung dịch sát trùng trong vụ dịch và nơi tập trung trẻ nhỏ như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học… nâng cao thể trạng, cung cấp thức ăn giàu Vitamin C, vệ sinh mũi họng, nạo VA ở trẻ nhỏ, cắt A, chủng ngừa các loại virus cúm….

II. Viêm mũi mạn tính

Rất phổ biến ở nước ta do khí hậu nóng ẩm, niêm mạc mũi viêm mãn tính sẽ phản ứng tăng tiết nhầy và quá phát.

2.1. Triệu chứng lâm sàng:

Lúc đầu là ngạt mũi một bên, lúc bên nọ khi bên kia, sau đó ngạt liên tục dữ dội cả 2 bên, xuất tiêt ít, nhầy dai dính không màu, ít khi có mủ, có xu hướng phát triển phía mũi sau xuống họng, viêm họng thứ phát, BN hay phải đằng hắng, nói giọng mũi kín, chảy nước mắt, có thể có viêm túi lê, nhức đầu mất ngủ. Lâm sàng có 3 giai đoạn:

2.1.1. Giai đoạn xung huyết đơn thuần:

Ngạt mũi liên tục cả đêm lẫn ngày, xuất tiết ít, khám niêm mạc mũi cuốn mũi to, đỏ, đôi khi tím bầm đặt thuốc co mạch còn co hồi tốt.

2.1.2. Giai đoạn xuất tiết:

Chảy mũi là dấu hiệu cơ bản, nhầy hoặc mủ, chảy hàng tháng, ngạt mũi thường xuyên, giảm hoặc mất khứu giác. Niêm mạc mũi phù nề nhợt nhạt, cuốn mũi nề mọng, đặt thuốc co mạch còn có tác dụng nhưng chậm và tái sưng nề nhanh. Sàn mũi và các khe có chất xuất tiết ứ đọng.

2.1.3. Giai đoạn quá phát:

Là hậu quả của một quá trình quá sản niêm mạc cuốn dưới, tắc mũi liên tục, ngày càng tăng, đặt các loại thuốc co mạch không còn tác dụng, nói giọng mũi kín, thở miệng nên viêm họng mạn tính, giảm hoặc mất khứu giác, xuất tiết ít dần. Khám cuốn dưới quá phát gần sát vách ngăn, cứng sần sùi, màu xám nhạt, đôi khi phát triển phía đuôi cuốn, chỉ soi mũi sau mới thấy.

2.2. Nguyên nhân bệnh sinh:

Tổn thương các tế bào chế nhầy do quá trình liên tục viêm từ: Viêm xoang, nhét mèche mũi, VA quá phát, niêm mạc có rối loạn vận mạch, những kích thích mạn tính như thuốc lá, bụi, nhiệt độ, hóa chất, nấm, bụi kim loại… thói quen dùng ngón tay ngoáy mũi…Hiện nay người ta còn nghĩ do rối loạn nội tiết: Tuyến giáp, thượng thận, đái đường, tim mạch, dị ứng thuốc, dị ứng nhiễm khuẩn, phụ nữ thời kỳ có thai…

2.3.. Chẩn đoán:

2.3.1. Chẩn đoán xác định:

Dựa vào lâm sàng và khám thực thể, các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Soi mũi niêm mạc đỏ thẩm hoặc tím xanh, dày hoặc teo…sưng nề cuốn dưới, hốc mũi hẹp. Giai đoạn sau cuốn mũi sần sùi hay thoái hóa Polype thật sự, đặc biệt cuốn giữa quá phát, phủ mũi nhầy…

2.3.2. Chẩn đoán phân biệt:

– Viêm xoang, dị vật, viêm đặc hiệu, VA quá phát, u hạt các tính Granulome, khối u tân sinh…

2.4. Điều trị:

2.4.1. Điều trị nguyên nhân: Xác định nguyên nhân điều trị.

2.4.2. Điều trị triệu chứng:

Chống tắc mũi: Nhỏ mũi, xông – Chống chảy mũi: Các thuốc săn niêm mạc, co mạch…

2.4.3. Điều trị phẩu thuật:

– Tùy mức độ quá phát mà có thể can thiệp phẩu thuật từ nhẹ tới nặng: Bẻ cuốn, đốt cuốn, cắt cuốn một phần hoặc toàn bộ.

2.4.4. Điều trị bằng thuốc:

Thuốc thay đổi cơ địa, thuốc có lưu huỳnh, iode, photpho, dầu cá, nâng cao thể trạng.

2.5. Phòng bệnh:

Có chế độ phòng hộ ở nhà máy hóa chất, kiêng thuốc lá, giải quyết những gai kích thích, các ổ nhiểm trùng, lệch hình vách ngăn, viêm xoang, luyện thở, tập luyện trong mùa lạnh…

III.Viêm mũi dị ứng

Là bệnh rất phổ biến khoảng 3-7% (châu Âu 5-7%), có xu hướng ngày càng tăng, điều trị khó khăn, thường kết hợp dị ứng mũi xoang, hen… Lâm sàng: Có 2 thể: Viêm mũi dị ứng có chu kỳ và Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ.

3.1. Viêm mũi dị ứng có chu kỳ: Điển hình và quan trọng.

3.1.1. Triệu chứng lâm sàng: xuất hiện đột ngột thành cơn, thường khi sáng sớm ngủ dậy, khi thời tiết thay đổi. + Đầu tiên cảm giác ngứa mũi, cay mắt, khó chịu..,

+ Sau đó hắt hơi hàng tràng 5-7 cái 10 cái một lúc, không thể nín được

+ Chảy nước mắt,nước mũi trong như nước lã,vài ngày sau mũi đục do bội nhiễm

+ Ngạt mũi dữ dội, ngạt cả 2 bên, phải thở bằng miệng…

+ Nhức đầu, mệt mỏi, ngứa khắp đầu, có thể viêm đỏ màng tiếp hợp, rối loạn thần kinh thực vật, chán ăn, mệt mỏi, không làm việc được.

3.1.2. Tiến triển và biến chứng: Các cơn trên thường xuất hiện vào buổi trưa và buổi chiều, thưa dần, mỗi đợt vài ngày đến một tuần rồi lui bệnh dù có điều trị hay không.

Nếu kéo dài, nước mũi đặc dần, có màu, niêm mạc sẽ thoái hóa, viêm xoang thật sự, đau vùng xoang tương ứng, chọc xoang ít khi có mủ chỉ nhầy trong hoặc vàng…

3.1.3. Điều trị: Có điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng.

+ 3.1.3.1. Điều trị nguyên nhân: Giải mẩn cảm đặc hiệu khi tìm được dị ứng nguyên; đổi nghề nếu dị ứng nghề nghiệp.

+ 3.1.3.2. Điều trị triệu chứng: Kháng Histamin: Chlorpheniramin, Prometazinclohydrat, Pipolphen, Prothazin… – Giảm đau hạ sốt – kháng viêm Corticostéroide – Chống ngạt mũi, chảy mũi – Sinh tố và các chất thay đổi cơ địa- Thuốc nam: hút lá cà độc dược…

3.2. Viêm mũi dị ứng không chu kỳ:

+ Triệu chứng giống hệt loại có chu kỳ nhưng không có liên quan thời tiết, mùa nào bệnh cũng có thể xẩy ra. Cơn hắt hơi không kịch phát chỉ vài 3 cái, chủ yếu là ngạt mũi kéo dài, giữa 2 đợt hắt hơi niêm mạc không co lại, vì vậy niêm mạc mũi dễ thoái hóa.

+ Khám niêm mạc mũi nhợt nhạt, các cuốn nề to, thoái hóa, khe giữa đầy polype Xquang: Các xoang mờ, có thể có biến chứng hen phế quản.

+ Chẩn đoán không có gì khó khăn, nhưng chẩn đoán nguyên nhân vô cùng phức tạp. Khai thác tiền sử dị ứng là quan trọng, bố mẹ đều dị ứng thì tỷ lệ các con 60% dị ứng; chỉ bố hoặc mẹ dị ứng thì con là 27%, cả bố mẹ không dị ứng thì con cũng bị 12%.

+ Người ta có thể xét nghiệm tìm tế bào ái toan tăng cao trong nước mũi- Làm điện di miễn dịch tìm IgE trong huyết thanh-Làm test da với nhiều loại kháng nguyên để phát hiện nguyên nhân- Chuyển dạng Lymphô bào- Tìm khả năng cố định Histamin- Định lượng Histamin…Cần chẩn đoán phân biệt với viêm mũi cấp thông thường và viêm mũi vận mạch (không có tiền sử dị ứng, sau cơn BN bình thường…)

+ Điều trị: Nguyên tắc là loại bỏ các ổ nhiễm trùng (lò viêm) như viêm xoang, viêm A, viêm lợi răng… ; Điều trị các Antihistamine; Sử dụng các loại thuốc co mạch giảm phù nề, Trường hợp có thể dùng Corticostéroide, ngaòi ra điều trị triệu chứng do dị ứng mũi xoang gây ra như nhức đầu, kháng sinh nếu có bội nhiễm, …

Phẩu thuật: Chỉ định khi cuốn mũi quá phát, thoái hóa cuốn thành polype, vẹo vách ngăn…

PTS Nguyễn Tư Thế, SKCĐ

Bệnh chảy máu cam ở trẻ em

Ảnh: jupiterimages.com

Theo Bác sĩ Bùi Xuân Lam, chảy máu cam tuy ít nguy hiểm đến tính mạng, nhưng dễ làm bệnh nhân và người nhà hốt hoảng, lo lắng. Có rất nhiều nguyên nhân khiến trẻ bị chảy máu cam. Giới y học đã xếp thành các nhóm để tiện xử lý.

Chảy máu mũi trong hốc mũi

Viêm mũi cấp tính và mạn tính: tình trạng viêm mũi làm cho lớp chất nhày bảo vệ bề mặt niêm mạc mũi bị thương tổn, vì thế các mạch máu nằm ngay dưới đó cũng hay bị xước, rách gây chảy máu mũi.

Viêm mũi gây kích thích tạo ra dịch rỉ viêm gồm có nước, muối, protein và các thành phần hữu hình hòa tan, dịch làm tăng tính thấm thành mạch gây đau căng trong hốc mũi, tạo thành những chất dính gọi là dỉ mũi, bám chặt lên lớp niêm mạc mũi. Điều này làm trẻ hay cho tay vào mũi ngoáy, gây chảy máu mũi.

Dị vật mũi: trẻ nhét hạt cườm, hòn bi, hạt lạc… vào trong hốc mũi gây viêm loét và chảy máu mũi.

Dị hình hốc mũi: đây cũng là một trong những nguyên nhân gây viêm mũi dẫn đến chảy máu mũi.

Chấn thương mũi: do va chạm, do đánh nhau, do tai nạn giao thông hoặc tai nạn sinh hoạt làm rách hệ thống niêm mạc mũi. Nếu chấn thương nặng làm vỡ các mạch máu lớn trong hốc mũi có thể dẫn đến sặc máu, mất máu cấp với số lượng lớn có thể tử vong.

Các khối u hốc mũi lành hoặc ác tính: có thể có nhưng rất hiếm gặp ở trẻ em, chủ yếu là những khối u xơ vòm mũi họng hay gặp ở trẻ nam tuổi dậy thì. Bên cạnh dấu hiệu chảy máu mũi cần đánh giá dịch chảy ra có mùi hôi hoặc thối, bẩn để nghi ngờ đến bệnh lý ác tính.

Chảy máu mũi ngoài hốc mũi

Thường gặp do cúm, thương hàn, sốt xuất huyết – đây là những loại bệnh lý cũng hay gặp ở trẻ em. Ngoài ra bệnh lý viêm cầu thận cấp hay những trẻ em phải sử dụng thuốc chống đông kéo dài do điều trị một số bệnh tim mạch bẩm sinh.

Cách phòng bệnh

Theo bác sĩ Lam, nếu trẻ xuất hiện viêm mũi lâu ngày cần khám và điều trị ngay, giải thích cho trẻ không nên ngoáy mũi vì bên cạnh việc gây chảy máu mũi, đây cũng là một nguyên nhân làm nhiễm khuẩn mũi.

Khi thấy trẻ có biểu hiện về mũi, các bậc cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ bình tĩnh ngồi xuống hoặc nằm (nếu có thể) rồi dùng hai ngón tay bịt chặt hai lỗ mũi và thở nhẹ nhàng bằng miệng trong 5 đến 10 phút sẽ hết chảy máu.

Tuy nhiên, vì chảy máu mũi còn rất nhiều nguyên nhân khác nên khi trẻ xuất hiện chảy máu mũi nhiều lần phải đưa trẻ đi khám và điều trị tại các cơ sở tai mũi họng để tìm ra nguyên nhân giúp cho việc xử trí triệt để chảy máu mũi.

Ngoài ra, 2 lần một tuần bạn có thể dùng nước muối sinh lý rửa sạch mũi, không nên rửa nước muối nhiều lần vì cũng làm cho niêm mạc mũi mất đi lớp nhày bảo vệ và dễ bị tổn thương.

Theo VTC

Trị viêm mũi – viêm xoang dị ứng bằng nghệ

Tiếp xúc thường xuyên với vi khuẩn, hương liệu, hoá chất độc, phấn hoa, bụi không khí, khói thuốc… sẽ gây kích thích cho hàng rào niêm mạc mũi xoang và là nguyên nhân dẫn đến gia tăng bệnh viêm xoang, viêm mũi dị ứng.

Biểu hiện của viêm mũi dị ứng

– Hắt hơi liên tục nhiều lần không dứt đẫn đến đỏ mũi, viêm tắc, chảy nước mũi, mệt mỏi, khó chịu, đau cơ bụng, ngực…

– Sổ mũi, nghẹt mũi, ứ đọng dịch đờm nhày trong xoang mũi, xoang trán…

– Ngứa mũi, khô mũi, cảm giác khó chịu ở mũi…

Hậu quả người bệnh luôn khó chịu, mệt mỏi, đôi khi mất tự tin nơi công cộng, giảm chất lượng cuộc sống. Đó không chỉ là bệnh riêng của các tổ chức cơ quan mũi mà còn là hiện tượng dị ứng toàn thân biểu hiện tại mũi.

Đây là bệnh khá phổ biến ở mọi lứa tuổi và chiếm gần 30% dân số. Bệnh khó chữa vì một phần nguyên nhân phụ thuộc cơ địa mỗi người. Cho nên không có nguyên tắc điều trị cố định, mỗi bệnh nhân cần có cách điều trị riêng.

Tuy nhiên, lý tưởng nhất trong điều trị là làm cho mỗi bệnh nhân mất đi phản ứng quá mẫn khi tiếp xúc với dị nguyên.

Nghệ vàngThuốc quý trong điều trị viêm xoang, viêm mũi dị ứng

Nghệ vàng là một loại cây thuộc họ gừng. Qua nghiên cứu và phân tích, các nhà khoa học đã chứng minh được những thành phần trong tinh dầu nghệ có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe của con người như:

– Có hoạt tính chống viêm cấp tính và mãn tính

– Chống loét dạ dày và loạn tiêu hoá do có chứa Curcumine giúp dự phòng và cải thiện những thương tổn ở dạ dày do kích thích sản sinh chất nhày.

– Tác dụng kháng khuẩn, kích thích tái tạo các tổ chức bị tổn thương và liền sẹo.

Từ những tác dụng trên nghệ vàng đã được sử dụng vào việc điều trị bệnh viêm mũi, viêm xoang dị ứng: Thành phần Curcumine trong tinh dầu nghệ tươi sẽ giúp hồi phục vùng niêm mạc bị thương, đồng thời tăng khả năng chống đỡ với những yếu tố dị nguyên gây bệnh hay chính là làm cho cơ thể mất đi phản ứng quá nhạy cảm khi tiếp xúc với những dị nguyên.

Bởi như chúng ta đã biết, viêm mũi dị ứng, viêm xoang là biểu hiện của hiện tượng niêm mạc xoang trong bộ máy hô hấp bị viêm hay tổn thương do tiếp xúc thường xuyên với các yếu tố độc hại trong môi trường (hay còn gọi là những dị nguyên).

Xuất phát từ những nhận định trên, công ty cổ phần Sao Thái Dương đã thành công trong đề tài nghiên cứu chế tạo sản phẩm Thuốc xịt mũi Thái Dương – liệu pháp viêm mũi – viêm xoang dị ứng mới có nguồn gốc thảo dược (nghệ tươi) với các thành phần Camphol và Menthol được sử dụng trong thuốc sẽ kích thích khả năng hấp thu thành phần Curcumine nhanh hơn.

Cảm giác khó chịu do viêm mũi, viêm xoang sẽ nhanh chóng được khắc phục, đem lại sự dễ chịu cho người bệnh ngay sau khi xịt thuốc đồng thời thuốc còn có tác dụng kéo dài, hạn chế tái phát.

Chứng viêm mũi

Các thuốc gây co mạch có thể chữa triệu chứng ngạt do viêm mũi. Tuy nhiên, việc lạm dụng nó có thể tạo ra hiện tượng viêm mũi do thuốc và lệ thuộc vào thuốc.

Mũi là bộ phận cửa ngõ của đường hô hấp, nơi tiếp nhận, lọc sạch, sưởi ấm, làm ẩm không khí. Mũi giúp con người cảm nhận được mùi vị. Khoang mũi có cấu tạo rất phức tạp để đảm nhận các chức năng ngửi, thở và phát âm. Tầng trên của mũi làm nhiệm vụ cảm nhận mùi, nơi tập trung đầu mút của dây thần kinh khứu giác. Việc chức năng này bị chèn ép hoặc tổn thương sẽ ảnh hưởng lớn tới sự cảm nhận mùi và gián tiếp gây giảm chức năng sinh lý.

Tầng dưới mũi tham gia quá trình hô hấp, dẫn luồng không khí từ ngoài qua mũi tới họng rồi vào phổi. Tầng này chịu ảnh hưởng của cuốn mũi dưới. Khi viêm, cuốn mũi có thể nở to ra, chèn ép toàn bộ khe thở, gây hiện tượng ngạt tắc mũi. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách, cuốn mũi có thể bị giãn nở to liên tục, không còn co lại khi dùng thuốc co mạch (loại thuốc chống ngạt mũi). Do vậy, những thuốc co mạch này phải được dùng dưới sự theo dõi chặt chẽ của các bác sĩ tai mũi họng, tránh dùng quá lâu gây ra hiện tượng viêm mũi do thuốc hoặc lệ thuộc vào thuốc. Trong trường hợp đó, phải xử lý bằng ngoại khoa mới có kết quả, chẳng hạn như đốt cuốn mũi dưới bằng điện hoặc bằng laser, cắt bỏ cuốn dưới một phần hoặc toàn bộ.

TS Phạm Trần Anh, Sức Khỏe & Đời Sống


Lạm dụng thuốc nhỏ mũi làm ngạt mũi nặng hơn

Để giảm bớt sự khó chịu do chứng ngạt mũi đem lại, nhiều bệnh nhân nhỏ thuốc naphazolin và thấy đỡ hẳn. Từ đó, hễ bị ngạt là họ nhỏ thuốc thường xuyên, lâu dần gây nhờn hoặc lệ thuốc thuốc. Nếu không nhỏ, mũi càng ngạt hơn trước.

Naphazolin là một loại thuốc co mạch mạnh có tác dụng tại chỗ. Khi mũi tắc, chỉ cần nhỏ thuốc là mũi thông ngay. Điều này dễ gây lạm dụng thuốc mỗi khi bị cảm cúm nhẹ gây ngạt mũi. Nếu nhỏ một vài lần và cách xa nhau thì vô hại nhưng nếu dùng lâu, niêm mạc mũi do thiếu sự tưới máu cần thiết sẽ trở nên bị phù nề, các cuốn mũi bị quá phát, gây nghẹt mũi.

Naphazolin mỗi khi tiếp xúc với niêm mạc mũi sẽ lập tức gây co mạch mạnh, làm mũi thông thoáng, nhưng tiếp đó lại có hiện tượng “dồn máu trở lại” làm tắc mũi, đòi hỏi phải nhỏ tiếp. Mặt khác, niêm mạc mũi sau nhiều lần nhỏ thuốc sẽ bị phù nề, trở thành kém nhạy cảm đối với thuốc nên đòi hỏi phải nhỏ nhiều thêm, gây ra cái vòng luẩn quẩn khiến người bệnh không rời bỏ được thuốc và ngày càng phải tăng thêm số lần cũng như lượng thuốc nhỏ.

Muốn điều trị có kết quả, bệnh nhân phải ngừng ngay hoặc từng bước ngừng việc nhỏ mũi bằng naphazolin. Để đối phó với triệu chứng nghẹt mũi, bạn có thể châm hoặc day huyệt nghinh hương ở hai bên cánh mũi (có tác dụng làm đỡ nghẹt). Ở tư thế nằm, mũi dễ tắc hơn do máu dễ dồn lên đầu. Vì thế buổi tối trước khi đi ngủ, bạn nên hoạt động thể dục hoặc đi bộ để máu được phân bố điều hòa cho các bộ phận, sẽ dễ ngủ hơn.

Ngoài ra, bạn nên đến khám bệnh ở một cơ sở chuyên khoa tai mũi họng có trang bị tốt để được chẩn đoán chính xác. Nếu đúng là viêm mũi mạn tính với cuốn mũi phình to do quá phát niêm mạc, thầy thuốc chuyên khoa có thể giúp bạn dễ thở hơn bằng các kỹ thuật giản đơn (như bẻ cuốn mũi, đốt cuốn mũi bằng điện hoặc laser) trước khi phẫu thuật cắt bỏ phần quá phát của cuốn mũi (nếu cần thiết).

GS Phạm Kim, Sức Khỏe & Đời Sống


Ngạt mũi và cách chữa trị

Thông thường, chúng ta rất chủ quan với hiện tượng ngạt mũi và dễ bỏ qua. Nhưng theo các chuyên gia tai mũi họng, đây là một dấu hiệu cần được quan tâm theo dõi vì có thể là triệu chứng của các bệnh lý nguy hiểm như khối u, dị vật…

Hiện tượng ngạt mũi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, là cấp tính hoặc mạn tính. Bình thường, chúng ta thở đường mũi một cách chậm rãi, đều đặn, không có tiếng kêu và miệng thì ngậm lại; khi bịt một bên mũi, ta vẫn thở được dễ dàng. Khi ngạt mũi, ta thở khó khăn và có tiếng kêu; nếu bịt một bên mũi, ta sẽ ngạt và phải thở bằng miệng. Người bị ngạt mũi ban đêm hay ngáy và sáng dậy họng bị khô, có cảm giác vướng họng, thường xuyên phải đằng hắng. Khi thở bằng miệng, không khí đi vào không được lọc sạch và sưởi ấm nên dễ gây viêm họng, viêm thanh quản, phế quản… Bệnh nhân không phát âm được những chữ m, n và nói giọng mũi kín.

Một số trường hợp tắc mũi gây ù tai, nghe kém do viêm phù nề và mủ đọng (làm tắc đường thông thương giữa mũi và tai). Viêm nhiễm ở mũi lâu dài có thể lan lên mắt, gây viêm túi lệ, viêm màng tiếp hợp, viêm mí mắt (thông qua ống dẫn mắt mũi). Tình trạng ngạt tắc mũi thường xuyên ảnh hưởng xấu đến khuôn mặt như gây hẹp hàm ếch, răng vẩu, cằm nhô, lồng ngực xẹp… Bệnh nhân ngạt mũi thường xuyên thường bị thiếu không khí nên không được linh hoạt, hay chậm chạp, lười biếng, nhức đầu và khó tập trung tư tưởng.

Có thể đánh giá mức độ ngạt mũi bằng cách bịt từng bên mũi, để lưng bàn tay vào sát lỗ mũi bên kia để nghe luồng khí đi qua. Cũng có thể hoặc đặt một gương nhỏ trước cửa mũi rồi thử từng bên xem có mờ gương hay không.

Ngạt mũi có rất nhiều nguyên nhân:

– Dị tật bẩm sinh: Thường gặp ở trẻ mới đẻ do cửa mũi phía sau bị bịt bởi một lớp màng hoặc mảnh xương. Trẻ thường khó thở do phản xạ thở bằng mồm chưa hoàn thiện. Nếu không được xử trí kịp thời, trẻ có thể tử vong.

– Viêm nhiễm: Viêm mũi họng ở trẻ em, viêm mũi xoang…

– Khối u: Lành tính hoặc ác tính.

– Chấn thương hoặc có dị vật trong mũi: Thường do trẻ em tự nhét vào mũi các hạt lạc, sáp màu…

– Rối loạn cảm giác ở mũi: Đường thở thông nhưng bệnh nhân vẫn kêu ngạt mũi, thường xảy ra ở những người mất cảm giác tại mũi.

– Rối loạn nội tiết: Hay xảy ra ở những phụ nữ có thai.

Với những trường hợp ngạt mũi do viêm nhiễm cấp tính, có thể dùng một số lá xông chứa tinh dầu hoặc thuốc có tinh dầu để xông mũi trong 5-10 phút. Không nên dùng thuốc quá nóng hoặc nhỏ quá nhiều vì hơi thuốc sẽ bốc lên mạnh, rất khó chịu. Không dùng cách này cho trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi.

Nếu nhỏ thuốc co mạch, không được dùng quá 10 ngày vì dễ gây viêm mũi do thuốc – một loại bệnh rất khó điều trị. Tốt nhất là nên đến thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng để có phương pháp điều trị đúng đắn ngay từ đầu.

GS Phạm Khánh Hòa, Sức Khoẻ & Đời Sống