Category Archives: Tai Mũi Họng – họng miệng

NGÁY VÀ HỘI CHỨNG NGƯNG THỞ LÚC NGỦ

Giấc ngủ là nhu cầu sinh lý thiết yếu của con người, trung bình người bình thường cần 6-8 giờ ngủ trong một ngày hoặc ngủ chiếm khoảng 1/3 thời gian đời người. Ngủ được xem là một quá trình động liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa não, các trung tâm tiềm thức và sự nghỉ ngơi của cơ thể, vì vậy rối loạn giấc ngủ rất có hại cho sức khỏe nói chung và cho công việc hằng ngày nói riêng.

Ngáy là âm phát ra trong khi ngủ do sự rung động phần mềm ở mũi và thành sau họng. Âm ngáy do dòng không khí bị xáo động khi đi ngang qua khoảng hẹp. Nói chung trong hầu hết các trường hợp ngáy không phải là một bệnh lý ngoại trừ việc gây khó chịu hoặc làm mất ngủ cho những người xung quanh. Tuy nhiên một số bệnh lý quan trọng liên quan đến ngáy như ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn hoặc các bệnh lý tim mạch khác có thể gây đột tử trong khi ngủ.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY NGÁY

Tần xuất ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn gia tăng theo tuổi tác, ở tuổi 30-60, 2% phái nữ, 4% phái nam và khoảng 60% người lớn tuổi có hội chứng ngưng thở lúc ngủ và ngáy.

  • Thường xảy ra ở người béo phì, mô mở tích tụ nhiều ở thành bên họng hoặc đáy lưỡi quá lớn gây hẹp đường thở và làm giảm trương lực cơ vùng họng gây ngáy và ngưng thở lúc ngủ.
  • Phái nam thường bị 7-10 lần nhiều hơn so với phái nữ, ở phái nữ thường khởi phát sau tuổi mãn kinh.
  • Có liên quan đến tiền sử gia đình và di truyền.
  • Bại liệt và teo cơ gây ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn.
  • Một số bệnh lý khác như viêm xoang, dị ứng, cảm nhiễm, các u vùng mũi và suy giáp cũng có thể gây ngáy và ngưng thở lúc ngủ tạm thời.

SINH LÝ BỆNH

Ngưng thở lúc ngủ là dạng nặng của tắc nghẽn đường hô hấp, biểu hiện đầu tiên thường là ngáy với những cơn ngưng thở kéo dài từ 10-20 giây do:

  • Quá phát các cuống mũi nhất là cuống mũi dưới, vẹo lệch vách ngăn.
  • Quá phát amidan, VA
  • Bất thường khung sọ mặt.
  • Các mô mềm vùng họng như khẩu cái mềm, lưỡi gà, đáy lưỡi bị sụp vào thành sau họng gây tắc nghẽn đường thở.
  • Áp lực âm trong thì hít vào làm phần mềm bị hút vào lòng ống hô hấp khiến tiết diện ống hẹp lại và gây tắc nghẽn đường thở

veovachngan

Vẹo vách ngăm mũi

quaphatamidan

Quá phát Amiđan

polypype

Polype mũi

Phì đại cuống mũi dưới

Chu kỳ ngáy-ngưng thở lúc ngủ:

  • Trong hội chứng ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn: bắt đầu bằng ngáy, sau đó là ngưng thở từ 10-20 giây và không còn phát ra tiếng ngáy, để đưa không khí vào phổi ở cuối giai đoạn ngưng thở người bệnh thường trở giấc trong trạng thái lơ mơ, lúc này trương lực cơ họng, lưỡi, màng hầu tăng lên giúp đường thở mở ra, tiếp đến với tiếng khịt mũi hoặc âm ú ớ phát ra từ họng, cuối cùng bệnh nhân thở trở lại và tiếp tục ngủ. Chu kỳ ngáy có thể xảy ra 5-7 lần trong một giờ ngủ.
  • Chu kỳ ngưng thở lập lại nhiều lần trong đêm.

Các đặc trưng của ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn.

  • Thay đổi tư thế nằm khi trở giấc để có thể thở dễ dàng hơn.
  • Chứng ngủ gật ban ngày, khó tập trung vào công việc, trạng thái lo lắng, dễ bị trầm cảm và giảm khả năng tình dục.

Các bệnh lý liên quan.

  • Tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch, cơn đau tim và đột qụi
  • Tăng áp động mạch phổi.
  • Lú lẫn, giảm trí nhớ, tâm lý không ổn định.

THĂM KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

  • Đánh giá cân nặng và huyết áp.
  • Chức năng tuyến giáp.
  • Nội soi mũi xoang để phát hiện các bất thường ở vùng này như vách ngăn mũi, quá phát cuốn mũi hoặc các khối u vùng mũi.
  • Thăm khám họng vòm họng để đánh giá khẩu cái mềm, lưỡi gà, đáy lưỡi.
  • Trong trường hợp nặng bệnh nhân cần nhập viện và thực hiện các xét nghiệm trong khi ngủ nhằm đánh giá và xác định mức độ ngưng thở lúc ngủ.

ĐIỀU TRỊ

1. Tự điều trị

  • Do ngáy thường xuất hiện khi ngủ ở tư thế nằm ngữa, vì vậy nên tập nằm nghiêng một bên, có thể hỗ trợ tư thế này bằng một gối dài chèn ép ở lưng.
  • Tập thể dục thường xuyên và chế độ dinh dưỡng hợp lý để giảm cân.
  • Tránh dùng rượu nhất là 4 giờ trước khi ngủ.
  • Tránh dùng các thuốc an thần, thuốc ngủ. Điều cần lưu ý rượu, thuốc an thần và thuốc ngủ gây giãn các cơ họng, làm hẹp lòng đường thở gây ngáy và ngưng thở lúc ngủ.

2. Điều trị nội khoa

Đối với ngáy nhẹ do phù nề niêm mạc họng mũi

  • Sử dụng các thuốc xịt corticoid tại chỗ.
  • Thở áp lực dương liên tục qua mặt nạ thở giúp các mô mềm không bị sụp vào lòng ống hô hấp nhằm duy trì đường thở tốt. Phương pháp này được đánh giá thành công từ 90-95%, điểm bất tiện của phương pháp này là phải đeo mặt nạ suốt đêm và lệ thuộc vào sự vận hành của máy thở, sự vận hành máy này không đơn giản.

3. Phẫu thuật

  • Chỉ thực hiện khi các biện pháp nêu trên thất bại và ngáy-ngưng thở lúc ngủ có nguyên nhân từ các bất thường cấu trúc giải phẫu.
  • Nhiệt điện cực (somnoplasty): sử dụng điện cực nhỏ đặt ở màng hầu và nhiệt độ được tăng dần làm mô mềm ở vòm họng co và rút ngắn, phương pháp này kéo dài trong vài tuần.
  • Cắt amidan, VA khi có chỉ định.
  • Cắt một phần màng hầu và lưỡi gà.

Nghiên cứu gần đây cho thấy sự rung màng hầu là nguyên nhân chủ yếu gây ngáy, yếu tố gây rung lệ thuộc vào chiều dài và độ căng của màng hầu, vì vậy phẫu thuật điều trị ngáy dựa trên hai nguyên lý này với phẫu thuật cắt bỏ phần giữa niêm mạc màng hầu, kể cả lưỡi gà. Phương pháp này có ưu điểm:

  • Xơ hóa cơ màng hầu.
  • Tăng độ căng màng hầu.
  • Ít đau.
  • Chống hiện tượng trào ngược thức ăn, nước uống lên mũi.

Tuy nhiên hiệu quả lâu dài đối với ngáy vẫn cần phải nghiên cứu nhiều.

TS. BS. Đặng Xuân Hùng

Theo: Obstructive sleep apnea syndrome. Sydney Snoring Clinic-OSA. April 08 2008)

Advertisements

Nhiễm trùng khoang bên họng

Mục tiêu.

1. Kể được ít nhất 3 tên các khoang cổ sâu
2. Nêu được các thành phần giải phẫu quan trọng của khoang trước trâm, sau trâm
3. Nêu được triệu chứng lâm sàng của nhiễm trùng khoang bên họng
4. Nêu được thái độ xử trí của nhiễm trùng khoang bên họng
5. Kể được ít nhất 3 biến chứng của nhiễm trùng khoang bên họng

Nội dung:

– Các khoang bên họng là khoang ảo, dễ bóc tách tụ mủ, tạo bởi các cân cổ nông và sâu, thông với nhau và thông với trung thất, vì thế nhiễm trùng thường lan tỏa.

– Nội dung bên trong các khoang có thể là mạch máu, thần kinh quan trọng nên khi tổn thương có rất nhiều biến chứng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao.

– Nguyên nhân gây bệnh thường vi khuẩn kỵ khí nên tổn thương rất trầm trọng.

– Giải phẫu rất phức tạp, liên quan nhiều bình diện và nhiều mạch máu lớn, thần kinh quan trọng nên phẫu thuật dẫn lưu phải do các phẫu thuật viên Đầu cổ, có kinh nghiệm, trang thiết bị thích hợp và có sự hỗ trợ thường trực của các phẫu thuật viên Mạch máu.

Giải phẫu

-Là 1 trong 11 khoảng của vùng cổ sâu, còn có rất nhiều tên khác là: Khoang bên họng (lateral pharyngeal space), Khoang họng hàm (pharyngomaxillary space), Khoang chân bướm hàm (pterygomaxillary space), Khoang chân bướm Họng (pterygopharyngeal space)

– Các khoảng đó là:

– Khoang quanh họng (Pharyngomaxillary hay là Parapharyngeal space): khoảng trước trâm, khoảng sau trâm

– Khoang quanh Amiđan (Peritonsillar space)

– Khoang sau họng (Retropharyngeal space)

– Khoang trước cột sống (Prevertebral space)

– Khoang “Nguy hiểm” sát trước cột sống (Danger space)

– Khoang mạch cảnh (Vascular visceral space)

– Khoang cơ nhai( Masticator space)

– Khoang dưới hàm (Submandibular space)

– Khoang trước khí quản(Pretracheal hay là anterior visceral space)

– Khoang quanh tuyến mang tai( Parotid space)

– Khoang Thái dương( Temporal space)

Ngoài ra còn một số khoảng nhỏ khác như : Trên xương móng(Suprahyoid space), dưới xương móng( Infrahyoid space)

Mô tả giải phẫu:

– Hình tháp ngược: Đáy là nền sọ, Đỉnh là sừng lớn xương móng, Trên là xương thái dương, Dưới là phần nối của bụng sau cơ nhị thân và xương móng

– Giữa: Cân họng và thành họng bên

– Thành bên: Cân cơ chân bướm giữa, Ngành đứng xương hàm dưới, Phần sâu của Tuyến mang tai, Bụng sau cơ nhị thân. Hai dây chằng: bướm hàm, trâm hàm

– Thành sau: cột sống, các cơ cạnh sống

– Thành trước: Cơ chân bướm giữa

– Hoành trâm chia khoang này ra hai vùng: Trước trâm, Sau trâm

– Khoảng trước trâm:

  • Phần sâu tuyến mang tai
  • Tuyến nước bọt phụ
  • Nhánh dây V cho cơ căng màn hầu
  • Động mạch hầu xuống và đám rối tĩnh mạch


– Khoảng sau trâm

  • Động mạch cảnh trong
  • Tĩnh mạch cảnh trong
  • IX, X, XI, XII
  • Glomus, tiểu thể quanh mạch máu lớn vùng cổ
  • Hạch thần kinh giao cảm cổ

Triệu chứng lâm sàng:

– Đau họng
– Nuốt đau
– Sưng cổ
– Cứng cổ
– Khít hàm
– Đau tai
– Khàn tiếng
– Sốt cao
– Hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc
– Đẩy phồng trụ sau Amiđan, giọng nói thay đổi
– Chèn ép thần kinh, IX, X, XI, XII, giao cảm cổ…

Cận lâm sàng

– CT Scanner: khối mủ đẩy động mạch, bóc tách các khoang lân cận, phân biệt giữa ổ áp xe và viêm tấy tỏa lan vùng cổ sâu

– MRI: Nhìn được rõ ràng các lớp tổn thương hơn CT Scanner

Xử trí

1. Nội khoa

– Kháng sinh phổ rộng kết hợp chống kỵ khí

– Corticoid liệu pháp

– Điều trị triệu chứng

– Nếu sau 24h các triệu chứng không thuyên giảm thì chỉ định phẫu thuật

2. Ngoại khoa

– Vùng can thiệp rất nhiều tổ chức quan trọng và rất khó bộc lộ nên phải được thực hiện tại các Trung tâm phẫu thuật Đầu cổ lớn, và có sự hỗ trợ thường trực của các phẫu thuật viên mạch máu.

– Chọc hút kim nhỏ

– Trích rạch dẫn lưu ổ mủ: Lưu ý là nên trích rạch từ trên cao xuống, không chọc ngay vào chỗ thấp, căng, đặc biệt khi ổ mủ lớn ở trẻ nhỏ, dễ bị sặc vào đường thở. Hút dần giảm áp lực ổ mủ rồi tiếp tục trích rạch rộng, dẫn lưu.

– Dẫn lưu đường ngoài: Rạch rộng dọc theo bờ cơ ức đòn chũm, bộc lộ toàn bộ vùng máng cảnh, với nguyên tắc từ nông vào sâu theo bình diện ngang thật rộng rãi, từ vùng ít nguy hiểm đến vùng nguy hiểm, từ vùng dễ bóc tách đến vùng xơ dính, luôn sẵn sàng xử trí tai biến mạch máu lớn vì các mạch này rất dễ bị rách, thủng do nhiễm trùng.

Tai biến

– Chảy máu các mạch lớn: tỷ lệ tử vong rất cao
– Viêm trung thất, hay kèm nhiễm trùng nhiễm độc

– Nhiễm trùng máu

– Viêm tắc tĩnh mạch cảnh trong

– Viêm phổi

Dị vật đường ăn

Mục tiêu

1.Trình bày được dịch tễ học của dị vật đường ăn hiện nay ở Việt Nam.

2.Mô tả được triệu chứng các giai đoạn của dị vật đường ăn.

3.Kể ra được các thể lâm sàng và các triệu chứng của đường ăn.

4.Kể ra được các biện phápxử trí ban đầu các biến chứng của dị vật đường ăn.

5.Tuyên truyền được các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu cho y tế cộng đồng, y tế tuyến cơ sở và tuyến chuyên khoa.

Nội dung

Mở đầu

– Dị vật đường ăn là những vật mắc lại trên đường ăn từ họng xuống đến tâm vị.

– Là cấp cứu thường gặp trong TMH Việt Nam.

1. Đặc điểm dịch tễ học.

– Là cấp cứu thường gặp trong TMH.

– Tỷ lệ tử vong gặp hàng thứ 2 sau biến chứng nội sọ do tai.

– Tuổi: chủ yếu gặp ở người lớn, cứ 2 người lớn 1 trẻ em.

– Giới: Nam gặp 57,5%, nhiều hơn nữ 42,5%.

– Tỷ lệ đến muộn: sau 7 ngày 27%(Võ Thanh Quang – Luận văn nội trú 1987).

– Bản chất dị vật:

* Hữu cơ

* Vô cơ.

* Nguyên nhân

2. Giải phẫu bệnh học:

* Năm chỗ hẹp tự nhiên:

* Những biến đổi của thực quản khi có dị vật.

3. Lâm sàng:

3.1. Giai đoạn đầu

– Không sốt

– Cơ năng

– Thực thể

Lọc cọc thanh quản – cột sống có thể giảm hoặc mất.

– X quang: phim cổ nghiêng.

Phim phổi thẳng.

* Hướng xử trí.

– Nội soi thực quản gắp dị vật.

– Chống nhiễm trùng chống viêm.

Phòng biến chứng.

3.2. Giai đoạn biến chứng.

3.2.1. Viêm tấy hoặc áp xe thành thực quản.

– Xuất hiện sau 24 – 48h.

* Toàn thân.

– Cơ năng.

* Thực thể.

Mất lọc cọc thanh quản – cột sống.

*X quang: Phim cổ nghiêng.

* Hướng xử trí.

– Nội soi thực quản gắp dị vật + Hút mủ.

– Đặt sonde thực quản: chống viêm + nuôi dưỡng

– Chống nhiễm trùng + chống viêm.

3.2.2. Viêm tấy hoặc áp xe quanh thực quản.

* Toàn thân

* Thực thể:

* X quang.

Phim phổi thẳng: trung thất giãn rộng hình ống khói.

* Hướng xử trí: Xquang Phim phổi thẳng

– Áp xe thực quản cổ: Mở cạnh cổ.

– Áp xe trung thất.

Hồi sức tốt. Mở dẫn lưu áp xe, lấy dị vật bằng nội soi hoặc mở lồng ngực.

Chống Shock, chống viêm, chống nhiễm trùng, nâng cao thể trạng tích cực.

3.3. Các thể lâm sàng.

– Dị vật xuyên ra ngoài thực quản.

– Dị vật trên bệnh nhân hẹp thực quản.

4. Biến chứng

– Viêm tấy mô liên kết lỏng lẻo ở cổ.

– Viêm trung thất.

– Viêm phế mạc mủ.

– Thủng động mạch cảnh

5. Phòng bệnh

5.1. Tuyên truyền cộng đồng.

5.2. Y tế cơ sở.

5.3. Y tế tuyến chuyên khoa.

Khó thở thanh quản

Mục tiêu

Mô tả được triệu chứng, tiêu chuẩn chẩn đoán xác định và chẩn đoán giai đoạn của khó thở thanh quản(KTTQ).

Nêu được các nguyên nhân của KTTQ

Kể ra được các biện pháp xử trí ban đầu với từng gia đoạn của KTTQ.

Tuyên truyền được các biện pháp phòng bệnh viêm mũi họng, V.A và nhiễm khuẩn hô hấp trên cho y tế cộng đồng, y tế tuyến cơ sở và tuyến chuyên khoa.

Nội dung

– KTTQ ở trẻ em hay gặp do viêm nhiễm, do dị vật đường thở, do dị tật bẩm sinh.

– KTTQ ở người lớn hay gặp do khối u, do sẹo hẹp thanh quản, do liệt thanh quản.

1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý

– Thanh quản là ống xơ- sụn.

– Về tổ chức học: lớp niêm mạc và dưới niêm mạc.

– Thanh môn là nơi hẹp nhất của đường hô hấp trên.

– Sự hẹp lòng thanh quản làm bệnh nhân không đủ thở gây khó thở thanh quản.


2. Triệu chứng của KTTQ

2.1 Triệu chứng chính

– Khó thở vào, Khó thở chậm, Khó thở có tiếng rít.

2.2 Triệu chứng phụ

– Co kéo cơ hô hấp, hõm trên ức, Tím tái, Thay đổi giọng, Quấy khóc, hoảng hốt (ở trẻ nhỏ), Biến đổi sinh hóa máu.


3. Giai đoạn của KTTQ ( Mức độ )

– Giai đoạn1: Khó thở khi gắng sức.

– Giai đoạn 2: KTTQ điển hình

– Giai đoạn 3: KTTQ không điển hình, có cơn ngừng thở.


4. Nguyên nhân của khó thở thanh quản

4.1 Do viêm nhiễm:

– Do virus, Do vi khuẩn, VTQ do cúm, VTQ do sởi, VTQ do bạch hầu, VTQ do lao

4.2 Do dị vật:

4.3 Do chấn thương:

4.4 Do khối u:

4.5 Do liệt thần kinh vận động thanh quản

4.6 Do dị tật bẩm sinh: do mềm sụn thanh quản

4.7 Do các nguyên nhân khác: co thắt thanh quản do uốn ván…


5. Hướng xử trí

5.1 Giai đoạn 1:

Cho bệnh nhân nghỉ ngơi, theo dõi chặt

– Thuốc: Kháng sinh, Chống phù nề, Thở ôxi, Tìm nguyên nhân và gửi khám chuyên khoa Tai Mũi Họng.

5.2 Giai đoạn 2: Mở khí quản cấp cứu

– Thuốc: kháng sinh, Chống phù nề, Tìm nguyên nhân và chuyển tuyến trên.

5.3 Giai đoạn 3: Thở ôxi

– Đặt nội khí quản, Mở khí quản cấp cứu.

– Chuyển bệnh viện chuyên khoa.


6. Phòng bệnh

6.1 Cộng đồng ( Gia đình , vườn trẻ trường học…)

6.2 Y tế cơ sở:

6.3.Tuyến chuyên khoa:

– Xử trí sớm , chính xác nhằm đảm bảo thông khí cho bệnh nhân.

– Phát hiện nguyên nhân để điều trị.

Viêm Amiđan


Viêm amiđan là gì?

Viêm amiđan là một bệnh lí viêm nhiễm của amiđan (còn gọi là hạnh nhân khẩu cái).

Có hai hạnh nhân nằm hai bên ở thành sau cổ, thuộc hệ miễn dịch của cơ thể. Giống như các thành phần khác của hệ miễn dịch, trong hạnh nhân khẩu cái chứa các tế bào có nhiệm vụ đặc biệt đó là bắt và tiêu diệt các loại vi trùng, virus (siêu vi). Nếu ổ nhiễm trùng nằm ngay tại amiđan, nó sẽ sưng phồng lên, đỏ, và có thể xuất hiện lốm đốm màu trắng (còn gọi là giả mạc).

Viêm amiđan có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường nhất là thanh thiếu nhi. Ðặc trưng của bệnh là cảm giác đau ở cổ và khó nuốt.

Viêm amiđan thường tự giới hạn, tuy nhiên sẽ tiến triển nhanh và tốt hơn nếu điều trị. Bệnh ít khi gây biến chứng.

Nguyên nhân nào gây ra viêm ami-đan?

Bệnh có thể do lây nhiễm virus hay vi trùng qua không khí (đường hô hấp), qua tiếp xúc tay chân, và lây khi hôn nhau.

Có nhiều chủng virus và vi trùng có thể gây bệnh này. Ví dụ virus Epstein – Barr (gây bệnh sốt tuyến) là nguyên nhân khá phổ biến. Thường gặp nhiều ở người trẻ tuổi, nhất là người sống tập thể, trong các kí túc xá nơi mà sinh hoạt hàng ngày có nhiều sự đụng chạm, chung chạ. Liên cầu khuẩn nhóm A là loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất. Giai đoạn ủ bệnh (giai đoạn từ khi nhiễm bệnh đến khi có triệu chứng) thường từ 2 đến 4 ngày, đôi khi thời gian này còn ngắn hơn nữa.

Triệu chứng của viên amiđan là gì?
Ðau họng kéo dài ít nhất 48 giờ, đau có thể kèm theo khó nuốt. Ðôi khi đau lan ra tai.
Khám thấy họng đỏ, hai amiđan sưng phồng, có thể những đốm màu trắng trên amiđan.
Có thể có sốt.
Sưng các hạch vùng dưới cằm, hạch cổ.
Ðau đầu.
Khàn tiếng hay mất tiếng.

Nếu nguyên nhân gây bệnh là siêu vi thì các triệu chứng thường nhẹ hơn và xuất hiện thường vào mùa lạnh. Do virus Coxsackie, thường xuất hiện những bóng nước ở hai amiđan và vòm họng, khi các bóng nước này vỡ ra chỗ vỡ sẽ mọc vẩy và gây đau cho bệnh nhân.

Do liên cầu trùng (streptococcal), amiđan thường sưng lên, có tưa, và đau họng. Bệnh nhân có sốt, hơi thở hôi, và có thể cảm thấy khá mệt mỏi.

Tuy nhiên không phải lúc nào cũng là những dấu hiệu trên, mà chúng thay đổi. Nên không thể chỉ quan sát họng bệnh nhân mà có thể chẩn đoán được tác nhân gây bệnh (chỉ gợi ý phần nào trong trường hợp các tổn thương khá điển hình).Cần phải làm gì khi bị viêm ami-đan?

Nếu họng đau kéo dài vài ngày, hay khó nuốt nghiêm trọng, sốt cao và nôn ói, thì nên đi khám bác sĩ.

Uống nước ấm, ăn thức ăn mềm dễ nuốt, dùng các thuốc ngậm trị đau họng, nước xúc miệng để cải thiện tình trạng khó nuốt.

Có thể dùng các thuốc thông thường không cần kê đơn, mua tại tiệm thuốc.

Uống nhiều nước, vì ngoài tính trạng khó nuốt ảnh hưởng đến việc ăn uống thì sốt và thở bằng đường miệng khi bệnh làm mất nhiều nước của cơ thể. Sự thiếu nước càng làm cho bệnh nhân mệt mỏi.

Cần nghỉ ngơi tại một nơi ấm áp, tránh lạnh.

Chấn đoán viêm ami-đan bằng cách nào ?

Bác sĩ có thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, nhưng đôi khi cũng cần những xét nghiệm khác như : xét nghiệm chất dịch tiết ra từ vùng viêm nhiễm (bằng cách dùng gạc thấm chất dịch này và đem đi nuôi cấy xác định loại vi khuẩn gây bệnh) hay các xét nghiệm máu.


Các biến chứng có thể gặp khi bị viêm ami-đan ?

Thông thường viêm hạnh nhân khẩu cái bệnh thường tự giới hạn trong khoảng 1 tuần, không gây biến chứng cũng như không để lại di chứng gì. Nhưng nó cũng có thể gặp một số biến chứng sau :

Nhiễm trùng thứ phát vào tai giữa hay vào các xoang lân cận.

Nếu nguyên nhân là liên cầu trùng, bệnh nhân có thể nổi mẩn đỏ trên da (phát ban màu đỏ) – sốt tinh hồng nhiệt.

biến chứng hiếm gặp là áp xe ở họng. Nếu ổ áp xe lớn đôi khi cần can thiệp phẫu thuật.

Trong một số trường hợp hiếm gặp hơn nữa, bệnh tiến triển giống như sốt thấp (bệnh thấp cấp tính), hay gây biến chứng lên thận (gây viêm cầu thận cấp). Các trường hợp này ít gặp trong những thập niên gần đây. (riêng tại Việt Nam vẫn còn khá nhiều).

Ðiều trị viêm ami-đan như thế nào ?

Hầu hết bệnh nhân viêm ami-đan do siêu vi chỉ cần dùng paracetamol để hạ sốt. Aspirin vai trò cũng tương tự nhưng không nên dùng cho trẻ dưới 16 tuổi nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Một số ít bệnh nhân viêm amiđan do vi trùng thì cần dùng penicillin hoặc erythromycin thay thế nếu bệnh nhân dị ứng với penicillin. Khi đã sử dụng thuốc kháng sinh, cần dùng thuốc đủ liều và liên tục nếu không các nhiễm trùng này khó chữa khỏi.

Phẫu thuật cắt bỏ amiđan có thể thực hiện được ở người bị nhiễm trùng nặng và tái đi tái lại không đáp ứng điều trị hay ở những bệnh nhân mà bệnh ảnh hưởng nhiều việc học tập lao động hàng ngày. Tuy nhiên chỉ định mổ cắt amidan không còn rộng như ngày xưa.


Đông y chữa viêm amiđan

Trong y học cổ truyền, bệnh này được gọi là nhũ nga. Đây là tình trạng hai bên họng trong hố hạnh nhân sưng lên thành một cục hình dạng như con ngài tằm.

Nếu tình trạng sưng chỉ có ở một bên thì gọi là đơn nhũ nga, hai bên đều mọc gọi là song nhũ nga. Nếu có hiện tượng lở loét gọi là lạn hầu nga. Một bên là nhẹ, hai bên là nặng, loét ra thì càng nặng hơn.

Nguyên nhân gây bệnh là ngoại tà xâm nhập cơ thể không được chữa trị kịp thời; hoặc do ăn uống, sinh hoạt không giữ gìn, nóng lạnh đột ngột… Yết hầu là cửa ngõ của việc ăn uống, hít thở, thường xuyên tiếp xúc với bên ngoài. Khi ngoại tà theo đường ăn uống, hít thở xâm nhập vào hầu họng, tà khí và chính khí sẽ giao tranh và gây ra sốt. Nếu chính khí khỏe thì tà khí lui, bệnh tình đỡ dần và khỏi. Nếu chính khí suy giảm hoặc không được chữa tri kịp thời thì họng càng đau tăng, đỏ, loét, gây ảnh hưởng tới toàn thân.


Cách điều trị tùy thuộc vào thể bệnh:

Thực chứng: Sưng, đau, rát cổ họng, sốt cao, sợ gió. Nhũ nga sưng cao, xung quanh chân thu gọn. Lúc mới phát, bệnh nhân sợ rét, phát nóng, đau, ăn nuốt khó khăn, miệng ráo lưỡi khô; nặng thì nhũ nga chảy mủ vàng, ngoài gáy phát ra hạch nhỏ lổn nhổn như hạt châu, di động.

Dùng bài thuốc Ngưu bàng thang gia giảm: Ngưu bàng, phù bình, lô căn, cát cánh, thiên hoa phấn, xạ can, sơn đậu căn, sinh địa mỗi thứ 12 g; thăng ma, nhân sâm mỗi thứ 10 g; cam thảo, hoàng liên, liên kiều mỗi thứ 8 g. Cho 1.500 ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 150 ml. Ngày uống 1 thang, chia đều 5 lần.

Hư chứng: Nhũ nga sưng đau, sốt nhẹ, người mệt mỏi, bệnh tái phát liên tục hoặc dây dưa không khỏi, ăn uống khó khăn, lâu ngày da vàng, chân tay đau mỏi, tiểu tiện vàng và ít dần, có khi gây phù mặt; Nặng thì phù toàn thân.

Dùng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm: Hoàng kỳ 24 g, cam thảo, kim ngân hoa, đương quy, hoàng cầm, hạnh nhân mỗi thứ 10 g; nhân sâm, trần bì, thăng ma, sài hồ, bạch truật mỗi thứ 12 g, liên kiều 8 g. Hoàng kỳ sao mật, nhân sâm bỏ cuống, đương quy rửa qua rượu, hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn. Cho 1.800 ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 200 ml. Ngày sắc 1 thang, chia đều 5 lần uống.

(Theo BSGĐ)

Chữa viêm amiđan mạn tính bằng món ăn

Amiđan thường tái phát mỗi khi thời tiết chuyển mùa và gần như chẳng có cách điều trị nào hiệu quả hơn ngoài thuốc kháng sinh liều cao và tiểu phẫu (cắt bỏ).

Tuy nhiên, nếu bạn tuân thủ tốt những lời khuyên dưới đây, bạn có thể hoàn toàn chung sống hòa bình với nó.

Theo Đông y, người viêm amiđan mạn tính thường có độc tố (từ bên ngoài) tích tụ, vì vậy kiêng ăn đồ sống, lạnh (nước đá, rau sống, nộm); các thức thơm, khô, nóng mạnh như tỏi sống, hành tây, hồi, rau thơm, hạt tiêu, ớt…

Nên ăn nhiều rau xanh, dưa cải, cà chua, mã thầy, ngó sen, củ súng, táo. Ngoài ra, có thể sử dụng các loại thực phẩm sau hàng ngày:

Ăn một số hoa quả tươi theo mùa, ép nước uống như dưa hấu, dưa chuột, lê tươi, cam ngọt, mía, ngó sen, đào, mận, dưa bở… có tác dụng chữa viêm amiđan mạn tính kèm miệng khô, họng ráo.

Nếu bị viêm amiđan mạn tính kèm chảy máu chân răng, hãy cắt 3 lát chanh tươi, thêm 15g đường phèn, hãm với nước sôi làm thành một cốc nước chanh. Mỗi ngày uống hai cốc.

Hồng khô mỗi ngày một quả, nhai nhỏ, từ từ nuốt… có tác dụng chữa viêm amiđan mạn tính kèm cảm giác vướng họng.

Trám muối, mỗi ngày ngậm ăn 2 quả có tác dụng chữa viêm amiđan mạn tính có đau.

Thịt lợn nạc 50g, thái miếng nhỏ, thêm 100g bồ công anh tươi (giã nát, bọc vải màn), cùng nấu trong 2giờ. Mỗi ngày ăn hai bát con. Dùng chữa viêm amiđan mạn tính có hoa mắt đầu váng, yếu hầu nóng rát.

Mộc nhĩ trắng 200g ngâm nở, nấu nhừ trong lửa nhỏ, thêm nước sắc của 30g mạch đông nấu thành canh đặc. Mỗi ngày ăn hai bát con. Dùng chữa viêm amiđan mạn tính kèm ho khan không có đờm, sốt vào buổi chiều.

(Theo VTV)

Phẫu thuật cắt amiđan & hạch vùng hầu họng

Giới thiệu

Bạn hoặc con của bạn có thể bị đề nghị cắt amiđan và các hạch vùng hầu họng. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về cuộc phẫu thuật này, việc chuẩn bị ra sao, cũng như cung cấp các thông tin về lợi ích, biến chứng, nguy cơ của cuộc phẫu thuật này.

Bạn cũng nên hỏi bác sĩ của bạn những câu hỏi mà bạn cho là cần thiết để hiểu hơn về những gì sẽ diễn ra trong quá trình phẫu thuật.

Amiđan và các hạch hầu họng (còn gọi là hạch VA) là nhóm mô dạng lympho (có nhiệm vụ sản xuất ra các tế bào lympho – các tế bào bạch cầu có khả năng tiêu diệt các tác nhân xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh) nằm ở miệng và phía sau mũi.

Nhiễm trùng hay phì đại amiđan có thể gây đau họng mãn tính hay đau tái đi tái lại, hơi thở hôi, răng bị lệch nhau (giữa hàm trên và hàm dưới), ápxe, hoặc tắc nghẽn đường thở trên gây khó nuốt, ngáy, ngưng thở khi ngủ. Riêng với các hạch VA, viêm nhiễm cũng gây phì đại, có thể làm bệnh nhân khó thở, viêm tai, v.v. Cắt amiđan và cắt các hạch này là phẫu thuật cắt bỏ hay nạo sạch các mô dạng lympho này.

Những nguy cơ và biến chứng của phẫu thuật cắt amiđan và hạch vùng hầu họng là gì ?

Phẫu thuật luôn được cố gắng thực hiện thật an toàn, làm sao đạt được kết quả tốt nhất cho bạn hoặc con của bạn. Tuy nhiên, có những cuộc phẫu thuật diễn ra không suôn sẻ, có thể có những biến chứng hay những tổn thương khác không ngờ được.

Vì mỗi người đáp ứng với phẫu thuật, phản ứng với thuốc mê, việc lành vết thương sau mỗ rất khác nhau, nên không thể đảm bảo chắc chắc kết quả của phẫu thuật sẽ như thế nào. Hơn nữa nó còn phụ thụôc vào các điều kiện chăm sóc sau mỗ.

Trong y văn đã ghi nhận các biến chứng dưới đây. Danh sách các biến chứng này không bao gồm tất cả các biến chứng có thể xảy ra. Ðưa ra các biến chứng này không phải để hù dọa bạn, mà chỉ nhằm cung cấp thông tin cho bạn, giúp bạn hiểu hơn về cuộc mỗ, đồng thời cảnh giác hơn. Tất cả những biến chứng đã xảy ra có thể đồng thời hay không đồng thời tùy theo sự kiểm soát của bác sĩ phẫu thuật, theo các tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tuy nhiên hầu hết các biến chứng này rất hiếm xảy ra.

Nhưng bất kì một bệnh nhân nào trước khi tham gia cuộc mỗ cũng cần được cân nhắc giữa những yếu tố nguy cơ, những biến chứng có thể có và các lợi ích của cuộc mỗ mang lại.

Thất bại trong việc làm giảm đau họng, hay không cải thiện được viêm tai, viêm xoang, chảy nước mũi, với các trường hợp này có thể cần được mỗ lại.

Chảy máu. Trong nhiều trường hợp phải cần truyền máu hoặc các sản phẩm từ máu. Bạn có quyền chuẩn bị máu của chính bạn hay máu từ một người cho do bạn chọn trước khi phẫu thuật để dùng trong trường hợp khẩn cấp cần truyền máu. Bạn hoàn toàn có thể tham khảo những điều này với bác sĩ điều trị.

Nhiễm trùng, mất nước, đau kéo dài, vết mỗ không lành, đều cần phải nhập viện để truyền dịch, để chăm sóc vết mỗ.

Thay đổi giọng nói, nôn hay trớ qua đường mũi. Tuy nhiên các biến chứng này rất hiếm gặp.

Không cải thiện được tình trạng thở trước đó, vẫn còn ngáy, còn ngưng thở khi ngủ, còn phải thở bằng miệng.

Tiền phẫu là gì ?

Hầu hết các bệnh nhân không cần nhập viện, mà có thể điều trị ngoại trú. Bởi vì dù trong bệnh viện có nhiều phương tiện chăm sóc tốt, nhưng việc điều trị nội trú trước mỗ là không cần thiết, gây tốn kém cho bệnh nhân và bệnh nhân thường không thoải mái khi ở trong bệnh viện.


Thông thường các bác sĩ gây mê hồi sức sẽ gọi điện cho bạn để hỏi bệnh sử vào trước ngày mỗ 1 ngày hoặc nếu không kịp thì có thể vào buổi sáng đi mỗ. Nếu cần thực hiện các xét nghiệm gì, thì bạn sẽ được làm trước đó vài ngày. Cũng cần có một nhân viên y tế đưa bạn về sau cuộc mỗ, và chăm sóc cho bạn trong ngày hậu phẫu đầu tiên.

Không được dùng aspirin hay bất kì loại thuốc nào có chứa aspirin trong vòng 10 ngày trước mỗ. Các thuốc kháng viêm non-steroid (NSAIDs) (như ibuprofen, Avid.) cũng không dùng trong vòng 1 tuần lễ trước mỗ. Có nhiều loại thuốc giảm đau thông thường có chứa trong thành phần aspirin hay các dẫn xuất từ ibuprofen, do đó rất cần cẩn trọng khi dùng các thuốc này.

Nếu cần bạn nên tham khảo với bác sĩ. Acetaminophen (Tynelol, Panadol, Efferalgan, Doliprane) có thể dùng để giảm đau. Thường thì bác sĩ sẽ kê cho bạn vài loại thuốc dùng trước mỗ, và bạn cần dùng thuốc đầy đủ để sẳn sàng cho cuộc mỗ diễn ra.

Nếu người sắp mỗ là con của bạn, bạn nên trung thực nói cho trẻ biết những gì về cuộc mỗ sắp tới. Cần phải cho trẻ hiểu rằng những gì trẻ sắp trải qua là cần thiết cho sức khỏe của trẻ, rất an toàn và bạn luôn ở bên trẻ.

Thái độ đảm bảo và bình tĩnh của bạn rất cần để cho trẻ bớt lo lắng. Cho trẻ biết rằng nếu trẻ đau thì chỉ trong thời gian rất ngắn và sẽ có nhiều loại thuốc giúp cho trẻ giảm đau. Bạn cũng nên đến bệnh viện mà bạn sẽ được phẫu thuật vài ngày trước để quen với không khí nơi đây.

Nên ăn trước khi mỗ 6 giờ, có thể là uống nước, ăn kẹo, hay nhai kẹo cao su. Có thức ăn trong dạ dày sẽ giúp giảm các biến chứng của gây mê.

Nếu bạn bị sốt trong những ngày sắp mỗ, nên gọi cho bác sĩ. Nếu bệnh vào ngay hôm mỗ, bạn cũng cứ đến bệnh viện, bác sĩ điều trị sẽ quyết định xem bạn có trải qua cuộc phẫu thuật được hay không. Nhưng nếu trẻ đang bị thủy đậu, thì không nên đưa trẻ đến bệnh viện.

Chuẩn bị gì trong ngày phẫu thuật ?

Ðể chuẩn bị đầy đủ cho cuộc mỗ, bạn cần biết chính xác thời điểm phẫu thuật. Hãy mang theo đầy đủ giấy tờ cho cuộc mỗ, kể cả các chỉ định tiền phẫu của bác sĩ. Nên mặc quần áo rộng rãi (có thể mặc pijamas), không nên mang đồ trang sức hoặc những thứ đắt tiền khác. Có thể mang cho trẻ một món đồ chơi ưa thích nào đó, một con thú nhồi bông hay một cái chăn mỏng.

Không được dùng bất kì loại thuốc nào trước khi phẫu thuật trừ khi đó là do bác sĩ điều trị hay bác sĩ gây mê chỉ định. Thường thì khi chuẩn bị mỗ bạn sẽ được đặt một đường truyền tĩnh mạch, và được dùng thuốc giúp thư giãn.

Quá trình phẫu thuật diễn ra như thế nào ?

Tại phòng mỗ, bác sĩ gây mê hồi sức kết hợp gây mê toàn thân cho bạn bằng khí dung và thuốc truyền tĩnh mạch. Trong hầu hết các trường hợp, thuốc mê truyền tĩnh mạch có thể dùng trước khi vào phòng mỗ hoặc sau khi trẻ được thở khí dung có thuốc mê.

Trong khi cuộc mỗ diễn ra, bạn luôn được theo dõi độ bảo hoà oxy trong máu và nhịp tim bằng monitor. Ekíp phẫu thuật có kỹ năng cao, có thể phản ứng nhanh và chính xác trong những trường hợp khẩn cấp. Ngoài bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê hồi sức, còn có những kỹ thuật viên về dụng cụ và các y tá chuyên nghiệp trong phòng mỗ.

Sau khi thuốc mê có tác dụng, bác sĩ mới cắt amiđan hoặc hạch cần cắt đem ra ngoài. Sẽ không có một vết cắt nào ngoài da. Sau đó đáy vết cắt được đốt điện. Toàn bộ quá trình trên diễn ra không đầy 60 phút. Sau đó bác sĩ sẽ thông báo cho gia đình, bạn bè của bạn rằng cuộc mỗ diễn ra an toàn trong khi đó bạn được chuyển đến phòng hậu phẫu hồi sức.

Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?

Sau cuộc mỗ, bạn hoặc con bạn được đưa đến phòng hậu phẫu, tại đây bạn hoặc con bạn được các y tá theo dõi và chăm sóc. Khi con bạn tỉnh, bắt đầu đòi bố mẹ, thì bạn có thể đến gặp trẻ tại phòng hồi sức. Nếu bạn tỉnh sớm sau gây mê, bạn còn có thể về ngay trong ngày sau khi mỗ. Thường thì sau mỗ vài giờ, bạn mới tỉnh, và bạn cần một người thân đưa bạn về, và chăm sóc bạn trong đêm đầu tiên ở nhà.

Về nhà, bạn nên nằm nghỉ ngay và nên nằm đầu cao bằng cách kê 2-3 cái gối. Bằng cách kê đầu cao hơn tim sẽ giúp bạn giảm được phù nề và sưng. Chườm đá dưới gáy cũng có tác dụng tương tự làm giảm sưng. Bạn cần giúp đỡ để đi nhà vệ sinh. Không nên gặp gỡ nhiều bạn bè vì họ có thể mang mầm nhiễm trùng cho bạn hoặc làm bạn không đủ yên tĩnh để nghỉ ngơi. Ðể tránh táo bón làm bạn khó chịu, bạn nên dùng thuốc nhuận trường.

Tốt nhất bạn hoặc con bạn nên dùng các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu sau khi bạn đã hoàn toàn hồi phục sau gây mê. Trong những ngày đầu cần tránh dùng nước nóng. Ngay sau mỗ, bạn có thể thấy đói, nhưng không nên ăn ngay mà hãy từ từ để tránh nôn. Ðôi khi sau mỗ bạn có thể bị nôn chừng 1-2 lần, nếu kéo dài và nôn nhiều lần, bác sĩ điều trị sẽ cho bạn thuốc để điều chỉnh dạ dày giúp bớt nôn.

Một chế độ ăn và nghỉ ngơi đầy đủ có thể thúc đẩy nhanh việc lành vết thương. Sụt cân rất thường gặp sau phẫu thuật cắt amiđan, bạn cũng không nên quá lo lắng về các nhu cầu dinh dưỡng khi đang hồi phục cho đến khi bạn có thể uống đủ nước.

Bạn còn được cho dùng kháng sinh sau mỗ, và nên uống đầy đủ thuốc. Một số thuốc an thần có thể được chỉ định (thường là acetaminophen/Tylenol trong thành phần có codein). Khi dùng thuốc an thần, bạn không được lái xe. Sau mỗ, nếu bạn buồn nôn hay nôn, bác sĩ sẽ cho thuốc chống nôn như phenergan.

Có thắc mắc hay nếu nghi ngờ bạn hay con bạn có phản ứng với các thuốc trên, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ. Bạn cũng không nên dùng thêm một loại thuốc khác ngoài chỉ định, trừ khi bạn đã tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị.

Những chỉ dẫn chung và cách chăm sóc tiếp theo là gì?

Nên tái khám trong 10-14 ngày sau mỗ để kiểm tra lại.

Một điều quan trọng cần nhớ là phải uống nước thật nhiều vừa tránh chảy máu vừa tránh mất nước. Lúc đầu có thể hơi khó nuốt. Khi uống nước có thể đỡ đau hơn. Nếu uống nước khó khăn, bạn có thể dùng một loại nước gì vị vừa phải, không chua hoặc ăn kem.

Các loại thức ăn dễ tiêu như gelatin (chất dạng keo có được khi hầm da, thịt, gân), kem lạnh, bánh kem, bánh bột hấp, thức ăn nghiền. sẽ cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bạn.

Các loại thức ăn nóng nhiều gia vị như trái cây tươi, bánh mì nướng, bánh quy, khoai tây chiên thì nên tránh vì có thể gây trầy xước chỗ mỗ và làm chảy máu vết mỗ. Nếu tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, không thể giải quyết tại nhà thì bạn nên đến bệnh viện để truyền dịch.

Sau phẫu thuật thường đau. Không thể biết trước được bệnh nhân nào sẽ hồi phục nhanh, bệnh nhân nào đau kéo dài. Nhiều bệnh nhân hầu như không đau ngay sau cuộc mỗ, nhưng cơn đau có thể tăng dần trong những ngày sau đó. Nhiều trường hợp sau mỗ hơn một tuần, bệnh nhân trở lại bệnh viện vì đau tái phát khá nặng. Thường đó là cảm giác đau ở tai, nhất là khi bệnh nhân nuốt. Việc lành vết mỗ thất bại, vết mỗ chảy máu thường vào những lúc này. Cảm giác đau này tương tự đau trước mỗ.

Nhìn chung, hầu hết bệnh nhân bình phục hoàn toàn sau khoảng hai tuần, nhưng phải sau sáu tuần bạn mới mất hoàn toàn cảm giác khó chịu ở cổ khi ăn đồ ăn nóng hay cay.

Bạn có thể thấy những vệt màu trắng ở vùng họng chỗ vết mỗ, đó là do vết mỗ đóng vẩy trong quá trình lành sẹo. Ðừng cố gắng cậy nó ra, đó không phải là viêm nhiễm gì, và sẽ biến mất sau hai tuần. Hơi thở bạn có thể hôi trong thời gian này, nhưng chớ lo lắng, mọi việc sẽ ổn thỏa sau khi sẹo lành hoàn toàn. Da vùng họng sẽ trở về màu hồng bình thường sau khoảng sáu tuần.

Có thể hơi khó chịu khi thở, nhưng chuyện này ít gặp, và nếu bị thì nó kéo dài chừng vài tháng cho đến khi nào họng bớt sưng. Thuốc nhỏ mũi Saline (một loại nước muối) có thể làm mềm và tan các vẩy này, đồng thời làm giảm phù nề. Ngáy to và kéo dài trong vài tuần. Thay đổi giọng nói cũng thường gặp sau mỗ, nhưng sẽ bình thường sau vài tháng.

Chảy máu gặp ở 1-3% bệnh nhân, thường sau mỗ 5-10 ngày, tuy nhiên nó còn có thể chảy vào bất kì lúc nào. Tình trạng mất nước của bệnh nhân cùng với việc hoạt động quá mức sau mỗ làm cho chảy máu càng nặng hơn. Khi chảy máu, chớ hốt hoảng, hãy bình tĩnh và thư giãn. Súc miệng bằng nước lạnh và nằm nghỉ với đầu kê cao. Ðến bác sĩ nếu máu vẫn còn chảy.

Xử trí với chảy máu có thể rất đơn giản, nhưng cũng có thể rất phức tạp vì phải vào phòng mỗ để gây mê và mỗ lại, thậm chí có khi phải truyền máu. Chảy máu gặp trong cắt amiđan, nhưng ngược lại trong cắt các hạch hầu họng khác, thì chảy máu rất hiếm gặp. Có thể chảy máu từ mũi, và trong những trường hợp này, có thể dùng Neosynephrine (làm co mạch vì vậy giúp cầm máu).

Bạn hoặc con bạn nên nghỉ làm, nghỉ học khoảng một tuần đến 10 ngày. Tập thể dục hoặc đi bơi có thể bắt đầu trở lại sau 3 tuần, nhưng nếu bạn muốn đi lặn thì phải sau ít nhất 6 tuần. Trong 2-3 tuần đầu bạn không nên đi đâu xa, phòng khi chảy máu, bạn có thể đến ngay bác sĩ điều trị của bạn.

Nên đến bác sĩ trong những tình huống sau đây :

1.Tăng đột ngột lượng máu chảy ra từ mũi hoặc miệng kéo dài trong nhiều phút.

2.Sốt trên 38.60C (101.50F) kéo dài dù bạn uống nhiều nước và dùng thuốc hạ sốt như acetaminophen (Tylenol). Nếu trẻ sốt nên cho trẻ uống mỗi một giờ nửa cốc nước, còn người lớn thì uống một cốc.

3.Ðau đầu kéo dài, không giảm dù đã dùng các thuốc giảm đau.

4.Sưng tăng dần, hoặc phù nề sung huyết đỏ mắt mũi cổ.


Tổng kết bài mỗ cắt ami-đan

Phẫu thuật cắt amiđan và các hạch vùng hầu họng là phẫu thuật nạo bỏ các hạch này trong trường hợp nó bị viêm sưng gây cản trở đường thở.

Amiđan và các hạch này là nhóm mô dạng lymhpo thuộc hệ miễn dịch của cơ thể nằm ở họng.

Phẫu thuật này có những nguy cơ và những biến chứng riêng.

Nắm được những gì xảy ra trước, trong và sau khi phẫu thuật sẽ giúp bạn và con bạn thấy thoải mái, và yên tâm trước khi vào phòng mỗ.

Theo BSGĐ

Đông y chữa viêm amiđan

Trong y học cổ truyền, bệnh này được gọi là nhũ nga. Đây là tình trạng hai bên họng trong hố hạnh nhân sưng lên thành một cục hình dạng như con ngài tằm.

Nếu tình trạng sưng chỉ có ở một bên thì gọi là đơn nhũ nga, hai bên đều mọc gọi là song nhũ nga. Nếu có hiện tượng lở loét gọi là lạn hầu nga. Một bên là nhẹ, hai bên là nặng, loét ra thì càng nặng hơn.

Nguyên nhân gây bệnh là ngoại tà xâm nhập cơ thể không được chữa trị kịp thời; hoặc do ăn uống, sinh hoạt không giữ gìn, nóng lạnh đột ngột… Yết hầu là cửa ngõ của việc ăn uống, hít thở, thường xuyên tiếp xúc với bên ngoài. Khi ngoại tà theo đường ăn uống, hít thở xâm nhập vào hầu họng, tà khí và chính khí sẽ giao tranh và gây ra sốt. Nếu chính khí khỏe thì tà khí lui, bệnh tình đỡ dần và khỏi. Nếu chính khí suy giảm hoặc không được chữa tri kịp thời thì họng càng đau tăng, đỏ, loét, gây ảnh hưởng tới toàn thân.

Cách điều trị tùy thuộc vào thể bệnh:

Thực chứng: Sưng, đau, rát cổ họng, sốt cao, sợ gió. Nhũ nga sưng cao, xung quanh chân thu gọn. Lúc mới phát, bệnh nhân sợ rét, phát nóng, đau, ăn nuốt khó khăn, miệng ráo lưỡi khô; nặng thì nhũ nga chảy mủ vàng, ngoài gáy phát ra hạch nhỏ lổn nhổn như hạt châu, di động.

Dùng bài thuốc Ngưu bàng thang gia giảm: Ngưu bàng, phù bình, lô căn, cát cánh, thiên hoa phấn, xạ can, sơn đậu căn, sinh địa mỗi thứ 12 g; thăng ma, nhân sâm mỗi thứ 10 g; cam thảo, hoàng liên, liên kiều mỗi thứ 8 g. Cho 1.500 ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 150 ml. Ngày uống 1 thang, chia đều 5 lần.

Hư chứng: Nhũ nga sưng đau, sốt nhẹ, người mệt mỏi, bệnh tái phát liên tục hoặc dây dưa không khỏi, ăn uống khó khăn, lâu ngày da vàng, chân tay đau mỏi, tiểu tiện vàng và ít dần, có khi gây phù mặt; Nặng thì phù toàn thân.

Dùng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm: Hoàng kỳ 24 g, cam thảo, kim ngân hoa, đương quy, hoàng cầm, hạnh nhân mỗi thứ 10 g; nhân sâm, trần bì, thăng ma, sài hồ, bạch truật mỗi thứ 12 g, liên kiều 8 g. Hoàng kỳ sao mật, nhân sâm bỏ cuống, đương quy rửa qua rượu, hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn. Cho 1.800 ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 200 ml. Ngày sắc 1 thang, chia đều 5 lần uống.

(Theo tuoitre)

Cắt Amidan điều trị ngừng thở khi ngủ giúp cải thiện hành vi của trẻ

OSA – một tình trạng khá phổ biến trong đó đường thở bị tắc hoàn toàn hoặc một phần định kỳ trong khi ngủ, có thể gây ra ngáy to, rối loạn giấc ngủ đêm và gây buồn ngủ vào ban ngày. Tình trạng này đôi khi là là do amidan và VA to. Hai bộ phận này được cắt bỏ trong thủ thuật cắt amidan/nạo VA.

Trẻ bị chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA : obstrustive sleep apnea) tăng nguy cơ có những khó khăn về hành vi và xúc cảm, nhưng cắt amidan/nạo VA có thể cải thiện cả hai vấn đề này cũng như chất lượng sống. Phát hiện này dựa trên nghiên cứu 42 trẻ bị OSA đã cắt amidan và nạo VA, và nhóm so sánh gồm 41 trẻ không bị ngáy phải mổ điều trị những bệnh khác. Hành vi và chất lượng sống được đánh giá trước khi phẫu thuật và 3 tháng sau khi làm thủ thuật.

Điểm số hành vi trước phẫu thuật ở nhóm OSA kém hơn trẻ ở nhóm so sánh. Tuy nhiên, sau phẫu thuật, trẻ ở nhóm OSA có cải thiện đáng kể về điểm số so với nhóm trẻ kia nhưng chúng có xu hướng giảm. Điểm số chất lượng sống cũng được cải thiện đáng kể ở bệnh nhân OSA so với những trẻ khác. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy có những vấn đề về hành vi và cảm xúc ở trẻ bị OSA và chúng sẽ được cải thiện sau điều trị.

(Theo Tuoitre)

Chứng viêm amiđan

Do nằm ở cửa ngõ đường thở nên amiđan rất dễ bị viêm nhiễm. Nếu như trước đây, phần lớn bệnh nhân được cắt amiđan thì hiện nay, phẫu thuật này được chỉ định khá chặt chẽ, chỉ áp dụng trong những trường hợp chẳng đặng đừng.

Amiđan là tập hợp mô lympho ở hai bên thành họng sau khoang miệng, có vai trò bảo vệ, chống nhiễm khuẩn. Viêm amiđan gồm các thể sau:

Viêm amiđan cấp tính không đặc hiệu

Biểu hiện trước tiên là đau họng kèm theo sốt nhẹ, chảy nước mũi, hắt hơi kèm theo chảy nước mắt. Tại chỗ 2 amidan viêm sưng to quá phát kèm theo viêm đỏ lan tỏa vùng họng. Xét nghiệm cận lâm sàng công thức máu số lượng bạch cầu thường không tăng. Những trường hợp này thường viêm do virus cúm A, B, C hoặc á cúm (adeno virus, rhinovirus, ecpet…).

Cần hạn chế sử dụng kháng sinh và nên dùng một số thuốc điều trị triệu chứng như: chống phù nề, giảm đau kèm theo kháng histamin. Vệ sinh mũi họng bằng các dung dịch sát khuẩn nhẹ như: angispray, eludril, locabiotal, givalex…

Viêm amiđan cấp tính đặc hiệu do vi khuẩn

Các triệu chứng trên lâm sàng thường gặp là sốt cao đột ngột, đau họng tăng, thường đau lan tỏa vùng tai kèm theo hạch lân cận sưng to, người mệt mỏi. Khám tại chỗ thấy amidan viêm to kèm theo các hốc mủ, miệng hôi, xuất hiện màng giả tại amiđan. Các xét nghiệm máu thấy số lượng bạch cầu tăng cao. Tác nhân gây bệnh thường gặp là liên cầu khuẩn, tiếp đến là xoắn khuẩn (có màng giả kèm theo loét hoại tử); có trường hợp do săng giang mai (khám thấy vết trợt nông tròn hoặc bầu dục, không có mủ).

Những trường hợp xét nghiệm xác định được loại vi khuẩn gây bệnh, cần dùng kháng sinh đặc hiệu để điều trị tốt căn nguyên.

Phẫu thuật cắt bỏ amiđan hiện được chỉ định khá chặt chẽ bởi liệu pháp kháng sinh đặc hiệu đã đem lại kết quả tốt. Nó chỉ được áp dụng khi amiđan viêm mạn tính kéo dài, tái phát thường xuyên hằng tháng, ảnh hưởng tới đời sống; hoặc đã có tiền sử viêm tấy quanh amiđan, xuất hiện hội chứng ngạt thở khi ngủ. Đối với trường hợp viêm cầu thận cấp do viêm amiđan, sau khi điều trị viêm cầu thận cấp ổn định, người bệnh cũng cần được cắt bỏ amiđan.

(Theo tuoitre)