Category Archives: Ngoại Khoa – niệu

Những triệu chứng lâm sàng niệu khoa

HỎI BỆNH – KHAI THÁC CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG

Là cơ sở đánh giá bệnh và các tình huống chẩn đoán. Tuy nhiên người bệnh thường không có khả năng mô tả chính xác các triệu chứng vì họ thường lo lắng quá mức và hạn chế về hiểu biết. Do vậy muốn phát hiện được những triệu chứng chính xác cần hướng bệnh nhân vào những câu hỏi phục vụ cho mục đích chẩn đoán. Đầu tiên cần làm cho bệnh nhân có cảm giác thoải mái,cần lắng nghe tìm hiểu lý do bệnh nhân đi khám bệnh.

Hỏi bệnh nhằm tìm hiểu:

Những triệu chứng chính và diễn biến những triệu chứng chính.

Tiền sử bệnh

Tiền sử gia đình.

Các triệu chứng của đường tiết niệu trên (các cơn đau):

Cơn đau quặn thận điển hình:

Vị trí: vùng thắt lưng, sườn lưng, đau lan xuyên, xuống dưới, ra trước có khi lan ra bộ phận sinh dục ngoài.

Khởi phát đột ngột, dữ dội, hoặc xuất hiện khi bệnh nhân hoạt động nhiều (sau lao động nặng hoặc đi xa)

Các dấu hiệu đi kèm:

  • Mót tiểu, tiểu dắt, tiểu buốt.
  • Nôn, buồn nôn, bụng chướng.

Khám:

  • Toàn thân: hốt hoảng, vã mồ hôi, có khi có sốt.
  • Vùng thắt lưng: co cứng khối cơ cột sống, cơ thắt lưng chậu, nửa bụng bên đau co cứng, không có cảm ứng phúc mạc.

Nguyên nhân:

  • Do ứ căng đột ngột ở đài bể thận phía trên chỗ tắc. Có thể do sỏi, do co thắt, do viêm nhiễm. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn, nằm nghỉ, bệnh nhân sẽ đỡ hoặc hết đau.
  • Nếu bệnh nhân có sốt là tiên lượng tồi, cần phải theo dõi.

Thể đau không điển hình:

Đau âm ỉ vùng lưng hàng ngày, hàng tuần cơn đau được phát hiện khi sờ nắn vào vùng hố thắt lưng hoặc bệnh nhân ở trong tư thế đứng.

Cơn đau thể biến chứng:

  • Vô niệu do sỏi thận niệu quản trên thận duy nhất.
  • Nhiễm khuẩn cấp: sốt, đau lưng, đái đụng, suy thận…

Nguyên nhân:

Cơn đau thận 2/3 trường hợp do sỏi tiết niệu

32 % sỏi đài thận.

47 % sỏi bể thận.

95 % sỏi niệu quản.

Dị dạng bẩm sinh: hội chứng khúc nối niệu quản bể thận

Các nguyên nhân: khối u đường tiết niệu hoặc ngoài đường tiết niệu

Cơn đau bàng quang:

Là do căng giãn quá mức bàng quang, hậu quả những tắc nghẽn cấp tính ở cổ bàng quang và niệu đạo.

Có khi là cảm giác khó chiệu không thoải mái ở vùng trên xương mu, hậu quả của viêm bàng quang cấp hoặc viêm bàng quang kẽ hoặc tắc nghẽn không hoàn toàn.

Cơn đau tiểu khung và bộ phận sinh dục:

  • Cơn đau dữ dội hay âm ỉ, kèm theo rối loàn tiểu tiện.
  • Cơn đau co bóp bàng quang yêu cầu tiểu gấp (sỏi niệu đạo, u phì đại tuyến tiền liệt)
  • Cơn đau do hiện tượng trào ngược nước tiểu. Đau chói từ phía dưới dâng cao dần lên hố thắt lưng. Cơn đau thường xảy ra trước hoặc trong khi đi tiểu.

Đau tuyến tiền liệt:

  • Cảm giác đau sâu vùng hậu môn và tầng sinh môn, cảm giác đau thường tăng lên ở tư thế ngồi.
  • Đau tinh hoàn, mào tinh hoàn: đau tử vùng bìu lên ống bẹn.
  • Các cơn đau cấp tính thường do chấn thương, xoắn tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn cấp.
  • Các cơn đau mãn tính thường do bệnh giãn tĩnh mạch thừng tinh, ứ nước màng tinh hoàn hoặc thoát vị bẹn.

Các triệu chứng của đường tiết niệu dưới gồm bàng quang – tuyến tiền liệt – niệu đạo;

Hội chứng kích thích:

Tiểu dắt, tiểu gấp:

Tiểu nhiều lần trong ngày – mỗi lần ít nước tiểu nhất là ban đêm.

Phân biệt đi tiểu nhiều: (đái tháo nhạt)

Nguyên nhân : bàng quang bị kích thích do viêm, do dị vật, do u phì đại tuyến tiền liệt kích thích vùng cổ bàng quang. Có khi do u tiểu khung, các bệnh lý trong tiểu khung hoặc do sỏi niệu quản sát bàng quang. Hoặc bàng quang tăng co bóp do nguyên nhân thần kinh, bàng quang giảm dung tích.

Tiểu buốt:

  • cảm giác đau rát bỏng khi đi tiểu, thường kèm theo đái dắt.
  • Cơn đau buốt có khi toàn bộ thời gian tiểu tiện hoặc chỉ đau buốt lúc đầu.
  • Hội chứng tắc nghẽn.

Tiểu khó:

Đái khó lúc khởi đầu: bệnh nhân không đái được ngay, cố rặn khi đái, tia nước tiểu yếu, có khi không thành tia nỏ giọt xuống chân. Thời gian đi tiểu lâu. Sau khi tiểu xong không cảm giác thoải mái.

Nguyên nhân: các bệnh lý vùng cổ bàng quang và niệu đạo như u phì đại tuyến tiền liệt. K tuyến tiền liệt, co thắt cổ BQ, xơ cứng cổ BQ, sỏi BQ, hẹp niệu đạo, BQ thần kinh.

hậu quả của đái khó:

  • Giai đoạn đầu: thành bàng quang dày lên do phải tăng co bóp để thắng cản trở cơ học.
  • Giai đoạn sau: bàng quang mất bù, cơ bàng quang nhão, ứ đọng nước tiểu à nhiễm khuẩn niệu. Nguy cơ viêm bể thận ngược dòng, nước tiểu ứ đọng trong bàng quang, trào ngược lên thận.

Bí đái:

Là hiện tượng có nước tiểu trong bàng quang nhưng bệnh nhân không thể nào đái ra được ( cần phân biệt với vô niệu: không có nước tiểu trong bàng quang).

Bí đái hoàn toàn : cấp tính

  • Đau căng tức trên xương mu.
  • Luôn buồn tiểu dữ dội nhưng không đái được
  • Khám cầu bàng quang rất căng – ấn vào đau.
  • Đòi hỏi phải thông đái hoặc dẫn lưu nước tiểu cấp cứu.
  • Bí đái không hoàn toàn: mãn tính
  • Đó là tình trạng luôn ứ động nước tiểu trong bàng quang > 300 ml.

Tiểu không tự chủ:

  • Là hiện tượng nước tiểu rỉ ra ngoài ý muốn của bệnh nhân:
  • Rỉ nước tiểu liên tục: rối loạn chức năng cơ thắt bàng quang niệu đạo do các tổn thương ở não hoặc sau phẫu thuật TLT làm tổn thuơng hệ thống cơ thắt vân niệu đạo.
  • Cần phân biệt với rỉ nước tiểu liên tục ở trẻ em do niệu quản lạc chỗ hoặc rò nước tiểu bàng quang âm đạo.

Đái rỉ gắng sức: là hiện tượng rỉ nước tiểu ngoài ý muốn khi bệnh nhân có một hoạt động gắng sức.

Tiểu ra máu:

  • Nước tiểu đỏ có hống cầu: cặn Addis HC > 500.000 HC/ phút.
  • Phân biệt nước tiểu đỏ không phải tiểu ra máu do màu đỏ của thức ăn đồ uống do Rifampiam phenothiarim, pyridium. Tiểu ra huyết cầu tố do vỡ hồng cầu.
  • Quan sát nước tiểu đỏ hồng, đỏ tươi, đỏ thẫm, máu cục.
  • Cách khởi phát, diễn biến, mức độ
  • Cần xác định vị trí chảy máu tiểu đường tiết niệu: xơ bộ bằng quan sát nước tiểu. Nghiệm pháp ba cốc:

Đái máu đầu bãi: thương tổn ở niệu đạo

Đái máu cuối bãi: thương tổn ở bàng quang.

Đái máu toàn bãi: thương tổn ở thận.

Tuy nhiên thương tổn nặng ở bàng quang cũng tiểu ra máu toàn bãi.

Những biểu hiện khác:

Tiểu máu đỏ có vẩn đục váng mỡ, đái máu dưỡng chấp.

Nước tiểu đỏ lẫn chất nhầy lóng trắng trứng (tiểu máu tinh dịch hemospermea).

Tiểu ra mủ: Nước tiểu đục mủ trắng có bạch cầu thoái hoá: cặn Addis 5000 BC/phút.

Phân biệt nước tiểu đục: vẩn đục, đục như nước vo gạo, đục như sữa.

Nước tiểu đục trắng: tiểu cặn phosphat nhỏ acid acetic: nước tiểu sẽ trong và lắng cặn.

Tiểu ra albumin: khi hơ nóng Albumin sẽ đông thành sỏi lởn vởn trong nước tiểu.

Tiểu ra cặn urat: đun nóng nước tiểu sẽ trong.

Tiểu ra mủ nhiễm khuẩn tiết niệu N > 105/ml

Các bệnh lý thường gặp nhiễm khuẩn tiết niệu là sỏi và dị dạng bẩm sinh đường tiết niệu.

Các vi khuẩn thường gặp là: E.Coli, Klebsiella, enterobacter, tụ cầu vàng, proteus, pseudomonas Aeruginosa, liên cầu nhóm B

Các triệu chứng rối loạn chức năng sinh dục:

Rối loạn chức năng sinh nam mà danh từ thường gọi là bất lực được biểu hiện dưới nhiều hình thức: mất ham muốn, không có khả năng cương dương hoặc duy trì cương dương. Không có khả năng phóng tinh, khả năng thực hiện khoái cảm và xuất tinh sớm.

Hỏi tiền sử bệnh: các bệnh nội khoa, ngoại khoa từ trước và hiện tại. Có nhiều bệnh nội khoa ảnh hưởng đến hệ tiết niệu: lao, đái đường, cao huyết áp.

Tiền sử gia đình: cho thêm các thông tin liên quan đến yếu tố nguy cơ và nguyên nhân bệnh.

KHÁM BỆNH:

Triệu chứng toàn thân:

Gầy sút nhanh, thể trạng suy sụp : thường gặp ở bệnh nhân tiết niệu. Chủ quan người bệnh biết giảm cân nhanh mỏi mệt chán ăn, mất ngủ. Thiếu máu mất nước, điện giải như trong các bệnh viêm đài bể thận, ứ nước, ứ mủ thận, suy thận, ure máu cao, ung thư.

Sốt cao kéo dài 38 – 39,50C , có cơn rét run kèm theo đau thắt lưng hoặc rối loạn tiểu tiện, thường là biểu hiện viêm nhiễm khuẩn tiết niệu. Bao gồm: viêm thận bể thận, viêm apxe tiền liệt tuyến, viêm tinh hoàn, mào tinh hoàn. Những cơn sốt hay đợt sốt kéo dài không giải thích được nguyên nhân cũng có thể là dấu hiệu của ung thư thận.

Khám hệ tiết niệu:

Nguyên tắc: khám toàn diện, khám cả hệ tiết niệu và hệ sinh dục, sờ nắn là chủ yếu và đánh giá thành bụng.

Phát hiện: điểm đau, phát hiện khối u vùng thắt lưng, vùng BQ, tiền liệt tuyến với các tính chất: kích thước, hình dáng, mật độ, bề mặt, bờ di động theo nhịp thở và với các bộ phận xung quanh.

Khám thận với các nghiệm pháp:

Nghiệm pháp chạm thắt lưng:

Cách khám:

Khám bên nào thì người thầy thuốc đứng cùng bên với người bệnh, bàn tay bên đối diện đặt vào vùng thận (góc sườn lưng). Bàn tay kia đặt phía trên bụng song song với bờ sườn hay dọc theo bờ ngoài cơ thẳng to. Bàn tay dưới áp sát vùng sườn lưng, bàn tay trên ấn xuống bình thường không có cảm giác gì.

Nếu thận to sẽ có cảm giác một khối u chạm xuống bàn tay dưới: nghiệm pháp chạm thắt lưng dương tính.

Nghiệm pháp bập bềnh thận:

Bàn tay dưới vùng sườn lưng hất nhẹ lên từng đợt và bàn tay trên bụng ấn nhẹ xuống. Nếu thận to sẽ cảm thấy thận bập bềnh giữa hai bàn tay: nghiệm phấp bập bềnh thận dương tính.

Có thể đặt bệnh nhân nằm phía bên đối diện để làm hai nghiệm pháp trên.

Có cách khám một bàn tay: ngón tay cái phía trước, bốn ngón kia phía sau ép vào vùng sườn lưng. Nếu thận to khi bệnh nhân thở sẽ thấy thận di động lên xuống trong lòng bàn tay. Thường áp dụng khi khám thận trẻ em.

Khám các điểm niệu quản:

điểm niệu quản trên: giao điểm của đường thẳng ngang qua rốn với bờ ngoài cơ thẳng to.

Điểm niệu quản giữa: điểm 1/3 ngoài của đường ngang nối 2 gai chậu trước trên.

Điểm niệu quản dưới: sát bàng quang, tham khám qua trực tràng âm đạo.

Các điểm này ấn đau khi có sỏi niệu quản nhưng không phải là điểm xác định vị trí sỏi.

Khám cầu bàng quang khi bệnh nhân bí đái:

BQ bình thường không sờ thấy nếu như nó có dưới 150 ml nước tiểu. Khi BQ căng vào khoảng 500 ml có thể nhìn thấy ở BN gầy: thấy BQ căng là một khối ngay trên xương mu dưới rốn. Có ranh giới rõ rệt, gõ đục, khối căng ấn vào gây cảm giác buồn đi tiểu.

Khám TLT: chủ yếu là thăm trực tràng

Tư thế:

Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân dạng rộng và gấp.

Người khám đứng giữa hai đùi hay bên phải.

Cách khám:

Dùng ngón tay trỏ có găng và bôi nhiều dầu trơn.

Thăm trực tràng không quên đánh giá cơ thắt hậu môn, khám toàn bộ vùng niêm mạc trực tràng, túi cùng Douglas.

TTL bình thường trên dưới 20 gram (2 -2,5 cm), mật độ mềm, ranh giới rõ, không đau.

U phì đại lành tính TTL: thăm trực tràng sờ thấy khối, mật độ mềm đều căng, ranh giới rõ. KHối u có thể to (đường kính: 4 – 5 cm, hay hơn nữa)

Phân biệt ung thư TLT: TLT có nhân rắn hay là một khối u rắn chắc không cân đối, ranh giới không rõ ràng, không di động.

Thăm trực tràng là động tác phối hợp khi thăm khám tiết niệu để phát hiện dấu hiệu bệnh lý ở bộ phận tiết niệu thấp như TLT, túi tinh, u bàng quang, rỏ bàng quang trực tràng, rò niệu đạo trực tràng.

Khám vùng bìu bẹn (khám niệu đạo và bộ phận sinh dục ngoài)

Những dấu hiệu bệnh lý vùng bẹn bìu thường gặp khi cấp cứu hoặc khi khám bệnh hàng ngày. Những thương tổn có khi tại chỗ vùng bẹn bìu thuộc hệ sinh dục, có thể là dấu hiệu những thương tổn từ xa như hệ tiết niệu, hệ tiêu hoá phúc mạc.

Chủ yếu là khám khi bệnh nhân có bìu to, sờ nắn là động tác chủ yếu bằng ngón tay cái đối chiếu với 3 – 4 ngón tay của một bàn tay hay hai bàn tay cầm cả hai bên.

Bìu và ống bẹn có liên quan về phôi thai, giải phẫu nên khi có dấu hiệu bệnh lý phát hiện thấy ở bìu bao giờ cũng phải chú ý đến vùng bẹn.

Tìm các dấu hiệu:

Dấu hiệu kẹp màng tinh hoàn Sebileau: bình thường lớp da và lớp màng tinh hoàn có thể kẹp được giữa hai ngón tay. Khi có nước trong màng tinh hoàn ta không thể làm được dấu hiệu này và khi tinh hoàn quá to ta cũng không thể làm được dấu hiệu này.

Sờ mào tinh hoàn và tinh hoàn( Dấu hiệu Chevassu): bình thường sờ được mào tinh hoàn như cái mũ chụp lên tinh hoàn. Mào tinh hoàn mềm nhẵn không đau, tinh hoàn mềm hình bầu dục nhẵn không đau.

Sờ thừng tinh: như một sợi dây chắc chắn nhẵn lăn dưới tay và các mạch máu tĩnh mạch cũng mềm dễ bóp dẹt.

Lỗ bẹn nông ngoài gai xương mu 0,5 cm lỗ bình thường không lọt đầu ngón tay trỏ. Lỗ bẹn rộng có thể ruột chui xuống bìu. Ngoài ra còn có các phương pháp khác bổ sung xác định thương tổn.

Soi ánh sáng: dùng đèn pin chiếu sáng ánh sáng xuyên qua hay không chứng tỏ bìu chứa tổ chức đặc hay lỏng.

Chọc dò nước màng tinh hoàn để xác định nước do viêm lao hay do ung thư.

Sinh thiết: khi khám moọt bệnh nhân có bìu to trong một số trường hợp cần phân biệt:

Bìu to do ứ nước màng tinh hoàn, nang lớn ở mào tinh hoàn thừng tinh, do thoát vị bẹn.

Khối u tinh hoàn, mào tinh hoàn.

Giãn tĩnh mạch tinh.

Bìu to với các bệnh gặp trong cấp cứu ngoại khoa:

Thoát vị bẹn ngẹt

Xoắn tinh hoàn thường gặp ở trẻ em, thiếu niên.

Dập tinh hoàn sau trong chấn thương vùng bẹn bìu.

Tinh hoàn lạc chỗ.

Khám dương vật:

Khám da bao quy đầu – hẹp bao quy đầu (phymosis, paraphymosis)

Khám lỗ niệu đạo – bênh lỗ đái lệch thấp (hypospadias, epispadias)

Các bệnh lý gây cong vẹo dương vật, cương cứng dương vật, chấn thương dương vât.

CÁC PHƯƠNG TIỆN CHẨN ĐOÁN:

Xét nghiệm sinh học:

Nghiên cứu chức năng thân:

Là cần thiết trong ngoại khoa tiết niệu, đặc biệt trong những trường hợp cắt thận.

Đánh giá tổng thể:

Định lượng creatinin máu là xét nghiệm rất có giá trị: bình thường 100.000/ ml và bạch cầu nước tiểu tăng cao, có bạch cầu thoái hoá.

Cấy VK nước tiểu làm KSĐ

Một số điều chú ý:

Khi xét nghiệm thấy bạch cầu nước tiểu và cấy nước tiểu âm tính có thể do các lý do: hoặc là trước khi cấy nước tiểu đã dùng KS hoặc là một số loại vi khuẩn phải nhuộm hoặc chuẩn bị một cách đặc biệt để nhận biết chúng. Trước những trường hợp đái mủ, cấy nước tiểu nhiều lần âm tính cần phải tìm vi khuẩn lao.

Một số xét nghiệm vi khuẩn khác:

Cấy mủ niệu đạo, soi tươi.

Phân tích nước tiểu đầu bãi.

Xét nghiệm nước tiểu sau khi massage TLT.

Cấy tinh dịch.

Một số xét nghiệm sinh học khác:

Định lượng hormone sinh dục – tuyến thượng thận.

Định lượng Marqueurs tumoraux.

Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh:

Siêu âm:

Là một xét nghiệm không nguy hiểm, không đau và rất giá trị trong thăm dò hình thái hệ tiết niệu. Luôn luôn là xét nghiệm đầu tiên được lựa chọn trong thăm dò, cho nhiều thông tin cần thiết nhất là về hình thái học.

Ở phần cao: cho biết hình thái, độ dày mỏng của nhu mô thận và đài thận: bể thận, niệu quản.

Ở phần thấp: bàng quang – tiền liệt tuyến, hai túi tinh – tinh hoàn.

Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị:

Đòi hỏi thụt đại tràng trước khi chụp cần 2 phim: 1 thẳng, 1 nghiêng. Nó cho biết các thông tin:
Bóng thận: bình thường hoặc bị biến dạng.

Bóng cơ đái chậu

Hình cản quang của sỏi hoặc ở thận, hoặc ở đường tiết niệu.

Tình trạng các lưới xương: hình ảnh tăng đậm độ hoặc hình tiêu xương.

Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV):

Cho đến nay UIV vẫn là phương pháp đơn giản và cơ bản để đánh giá chức năng bài tiết của thận, hình thể bình thường hoặc bệnh lý của các đài thận, bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo.

Kỹ thuật tiến hành:

Cho bệnh nhân nhịn đói trong 12 giờ.

Thụt đại tràng trước khi tiến hành.

Cho bệnh nhân đi đái hoặc thông tiểu trước.

Chống chỉ định với những trường hợp ure máu cao > 0,8 g/l và có dị ứng với iod.

Tiêm thuốc cản quang vào đường tĩnh mạch số lượng tỷ lệ với trọng lượng bệnh nhân.

Chụp 1 phim rất sớm: 15 – 20 s sau khi tiêm thuốc cho phép thấy được hình ảnh động mạch thận.

1 phim sau 2 – 3 phút cho phép thấy được hình ảnh của nhu mô thận và qua đó đánh giá chức năng 2 thận.

Các phim từ 3 phút trở đi cho phép thấy được đài bể thận, niệu quản.

Có thể dùng 2 quả bóng ép vào niệu quản ở đoạn khớp cùng chậu để giữ thuốc cản quang ở đài bể thận cho phép nhìn được rõ hơn.

Chụp phim toàn thể niệu quản, đòi hỏi phải chụp nhiều phim vì niệu quản rất ít khi nhìn rõ trên 1 phim.

UIV sẽ được kết thức bởi phim chụp phần thấp của đường bài tiết và những phim ở thì bệnh nhân đái.

Trong những trường hợp đặc biệt thận ngấm thuốc chậm có thể chụp những phim ở thì muộn sau 60’, 90’, 120’… hoặc chụp UIV nhỏ giọt tĩnh mạch liều thuốc tăng gấp 2 – 3 lần bình thường.

Chụp niệu quản bể thận ngược dòng (UPR):

Được tiến hành bằng soi bàng quang, tìm lỗ niệu quản bên định chụp luồn ống thông lên niệu quản, bơm thuốc 12 – 15 ml tốt nhất là bơm theo dõi trên màn huỳnh quang. Chụp những phim ở những hình ảnh cần thiết.

Chụp UPR là thủ thuật dễ gây nhiễm trùng, đặc biệt trong những trường hợp tắc nghẽn. Do vậy đòi hỏi phải tuyệt đối vô khuẩn.

Chỉ định trong những trường hợp:

Khi chụp UIV thận không ngấm thuốc hoặc hình ảnh bể thận, niệu quản không rõ.

Cần tìm các lỗ rò lưu thông từ thận sang đường bạch huyết.

Chụp bể thận niệu quản xuôi dòng(UPD):

Được chỉ định trong những trường hợp tắc nghẽn niệu quản. Thận được dẫn lưu bằng ống thông.

Chụp bàng quang ngược dòng:

Đặt ống thông vào bàng quang, bơm thuốc cản quang qua ống thông với khối lượng vừa đủ.

Chụp niệu đạo ngược dòng:

Bơm thuốc cản quang ngược dòng từ miệng sáo dương vật chụp phim ở hai tư thế thẳng và nghiệng.

Chỉ định phát hiện các bệnh lý:

Chít hẹp niệu đạo.

Rò niệu đạo TSM hoặc rò niệu đạo – trực tràng, túi thừa niệu đạo.

Hình ảnh biến dạng niệu đạo trong bệnh lý khối u TCT.

Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner):

Giữ vị trí rất quan trọng trong thăm dò đường tiết niệu:

Ở tầng thắt lưng:

Cho phép phân tích một cách rõ nét các khối u thận, phân biệt nang thận và cho các thông tin để chẩn đoán u ác tính ở thận.

Cho hình ảnh xâm lấn tại chỗ của u ác tính:

Cho phép nhìn rõ các sỏi acid uric không cản quang.

Phân biệt giữa cục huyết khối với u đường bài tiết.

Ở vùng tiểu khung: cho những hình ảnh rất rõ u bàng quang và TCT tuy nhiên những hình ảnh xâm lấn tại chỗ và đặc biệt là các hạch thì không chắc chắn.

Chụp hệ bạch mạch:

Cho phép thấy được các hạch vùng chậu và vùng bụng.

Chỉ định để tìm các hạch bệnh lý trong các trường hợp ung thư.

Tuy nhiên xét nghiệm này có nhiều trở ngại: rất khó thực hiện, gây đau và đọc kết quả cũng không dẽ dàng, nhất là ở những bệnh nhân có tuổi, có nguy cơ tai biến về hô hấp tuần hoàn.

Chụp đồng vị phóng xạ:

Chụp đồng vị phóng xạ thận để biết chức năng từng thận.

Chụp đồng vị phóng xạ hệ thống xương thường được sử dụng để phát hiện các ổ di căn ung thư vào xương, đặc biệt là ung thu TCT.

Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI):

Ít được sủ dụng trong tiết niệu vì nó cho những hình ảnh tương tự như chụp scanner.

Chụp động mạch:

Là một xét nghiệm cho kết quả rất tốt.

Tuy nhiên có nhiều hạn chế: đòi hỏi phải chụp nhiều phim, tiêm một số lượng lớn thuốc cản quang.

Đặc biệt. là phải chọc vào thân một động mạch lớn, nó sẽ gây đau và nguy hiểm cho bệnh nhân.
Chỉ định chủ yếu là : u thận và ung thư.

Chụp tĩnh mạch chủ:

Được chỉ định:

Phát hiện cục máu đông trong tĩnh mạch thận

Nghiên cứu sự liên quan giữa u thận và tĩnh mạch chủ dưới. Phát hiện thâm nhiễm ung thư vào tĩnh mạch chủ.

Các dụng cụ và xét nghiệm nội soi:

Chỉ định: có rất nhiều loại ống thông niệu đạo và niệu quản được sủ dụng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý đường tiết niệu.

Chẩn đoán:

Ống thông đặt vào bàng quang để lấy nước tiểu làm xét nghiệm, đo lượng nước tiểu cặn trong bàng quang, bơm thuốc cản quang vào niệu đạo, bàng quang để chụp…

Điều trị:

Đặt thông tiểu điều trị bí đái, bàng quang thần kinh…

Đặt thông niệu quản trong một số bệnh tắc nghẽn niệu quản,

Các loại ống thông:

Kích thước đường kính ống thông thường được đánh số theo chỉ số French (Fr). Ống thông số 3 Fr có đường kính là 1 mm, 1 Fr = 0,33 mm đường kính. Cỡ ống thông trung bình để đặt cho người lớn trưởng thành là từ 18 – 22 Fr.

Các xét nghiệm:

Soi niệu đạo – bàng quang:

  • Ở phụ nữ ít đau hơn ở nam giới. Đòi hỏi hoặc gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân.
  • Cho phép nhìn được niêm mạc niệu đạo và bàng quang, cho phép chụp UPR.
  • Nguy hiểm: dễ gây nhiễm khuẩn, chấn thương niệu đạo.

Soi niệu quản: Cho phep phát hiện các u trong lòng niệu quản và điều trị tắc sỏi nội soi niệu quản.

Soi bể thận qua da.

Doppler

Giải phẫu bệnh học và tế bào học: thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư bàng quang và TCT

Thăm dò niệu động học và đọng học bàng quang:

  • Cho phép đo áp lục trong bàng quang và niệu đạo khi làm căng bàng quang và khi đi đái.
  • Ghi nhận sự thay đổi áp lực khi dùng các loại thuốc khác nhau.
  • Cho phép nghiên cứu hoạt động của hệ thống cơ thắt và tìm hiểu cơ chế hoạt động của nó
Advertisements

Xuất tinh sớm – Phương pháp tự luyện tập

XUẤT TINH SỚM LÀ GÌ ?

Người đàn ông có hoạt động tình dục bình thường là người kiểm soát được một cách có ý thức phản xạ xuất tinh của mình. Người xuất tinh sớm không thể kiểm soát tình trạng xuất tinh của mình một cách thích hợp và có ý thức. Họ xuất tinh nhanh và không tự chủ.

TS. BS. TỪ THÀNH TRÍ DŨNG


THẾ NÀO LÀ SỚM?

Một số trung tâm Nam học cho rằng xuất tinh sớm là xuất tinh dưới một phút sau khi đưa dương vật vào âm đạo. Vài nơi thì lấy tiêu chuẩn là một phút, hoặc một phút rưỡi, hoặc hai phút. Có nơi chẩn đoán xuất tinh sớm nếu khoảng thời gian từ khi bắt đầu giao hợp đến khi xuất tinh của người đàn ông chỉ bằng hoặc ít hơn khoảng thời gian từ lúc giao hợp đến lúc đạt điểm cực khoái của người phụ nữ.

Tuy nhiên, không ai có thể đưa ra thời gian chính xác của quá trình xuất tinh bình thường. Như vậy, KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ THỜI GIAN XẢY RA TRONG BAO LÂU và có thể nói người đàn ông bị xuất tinh sớm là người đàn ông không kiểm soát được quá trình xuất tinh. Do đó họ đạt cực khoái một cách không tự chủ trước khi họ muốn.

CÁC QUAN NIỆM ĐIỀU TRỊ SAI LẦM

Trước đây, người ta điều trị xuất tinh sớm bằng các cách sau đây:

– Làm giảm cảm giác của đầu dương vật bằng cách dùng thuốc tê thoa đầu dương vật.

– Điều trị tâm lý (rất mất thời gian và chi phí).

Hiện nay, cơ chế của xuất tinh sớm được hiểu rõ hơn, trên 90% bệnh nhân xuất tinh sớm có thể được điều trị trong thời gian trung bình 14 tuần.

HẬU QUẢ CỦA XUẤT TINH SỚM

Xuất tinh sớm thông thường không là vấn đề nghiêm trọng đối với người đàn ông cũng như bạn tình của họ. Một số nam giới chấp nhận tình trạng mất kiểm soát của họ. Một số phụ nữ cũng không lo lắng về vấn đề thiếu kiểm soát xuất tinh của bạn tình họ.

Nhưng đôi khi, xuất tinh sớm là nguyên nhân gây ức chế người đàn ông cũng như bạn tình của họ, ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục và có thể đe dọa đến mối quan hệ của họ.

PHƯƠNG PHÁP TỰ TẬP LUYỆN

Đây là bài tập đặc biệt ở nhà dành cho người bị xuất tinh sớm với mục đích giúp họ cải thiện và làm gia tăng nhận thức của họ một cách từ từ và có hệ thống đối với những khoái cảm tình dục xảy ra trước khi độ cực khoái xuất hiện.

Tự tập hai đến ba lần một tuần ở nhà. Ngoài ra, phải đến bác sĩ chuyên khoa mỗi tuần một lần, để được tư vấn, giải thích và sửa chữa những sai lầm mắc phải.

Bước 1: Tập trung vào cảm giác của bộ phận sinh dục

Tạo cảm giác thoải mái, không bị quấy rầy. Bắt đầu thủ dâm theo cách bạn thường sử dụng. Nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp hay ngồi. Cầm toàn bộ dương vật hay đầu dương vật, kích thích theo nhịp. Kích thích nhẹ từ từ hoặc mạnh. Sau đó làm chậm lại và cố gắng tập trung vào khoái cảm xuất phát của dương vật. Tập trung vào những cảm giác mà nó sẽ tạo độ cực khoái cho bạn nhưng chưa đến thời điểm xuất tinh. Sau đó thả lỏng và thưởng thức độ cực khoái.

Bước 2: Kích thích dương vật theo phương pháp “ngừng – bắt đầu”

Một ngày hoặc hai ba ngày sau đó, thủ dâm lần nữa trong điều kiện không bị căng thẳng. Trong giai đoạn này, tư thế không quan trọng vì sử dụng tay là chủ yếu. Ngừng kích thích khi bạn đạt đến mức khoái cảm cao hơn, gần với độ cực khoái. Ngưng vài giây, nhưng không quá lâu, dễ mất hiện tượng cương nhưng đủ dài để sự hưng phấn của bạn giảm đi một chút.

Sau đó, bắt đầu lại việc kích thích dương vật và đầu dương vật theo nhịp. Thực hiện ba lần chu kỳ trên. Cuối cùng, bạn có thể tiếp tục lần thứ tư nhanh và thoải mái tùy theo khả năng của bạn. Trong giai đoạn này, cố gắng tập trung vào khoái cảm của dương vật. Đừng cố gắng kiềm chế hay ngăn cản nó.

Bước 3: Kích thích dương vật theo phương pháp “ngừng – bắt đầu” trong tình trạng “ướt”

Lặp lại bài tập thứ hai mỗi hai hay ba ngày cho đến khi bạn trở nên quen với cảm giác trước khi đạt điểm cực khoái và bắt đầu cảm thấy có thể kiểm soát được. Nếu phải cần thực hành nhiều hơn để thuần thục trước khi bắt đầu bước kế tiếp, đừng lo lắng, kết quả có thể tuyệt vời ngay cả nếu bạn phải luyện tập dài hơn.

Giai đoạn này, thực hiện phương pháp tự kích thích dưới vòi tắm hoa sen. Dùng nước ấm và dùng xà bông thoa vào tay để kích thích dương vật giống như chất nhờn. Điều này gây cảm giác dễ chịu và khác với các phương pháp tập luyện cũ của bạn.

Tuy nhiên, một số người cảm thấy bất tiện khi tập luyện trong phòng tắm dưới vòi sen, nên họ có thể thực hiện bài tập này ở bất cứ nơi đâu, miễn là có sử dụng chất bôi trơn (như vaseline). Mục đích của bài tập này là bệnh nhân làm quen với cảm giác “ướt”. Điều này hết sức quan trọng, vì cảm giác này tương tự như cảm giác của dương vật trong âm đạo.

Khi bạn có thể thực hiện bài tập này trong 3 phút, bạn đã sẵn sàng cho bước tiếp theo. Tuy nhiên, không nên tính thời gian quá chi tiết và quan trọng hóa điều này, nên thiết lập khoảng thời gian thích hợp cho riêng mình. Để đạt được thành công, bạn cần học được và nhận được cảm giác thoải mái, hài lòng khi luyện tập. Đừng lo lắng và bận tâm về thời lượng mà bạn thực hiện.

Bước 4: Kích thích dương vật theo phương pháp “chậm – nhanh”

Lặp lại bài tập “ngừng – bắt đầu” hoặc trong phòng tắm hoặc ở nơi khác nhưng có sử dụng chất bôi trơn vaseline. Trong thời gian này, khi kích thích dương vật gần đạt đến độ cực khoái, bạn không dừng lại giống như những bước trước mà vẫn tiếp tục kích thích với tốc độ chậm, từ từ. Lúc đầu, có thể bạn phải ngừng một chút để lấy lại sự kiểm soát. Nhưng sau khi thực hiện vài lần, bạn sẽ quen dần và kiểm soát được sự hưng phấn của bạn chỉ bằng cách giảm nhịp độ và tốc độ kích thích.

Bước 5: Cách giữ sự hưng phấn

Bây giờ bạn chuẩn bị bài tập cuối cùng, bài tập này giúp bạn tự kiểm soát một cách vững vàng trong giai đoạn đạt khoái cảm.

Vào lúc này, bạn đã quen với cảm giác tình dục của mình. Bây giờ, độ kích thích tình dục (không phải là độ cương cứng của dương vật) được chia theo thang điểm thành 10 mức, từ 0 đến 10. Mức 0 là khi bạn hoàn toàn không kích thích. Mức 10 là khi bạn đạt độ cực khoái và sau đó xuất tinh. Bạn nên ngừng kích thích dương vật ở mức 8,5. Nếu bạn cố gắng đến mức 9,5, có nghĩa là bạn đi quá xa. Như thế thì rất khó kiểm soát và kiềm chế được tình trạng xuất tinh. Ngược lại, nếu bạn ngừng kích thích ở mức 4 hoặc 5, thì quá ngắn. Cần nhắc lại, mục đích của bài tập này không làm giảm sự kích thích của bạn mà là làm cho bạn chủ động và kiểm soát được sự kích thích và xuất tinh trong khi bạn đang ở giai đoạn cao của quá trình hưng phấn. Như vậy, bạn có thể tận hưởng được cảm giác khoái cảm tuyệt vời ở đỉnh điểm thay vì phải kiềm chế nó.

Sau khi bạn thực hiện bài tập này một cách thuần thục, bạn áp dụng bài tập này theo kiểu “ướt” bằng cách sử dụng vaseline (hoặc thực hiện dưới vòi sen). Bạn tự kích thích cho đến khi đạt được mức 6, sau đó làm chậm dần và độ khoái cảm của bạn giảm dần còn 6. Khi đó, kích thích nhanh trở lại để đạt mức 7 và cố gắng giữ mức kích thích từ 5 đến 7 trong 2 phút. Cần chú ý, không giữ khoái cảm ở mức 8 – 9, vì quá gần với độ cực khoái, có thể làm xuất tinh. Một lần nữa cần nhắc lại, bài tập này không phải kìm hãm sự khoái cảm của bạn mà là can thiệp vào quá trình kích thích tạo khoái cảm của bạn. Bạn sẽ thấy rằng bạn có thể kiểm soát được mức độ hưng phấn của mình chỉ bằng cách thay đổi tốc độ kích thích ở dương vật. Sau khi bạn duy trì được khoái cảm trong hai phút, hãy tăng nhanh tốc độ và thưởng thức độ cực khoái của mình. Thực hành lại bài tập này, cho đến khi bạn có thể giữ khoái cảm ở mức độ cao trong khoảng 5 phút.

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý

KHÔNG LO LẮNG VÀ CĂNG THẲNG.

Cố gắng tập trung và tránh mọi căng thẳng, lo lắng. Nếu không, bạn không nên tiến hành phương pháp tập luyện này. Hãy thực hiện bài tập này vào lúc khác khi đã có quân bình về cảm xúc. Đây là nguyên tắc rất quan trọng mà bạn phải luôn luôn tuân theo.

Tránh mọi hoạt động tình dục trong khi bạn đang tập luyện, kể cả thủ dâm cho đến khi kiểm soát một cách thuần thục.

ĐỪNG THỰC HIỆN LUYỆN TẬP MỘT CÁCH BỪA BÃI

Nếu bạn muốn điều trị tình trạng xuất tinh sớm của mình, bạn phải tự cam kết với chính mình rằng bạn thực hiện chương trình một cách hệ thống và kỷ luật. Ngoài ra, bạn có thể đến các chuyên gia tình dục học tư vấn thêm (trung bình mỗi tuần một lần).

ĐỪNG THẤT VỌNG

Nếu bạn thực hiện đúng bài tập một cách nghiêm túc nhưng không cải thiện quá trình kiểm soát xuất tinh, đừng thất vọng. Điều này không có nghĩa là không điều trị được mà có nghĩa rằng bạn cần sự giúp đỡ và tư vấn của thầy thuốc để sửa chữa những sai lầm, hoặc chia sẻ những cảm xúc thầm kín, những rắc rối của bạn.

ĐỪNG THỰC HIỆN GƯỢNG ÉP

Tùy thuộc vào tuổi và sức bền của bạn mà có thể tập luyện một hoặc ba lần tuần. Đừng thực hiện hơn, biến nó thành hoạt động phản tác dụng. Quan điểm điều trị ở đây là tập trung vào cảm xúc làm cho bạn được thoải mái, không phải để đánh giá thành tích của bạn.

Bàng quang tăng hoạt động

OAB: Overactive Bladder)

Bàng quang tăng hoạt động là gì?

Bàng quang tăng hoạt động (OAB) là tình trạng bàng quang tăng co bóp, và co bóp không đúng lúc gây cảm giác mắc tiểu, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm hoặc són tiểu gấp.

OAB làm giảm chất lượng sống và có thể gây những bệnh lý khác như: viêm đường tiểu, loét da, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm,…

BS Từ Thành Trí Dũng – Phân khoa Niệu thận BVĐH Y Dược

Nguyên nhân

OAB không là phải là quá trình lão hóa tự nhiên, không do uống nước nhiều, không là hậu quả của việc sinh nở. Nhiều yếu tố có thể là nguyên nhân gây ra OAB gồm:

1 – Tổn thương thần kinh: tai biến mạch máu não, bệnh Parkinson, chấn thương cột sống,…

2 – Bế tắc hoặc suy yếu niệu đạo.

3 – Suy yếu các cơ nâng bàng quang.

4 – Thiếu hụt estrogen ở nữ.

5 – Phì đại tuyến tiền liệt ở nam.

6 – Nhiễm trùng tiểu, ung thư bàng quang, sỏi bàng quang.

7- Biến chứng sau khi cắt tử cung hoặc tuyến tiền liệt.

8 – Nguyên nhân khác: trầm cảm, lo âu, viêm bàng quang, béo phì, dùng nhiều caffein, thuốc lợi tiểu,…

Tần suất của OAB

Khoảng 34 triệu người trưởng thành ở Mỹ mắc chứng OAB. Tỷ lệ nam/nữ ngang nhau (nam 16%, nữ 17%). Khả năng mắc OAB tăng theo tuổi. Ở nữ thường gặp sau 44 tuổi. Ở nam thường gặp sau 64 tuổi.

Chẩn đoán

– Bác sĩ sẽ khám bụng, trực tràng, âm đạo (nữ) hoặc tuyến tiền liệt (nam) để phát hiện những bất thường có thể là nguyên nhân gây OAB như: yếu cơ vùng chậu, sa tử cung, tổn thương thần kinh, viêm nhiễm,…

Niệu dòng đồ: đo tốc độ dòng nước tiểu nhằm phát hiện những nguyên nhân gây tắc nghẽn đường tiểu.

Đo thể tích nước tiểu tồn lưu: để xem lượng nước tiểu còn ứ đọng trong bàng quang sau khi đi tiểu.

Đo áp lực bàng quang: đánh giá sự co bóp của cơ bàng quang để chẩn đoán xác định và tìm nguyên nhân.

Đo điện cơ của cơ vòng niệu đạo: thăm dò và đánh giá áp lực của cơ niệu đạo trong qua trình đi tiểu. Chụp X quang: giúp phát hiện những bất thường của hệ niệu.

Siêu âm có thể xác định những vấn đề của tiền liệt tuyến hoặc bất thường của bàng quang.

Điều trị OAB

Có nhiều phương pháp điều trị OAB. Đừng nản lòng nếu lần đầu thất bại, còn nhiều lựa chọn khác.

Thay đổi lối sống

– Hạn chế thuốc lá, cafe, socola, rượu, trà, thức uống uống có gas, thức ăn chua, cay, sản phẩm làm từ đường, sữa, đường nhân tạo,…

– Uống nước vừa đủ, không hạn chế, nhưng ít uống nước trước khi ngủ.

– Điều trị các bệnh kèm theo như: bón, nhiễm trùng tiểu, bệnh tiền liệt tuyến, thiếu hụt estrogen ở nữ,…

Huấn luyện bàng quang

Bác sĩ sẽ đề nghị thời khóa biểu cho việc đi tiểu, giúp bạn đi tiểu mỗi 3-4 giờ/lần. Các cách giúp bạn khống chế tình trạng mắc tiểu là: hít thở sâu, tập trung trong tâm trí một vấn đề nào khác.

Huấn luyện cơ vùng hội âm

Giúp tăng cường sức mạnh cơ vùng đáy chậu, giúp kiểm sóat việc đi tiểu. Co cơ trong vòng 2-3 giây rồi thư giãn, lặp lại khoảng 15 lần, đến khi cơn mắc tiểu mất đi. Sau đó bạn có thể đi vệ sinh nếu như có nhu cầu. Chỉ cần vài phút mỗi ngày, bạn có thể cải thiện được tình trạng đi tiểu.

Dùng thuốc

Hầu hết các thuốc chỉ điều trị triệu chứng, làm giảm co thắt bàng quang. Không phải ai cũng đáp ứng với thuốc. thuốc chỉ hiệu quả khoảng 50-80%. Khoảng 2 – 4 tuần, thuốc mới đạt hiệu quả tối đa.

Có một số tác dụng phụ như: khô miệng, táo bón, mờ mắt, đau đầu, nhịp nhanh, run tay, tiêu chảy, ói mửa, đau bụng,… Không dùng ở người tăng nhãn áp, bí tiểu, suy gan thận, đang có thai hoặc cho con bú.

Kích thích thần kinh

Dùng điện cực kích thích các dây thần kinh, làm giảm cảm giác mót tiểu, số lần đi tiểu và số luợng nước tiểu trong một lần đi. Các điện cực thường là những kim nhỏ, hoặc những miếng dán trên da.

Phẫu thuật

Phẫu thuật không thường được sử dụng trong điều trị OAB, chỉ áp dụng cho những người không đáp ứng với các trị lịệu khác, hoặc dành cho những người bàng quang bị teo nhỏ.

Những điều cần biết về chụp UIV

UIV là chữ viết tắt tiếng Pháp của Urographie Intra Veineuse, tức là chụp X quang hệ tiết niệu bằng đường tĩnh mạch. Đây là phương pháp căn bản để khảo sát về chức năng và hình thái của hệ tiết niệu: thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo


Nguyên lý của cách chụp này ra sao ?
Thuốc cản quang được tiêm vào đường tĩnh mạch sẽ đến thận, thận lọc và bài tiết giúp thuốc ngấm vào toàn bộ hệ tiết niệu theo thời gian và được ghi hình lại trên X quang.

Khi nào cần chụp UIV ?
Người đến chụp UIV phải được bác sĩ lâm sàng khám trước và cho chỉ định chụp khi có nghi ngờ hay đã có bệnh về đường tiết niệu. Chỉ định chụp UIV thông thường trong các bệnh: sỏi, nhiễm trùng, tắc nghẽn, u bướu hay khảo sát các dị dạng.. của đường tiết niệu

Trước khi chụp UIV, người được chụp cần chuẩn bị như thế nào ?
Sau khi có chỉ định của bác sĩ lâm sàng, người được chụp UIV sẽ đến gặp bác sĩ X quang để:
– Được giải thích về cách chụp

– Cần mang theo các xét nghiệm hay các kết quả, hình ảnh của các phương tiện chẩn đoán khác nếu có (siêu âm, nội soi, CT scan, MRI… có liên quan) để bác sĩ X quang hiểu rõ thêm về bệnh trạng và đưa ra qui trình chụp thích hợp

– Kiểm tra mạch, huyết áp, cân nặng và các xét nghiệm chức năng thận (urea, BUN, créatinine huyết thanh…) để tính toán liều lượng và loại thuốc cản quang sẽ sử dụng

Cần báo ngay cho bác sĩ X quang nếu:
– Có thai hay nghi ngờ có thai

– Tiền căn dị ứng, nhất là dị ứng với các sản phẩm có chứa iode (thức ăn, thuốc bôi ngoài da, các lần chích thuốc cản quang trước…)

– Đang được điều trị bằng các thuốc tiểu đường hay thuốc lợi tiểu vì một số loại thuốc tiểu đường cần phải ngưng trước và sau khi chụp UIV tùy theo loại thuốc cản quang được dùng.

– Vài ngày trước đây có dùng các thuốc cản quang nào khác (chụp dạ dày, chụp đại tràng…)

Ngoài ra, người được chụp UIV cần phải:
– Nhịn đói ít nhất 6 giờ trước khi chụp để phòng ngừa khi có tai biến do thuốc cản quang

– Làm sạch đại tràng (ruột già) để tránh các dị vật, phân, hơi che lấp hình ảnh hệ niệu khi chụp, bằng cách:

+ Hoặc: ngày trước chụp cần ăn nhẹ (cháo, sữa,.. tránh các chất nhiều sơ, chất sinh hơi) và ngay trước khi chụp thụt tháo (rửa ruột) nhiều lần bằng nước ấm

+ Hoặc uống các loại thuốc xổ làm sạch đại tràng (Fortran)

– Cần đi tiểu hết ngay trước khi chụp

Cách thức chụp UIV ra sao ?
– Trình tự một cuộc chụp UIV thông thường như sau:
– Người được chụp nằm ngửa trên bàn X quang, kỹ thuật viên kiểm tra lần nữa mạch, huyết áp.
– Chụp một phim hệ niệu không sửa soạn ngay trước tiêm cản quang.

Bác sĩ X quang sẽ chích vào tĩnh mạch thuốc cản quang 1ml trước để thử test (phản ứng thuốc), đợi trong vài phút nếu không có phản ứng sẽ tiêm toàn bộ lượng thuốc thích hợp. Thường chỉ tiêm một liều duy nhất, hiếm khi phải tiêm liều bổ sung.

Sau đó, bác sĩ hay kỹ thuật viên sẽ chụp các phim ở các thời điểm khác nhau (thường là 5 phút, 15 phút, 30 phút sau khi tiêm cản quang); tùy loại bệnh và kết quả hình ảnh có được, có khi phải chụp thêm ở các thời điểm muộn hơn (1 giờ, 2 giờ… thậm chí 6 giờ) để đánh giá chính xác chức năng thận và hình thái hệ tiết niệu.

Khi các hình ảnh đã đạt yêu cầu chẩn đoán, bác sĩ sẽ quyết định kết thúc cuộc chụp và thời điểm người được chụp được ăn uống bình thường trở lại.

Quá trình chụp UIV có gây khó chịu gì cho người được chụp ?
Thông thường, ngay khi tiêm thuốc cản quang, người được chụp sẽ có cảm giác nóng nhẹ dọc theo đường mạch máu tiêm thuốc, lan dần lên cổ, họng, mặt, xuống ngực và toàn thân. Đó là cảm giác bình thường do thuốc cản quang lưu thông trong máu. Cảm giác này sẽ hết ngay sau vài phút.

Liều lượng tia X dùng cho cuộc chụp luôn luôn ở mức an toàn cho người được chụp mà không gây cảm giác khó chịu hay ảnh hưởng đến tế bào máu.

Những tác dụng phụ nào có thể xảy ra trong quá trình chụp UIV ?
Đó là những tai biến do thuốc cản quang khi tiêm vào máu, thường thì nhẹ, thoáng qua như: buồn nôn, nôn, cảm giác nóng bừng, ngứa, nổi mề đay, đỏ da, đau tại nơi tiêm, khàn tiếng, hắt hơi, xổ mũi, ho, đau ngực, đau bụng, hồi hộp đánh trống ngực, phù mặt, ớn lạnh rùng mình…mà không cần xử trí gì, sẽ tự hết sau vài phút hoặc chỉ cần điều trị bằng các thuốc kháng dị ứng thông thường.

Nặng hơn là: khó thở, hạ huyết áp đột ngột hay ngừng tim, mất tri giác hay rất nặng bắt buộc phải có sự can thiệp của bác sĩ gây mê hoặc nhập viện.

Các triệu chứng tác dụng phụ của thuốc xảy ra khi nào?
Khoảng 70% các trường, tác dụng phụ của thuốc xảy ra ngay trong khi tiêm hoặc trong vòng 5 phút sau khi tiêm thuốc cản quang. 16% các trường hợp xảy ra sau 5 phút sau tiêm.

Những cơ địa nào dễ xảy ra tác dụng phụ của thuốc?
Những người đã có tiền căn bị tác dụng phụ ở những lần tiêm thuốc cản quang trước có nguy cơ cao nhất, kế đến là những người có bệnh tim và những người có tiền căn dị ứng (hen suyễn, mề đay, dị ứng thức ăn…).

Các loại thuốc cản quang nào thường được dùng để chụp UIV
Thuốc cản quang dùng để chụp UIV là loại cản quang tan trong nước, sau khi tiêm sẽ đào thải hoàn toàn qua đường tiểu. Hiện nay có 2 nhóm chính:

– Nhóm đơn hay đa phân tử có tạo ion (kinh điển, như télébrix-35, hexabrix-32…) có độ thẩm thấu cao nên gây lợi tiểu thẩm thấu.

– Nhóm cản quang không tạo ion (thế hệ mới, như xénétix-30…) có độ thẩm thấu không cao như loại trên, ít tác dụng lợi tiểu thẩm thấu hơn nên cho hình ảnh cản quang hệ tiết niệu rõ hơn. Và trên nhiều công trình đã chứng minh thuốc cản quang nhóm này có tỉ lệ tác dụng phụ thấp hơn đáng kể (khoảng 6 lần) so với nhóm có tạo ion, nhất là giảm đáng kể các biến chứng thuộc nhóm nặng và rất nặng. Tuy nhiên thuốc nhóm này giá thành khá cao hơn.

Do đó, tùy tiền căn dị ứng, tiền căn bệnh tim mạch và thể trạng của người được chụp mà bác sĩ X quang sẽ hướng dẫn và chọn lựa loại thuốc cản quang thích hợp để chụp.

Bệnh giãn tĩnh mạch thừng tinh

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là gì ?

  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh là giãn các tĩnh mạch nằm phía trên tinh hoàn. Thường xuất hiện quanh tinh hoàn trái
  • Nguyên nhân cũng giống như giãn tĩnh mạch ở chân và do dòng máu chảy ngược vào trong các tĩnh mạch
  • Khi máu ứ trong tĩnh mạch phía trên tinh hoàn, nó có thể làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng. Trong nhiều trường hợp, số lượng tinh trùng có thể cải thiện sau khi điều trị

Các triệu chứng giãn tĩnh mạch thừng tinh là gì ?

  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh thường không triệu chứng
  • Đôi khi có thể gây căng nhức hay nặng ở bìu. Đau có thể tăng hơn về cuối ngày hay khi đứng, hoạt động hay ngồi lâu
  • Khi giãn tĩnh mạch thừng tinh to, chúng ta có thể thấy 1 khối sưng phía trên bìu



Làm thế nào để chẩn đoán giãn tĩnh mạch thừng tinh ?

  • Chẩn đoán bằng thăm khám thực thể
  • Nếu bạn thấy đau và bác sĩ không sờ được tĩnh mạch giãn, siêu âm có thể được sử dụng để chẩn đoán

Các phương pháp điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh

  • Khoảng 1/10 người nam có giãn tĩnh mạch thừng tinh. Tuy nhiên, nhiều người có tĩnh mạch thừng tinh giãn không có bất thường về số lượng tinh trùng hay các vấn đề về thừng tinh.
  • Không phải tất cả bệnh nhân có giãn tĩnh mạch thừng tinh đều cần phải phẫu thuật
  • Nếu đau, hay nếu tĩnh mạch giãn xấu hay nếu bạn hay bạn tình cảm thấy xấu, bạn có thể được phẫu thuật hay các phương pháp khác để làm giảm bớt giãn tĩnh mạch thừng tinh

1. Chờ đợi theo dõi

  • Nếu bạn không đau, bạn và bạn tình không cảm thấy khó chịu thì có thể theo dõi trong 1 thời gian
  • Nếu tĩnh mạch thừng tinh không giãn to hơn và không gây khó chịu thì không cần điều trị.

2. Phẫu thuật (cột tĩnh mạch thừng tinh giãn)

Bác sĩ có thể đề nghị bạn phẫu thuật (cột tĩnh mạch thừng tinh giãn) để cột các tĩnh mạch giãn chung quanh tinh hoàn.

  • Thời gian phẫu thuật chỉ từ 30-60 phút
  • Vô cảm để có thể gây mê hay gây tê
  • Đường mổ ở vùng bẹn hay bụng dưới. Tĩnh mạch sau đó được cắt và cột
  • Sau mổ, thời gian hồi phục là 2-3 giờ
  • Cần phải có người thân theo bạn nếu bạn muốn xuất viện ngay vì tác dụng của thuốc mê hay thuốc tê vẫn còn.

3. Các phương pháp khác

Trong phòng mổ, bác sĩ có thể đề nghị bạn thực hiện kẹp hay làm tắt các tĩnh mạch giãn

  • Cũng cần gây mê hay gây tê và rạch 1 đường nhỏ ở vùng bẹn hay bụng dưới
  • Sử dụng 1 dụng cụ đặc biệt dùng trong phẫu thuật nội soi để kẹp tĩnh mạch
  • Cách khác, dùng thuốc để chích vào tĩnh mạch và làm tắc các tĩnh mạch

Các biến chứng có thể gặp
Chảy máu
Nhiễm trùng
Tràn dịch màng tinh: bìu sưng to và ứ dịch
Tái phát
Tổn thương động mạch thừng tinh, gây teo tinh hoàn

Diễn tiến sau điều trị

  • Cần khoảng 5-7 ngày để bạn có thể trở lại với công việc hàng ngày (thí dụ như thể thao)
  • Bạn có thể tắm sau 24 giờ, tuy nhiên không nên ngâm trong bồn tắm trong vòng 5 ngày
  • Có thể đi làm sau 48 giờ
  • Có thể đau vừa, sưng vừa bìu và có thể rỉ dịch trong đường mổ. Nếu rỉ dịch dùng gạc vô trùng để băng lại.
  • Tránh hoạt động mạnh trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật bao gồm: nâng vác nặng và hoạt động tình dục. Sau 48 giờ bạn có thể tiếp tục các hoạt động bình thường nếu không thấy khó chịu, kể cả hoạt động tình dục
  • Bạn cứ tiếp tục chế độ ăn thường ngày
  • Có thể dùng thuốc giảm đau. Dùng liên tục 48h và sau đó nếu thấy đau khó chịu thì có thể tiếp tục sử dụng
  • Tái khám sau mỗi 2 tuần để đánh giá vết mổ có lành tốt hay không
  • Phân tích nhiều mẫu tinh dịch sau khi phẫu thuật. Mẫu đầu tiên số lượng tinh trùng không tăng, nhưng sau đó số lượng tăng dần.

Liên hệ với bác sĩ điều trị ngay nếu:

  • Đau kéo dài sau mổ và không giảm khi dùng thuốc
  • Đen và xanh chung quanh vết mổ, chảy máu vết mổ
  • Có mùi khắm
  • Bìu sưng to
  • Sốt cao 380C hay và có kèm lạnh run