Category Archives: Dinh dưỡng

Ngộ độc rượu

Rượu, bia là sản phẩm do chính con người tạo ra và đã có chỗ đứng từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người. Sử dụng rượu bia đúng cách và thích hợp đem lại cho con người những tác dụng tích cực về mặt tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống được nâng cao, thói quen ăn nhậu và lạm dụng rượu bia cũng ngày càng gia tăng.

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, khoảng 1/3 dân số thế giới có sử dụng rượu, trong đó 77 triệu người lạm dụng rượu. Lạm dụng rượu bia không chỉ gây hậu quả cho cá nhân những người uống rượu, gia đình họ mà còn để lại nhiều hậu qủa cho xã hội.

Điều rất đáng lưu tâm là những tiêu cực của việc lạm dụng uống bia rượu có tác động hết sức nghiêm trọng tới các hoạt động xã hội nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực ATGT nói riêng.Theo một công trình nghiên cứu rất công phu về tác dụng sinh lý của rượu bia đã cho thấy: Hệ số tăng nguy cơ gây tai nạn tỷ lệ thuận với độ cồn trong máu.

Khi nồng độ cồn đạt 0,16 – 0,2g/1lít máu thì phản xạ bắt đầu giảm; khi độ cồn ở mức 0,2 – 0,3g/ 1lít máu điện não bị ức chế, ước lượng sai về khoảng cách và tốc độ; từ 0,3 – 0,8g cảm giác lâng lâng, phản ứng cử động bị ức chế kéo dài; ở mức 0,8 – 1,5g, rối loạn phản xạ,…

1. Cơ chế tác động của ethanol

Cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất, chưa phát hiện được thụ thể đặc hiệu của ethanol. Ethanol dễ dàng được hấp thu qua đường tiêu hoá, 80% được hấp thu ở ruột non. Loại đồ uống, nồng độ rượu, và sự có mặt của thức ăn cũng làm thay đổi tốc độ hấp thu.

Nếu dạ dày rỗng, nồng độ đỉnh của ethanol đạt được sau uống là 30 – 60phút. So với nam giới, phụ nữ có nồng độ đỉnh đạt được cao hơn sau khi uống cùng một số lượng rượu.

Chuyển hoá chủ yếu tại gan, chỉ 2-15% ethanol được đào thải qua hơi thở, nước tiểu và qua da dưới dạng không đổi. Sau uống, nồng độ ethanol có thể đạt mức trên 100mg/dL, nồng độ này giảm khoảng 15 -30mg/dL/h.

Có 3 hệ enzym trong gan chuyển hoá ethanol, đặc biệt hệ alcohol dehydrogenase là quan trọng nhất, bình thường khi uống ít rượu, hệ này chuyển hoá trên 80% ethanol. Sự khác nhau về enzym alcohol dehydrogenase và aldehyde dehydrogenase do di truyền có vai trò làm cho một số người dễ bị nghiện rượu hơn.

Ethanol la một chất ức chế TKTW, nồng độ tác dụng chung tương quan với biểu hiện ngộ độc. Vì chức năng vỏ não ở phần trên bị ức chế trước nên ban đầu thường có giai đoạn kích thích nghịch thường do thoát các ức chế về mặt xã hội đã học được.

Với người không dung nạp được rượu, với nồng độ 150mg/dL hoặc hơn có thể gây ngủ lịm, mất điều hoà, nồng độ 250mg/dL có thể hôn mê và tử vong với nồng độ trên 450mg/dL. Người uống rượu kéo dài, để có các triệu chứng này cần có nồng độ cao hơn. Với liều cao, ethanol như là một thuốc mê, ức chế TKTW, rối loạn các chức năng tự động (tụt huyết áp, hạ thân nhiệt), hôn mê, và tử vong do ức chế hô hấp, truỵ tim mạch.

2. Biểu hiện lâm sàng như thế nào?

Bệnh nhân biểu hiện các mức độ rối loạn ý thức khác nhau: kích thích, sững sờ, hôn mê.

Mùi ethanol trong hơi thở nói chung thường có nhưng không phải trong tất cả các trường hợp.

Ngộ độc nhẹ và vừa: nói ngọng, mất điều hoà, rung giật nhãn cầu.

Nôn thường có ở những người ít uống rượu.

Trẻ em dưới 10 tuổi là đối tượng dễ bị hạ đường máu nhất, đường máu có thể hạ tương đối thấp.

3. Thái độ xử trí với bệnh nhân ngộ độc rượu

Đặt NKQ để đảm bảo đường thở thông thoáng và tránh sặc, thở máy nếu bệnh nhân thở yếu.

Naloxone (2mg, tiêm tĩnh mạch) cùng với 100mg vitamin B1 tiêm bắp. Naloxone làm mất tác dụng của opiat nếu có và thiamine điều trị bệnh lý não Wernick’s.

Nếu hạ đường máu thì cần tiêm tĩnh mạch glucose ưu trương (25 – 50gam)

Đặt sonde dạ dày, rửa dạ dày và cho uống than hoạt nếu bệnh nhân đồng thời uống các chất độc khác và để theo dõi xuất huyết dạ dày.

Cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bệnh nhân.

Nếu có hạ thân nhiệt thỡ sưởi ấm, truyền dịch, thức ăn ấm.

Tiếp tục điều trị hỗ trợ và theo dõi đến khi tỉnh trở lại.

Bên cạnh đó, có các bài thuốc dân gian có thể áp dụng trong các trường hợp ngộ độc rượu mức độ nhẹ (say rượu), một trong số đó là dùng thực phẩm:

Lòng trắng trứng gà: Lòng trắng giàu protein khiến chất cồn bị kết tủa lại, từ đó giảm bớt hấp thu vào máu, mặt khác còn tránh hiện tượng bỏng niêm mạc dạ dày do rượu.

Giấm: Giấm ăn 60g, đường đỏ 15g, gừng 3 lát, giã nát. Hòa lẫn cả 3 thứ với nhau rồi cho bệnh nhân uống.

Rau cải trắng: Lấy một vài búp rau cải trắng rửa sạch, thái sợi, rồi bóp với đường và giấm để ăn. Có thể dùng món này khi đang uống rượu để giảm bớt tác hại của chất cồn.

Củ cải trắng: Giã nát một ít củ cải trắng, sau đó vắt lấy nước cốt, thêm chút đường đỏ rồi cho người say uống làm nhiều lần.

Rau cần: Rau cần một nắm rửa sạch, giã nát rồi vắt lấy nước cốt cho người say uống từ từ.

Nước cơm: Sau khi uống rượu, nếu uống một bát nước cơm sẽ không bị say nữa, vì cồn gặp nước cơm sẽ tạo nên hiện tượng kết tủa, từ đó làm giảm lượng cồn hấp thu vào máu.

Củ sắn dây: 25-50g nấu nước uống, hoặc pha một cốc bột sắn dây với một chút nước chanh rồi cho người say uống, một lúc sau sẽ tỉnh táo trở lại.

Mía đỏ: Cho người say uống một cốc nước mía đỏ có pha thêm một chút nước chanh hoặc nước quất, sau 10 phút sẽ thấy tỉnh táo trở lại.

Ngoài ra, ăn các loại quả chua như cam, quýt hoặc dâu tây… cũng giúp giải rượu rất tốt.

Và cách tốt nhất là không nên uống nhiều rượu bia!

Advertisements

Chế độ ăn cho người viêm gan

Khi gan bị bệnh gây rối loạn các vấn đề tiêu hóa, hấp thu, dự trữ và chuyển hóa các chất dinh dưỡng; đồng thời là nguyên nhân gây thiếu hụt vitamin, khoáng chất làm mất cân bằng dinh dưỡng. Chính vì vậy, cần quan tâm đến chế độ ăn của người viêm gan, giúp bệnh nhân đáp ứng tốt hơn với điều trị để phục hồi chức năng gan một cách nhanh nhất…

Gan là bộ phận có vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động cơ thể, trực tiếp liên quan đến dinh dưỡng, một trong nhiều chức năng quan trọng của gan là chức năng chuyển hóa. Gan biến đổi các chất hấp thu từ quá trình dinh dưỡng thành những chất cần thiết cho sự sống, sự phát triển của cơ thể; nhưng đồng thời cũng có tác dụng bắt giữ, biến đổi các chất độc có trong thực phẩm, nước uống…và thải trừ chúng.

1. Đối với người bệnh bị viêm gan cấp tính.

Vì người bị viêm gan cấp tính thường có các biểu hiện mệt mỏi, đau nhức cơ khớp, có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như âm ạch, đầy hơi, khó chịu, chậm tiêu, buồn nôn và nôn…các triệu chứng này kéo dài vài ngày đến vài tuần. giai đoạn này bệnh nhân nên ăn nhẹ, uống nhẹ, nên ăn làm nhiều bữa và sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu.

Cần lưu ý, các biểu hiện trên thường dễ chịu hơn vào buổi sáng, vì vậy bệnh nhân nên ăn nhiều hơn. Tránh ăn các thức ăn nhiều gia vị, dầu, mỡ. cần ăn nhiều các loại protein được nấu nhừ, bên cạnh đó cũng cần ăn các chất có xơ như cam, cà rốt, chuối, gạo lứt, đậu đỏ, các loại rau xanh..

Trong giai đoạn này bệnh nhân cũng nên uống nhiều nước, đặc biệt nước cam, nước chanh vừa tăng lượng sinh tố, vừa tăng lượng nước của cơ thể. Tuyệt đối không được sử dụng rượu bia trong giai đoạn này dưới mọi hình thức vì chúng là các chất rất có hại cho tế bào gan.

Trong trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện để có được chế độ điều trị và chăm sóc hợp lý.

2. Đối với người viêm gan mạn tính.

Thực phẩm sử dụng cần hết sức đa dạng trong 4 nhóm rau cải và trái cây, ngũ cốc, sữa và chế phẩm từ sữa, thịt cá hay trứng. thức ăn cần cung cấp đủ năng lượng cho bệnh nhân, phù hợp với trọng lượng chiều cao và hoạt động của cơ thể. Cần cung cấp đủ lượng protein cần thiết để tấn công bệnh tật, tái tạo gan và không thất thoát các chất cơ. Các thức ăn cần có nhiều vitamin A ( như gan gà, gan lợn..) và vitamin C ( cam, quýt, rau sống…)

Rau cải và trái cây: cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất, mỗi ngày nên ăn ít nhất một loại rau có màu xanh đậm và một loại rau có màu cam ( cà rốt, cà chua, bí đỏ…)

Sữa: mỗi ngày bệnh nhân nên dùng khoảng 500ml sữa để có đủ vitamin D, có thể sử dụng chế phẩm của sữa như sữa chua, phô mai.

Thịt: mỗi ngày dùng 75g thịt hay cá, trứng. nên ăn cá béo giàu omega – 3; thịt cung cấp các chất như protid, lipid, và các chất khoáng như sắt, kẽm, magie.. nên dùng thịt tươi, không nên dùng thịt hộp, thịt nguội.

Nên dùng dầu thực vật, dầu đậu nành, dầu mè.

Tuyệt đối bỏ rượu để bảo vệ tế bào gan và giúp gan chóng bình phục, giảm thiếu tối đa các chất quá béo, quá ngọt.

Ngày nay người ta khuyến cáo với những người bị viêm gan mạn tính cần siêu âm, kiểm tra chức năng gan định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và điều trị các biến chứng.

3. Một vài trường hợp đặc biệt.

Với người bị xơ gan: bệnh nhân cần phải ăn nhiều bữa trong ngày, số lượng ít cho mỗi bữa giúp cho gan sử dụng tốt hơn nitrogen và làm giảm sự oxy hóa các chất béo, ngăn ngừa sự thiếu hụt glycogen dự trữ. Đáng chú ý, trong trường hợp xơ gan có cổ trướng, trong khẩu phần ăn của bệnh nhân cần giảm lượng muối đưa vào cơ thể và nên dùng các chất có tác dụng lợi tiểu.

Với người thừa cân và gan nhiễm mỡ: một số bệnh nhân thừa cân và có sự nhiễm mỡ gan cần phải giảm ăn để giảm bớt sự thoái hóa mỡ gan. Đặc biệt chứng thoái hóa mỡ gan hay xảy ra ở bệnh nhân viêm gan virus nói chúng và viêm gan siêu vi C nói riêng. Nhiễm mỡ gan đi đôi với béo phì dễ dẫn đến xơ hóa và một số bệnh lý khác. Bệnh nhân cần giảm cân từ từ bằng cách áp dụng chế độ ăn hợp lý và hoạt động cơ thể. Không nên giảm cân nhanh vì nó sẽ làm tổn thương gan, tăng áp lực tĩnh mạch của và gia tăng sự xơ hóa.

Và cuối cùng, một điều hết sức quan trọng, không nên tự ý sử dụng các loại thuốc trong điều trị nhất là các thuốc ảnh hưởng đến chức năng gan như thuốc hạ sốt giảm đau, vitamin A liều cao…việc dùng thuốc nam cũng cần được cân nhắc vì hầu hết thuốc nam có thể biết được tác dụng chính nhưng tác dụng không mong muốn thì chúng ta chưa biết hết nên nhiều khi mang đến sự phiền toái cho người bị viêm gan.

Tóm lại, gan như một nhà máy sinh học, mọi loại thức ăn nước uống dưới hình thức nào cũng phải qua gan. Khi gan bị tổn thương thì mọi hoạt động trở lên rối loạn. Chính vì vậy, khi gan bị bệnh cần ăn uống những gì có lợi cho gan mà không ảnh hưởng đến chức năng gan là điều quan trọng nhất mà người bị viêm gan nên biết.

Bệnh tê phù

Bệnh tê phù còn có tên bệnh Beriberi. Chỉ một bệnh cảnh lâm sàng: mệt mỏi các cơ bắp, các chi có cảm giác tê tê, bì bì phản xạ gân xương giảm hoặc mất kèm theo phù nề mặt trước xương chầy. Cũng có khi biểu hiện suy tim, đau bụng cấp, hôn mê..

Bệnh có thể xảy ra lẻ tẻ một vài người nhưng cũng có thể thành vụ dịch lớn. Bệnh có thể qua khỏi nhanh khi được dùng Vitamin B1 ngay với liều cao, nhưng cũng có thể tử vong mà không cứu chữa kịp. Bệnh khá phổ biến trong quân đội.

Điều kiện sinh bệnh:

– Gặp ở những nước có tập quán ăn gạo (gạo giã kỹ quá, gạo máy, gạo mốc, gạo hẩm, gạo vo kỹ quá).

+ Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…

+ Châu Phi: Togô, Cameroun…

+ Châu Mỹ: Brasil, Cu Ba…

– Chế độ ăn thiếu rau tươi hoặc dùng nhiều loại rau chứa ít Vit.B1.

– Khí hậu quá nóng, quá lạnh thay đổi đột ngột. Ở Việt Nam bệnh tê phù thường xảy ra vào mùa hè (Đ.V.Chung 1977) vì:

+ Nóng cơ thể dùng nhiều Vit.B1 hơn

+ Làm việc mau mệt ra mồ hôi nhiều mất Vit.B1 (50%)

+ Cơ chế mất Vit.B1 sinh đi lỏng, đi lỏng lại làm mất Vit.B1.

– Trạng thái cơ thể.

+ Người lao động nặng trong môi trường nóng ra mồ hôi nhiều mất Vit.B1.

+ Nữ thời kỳ thai nghén, nuôi con bú, khi sinh quá kiêng khem.

+ Mắc các bệnh đường ruột, viêm, ỉa lỏng, giun sán.

+ Sốt kéo dài.

+ Do thiếu Protit, Lipit và các vitamin khác B12, B6, PP…

Cơ chế sinh bệnh:

– Một vài nét về Vitamin B1:

+ Tìm ra năm 1920. Lấy ra từ men bia rượu: 1932. Tổng hợp được: 1936.

+ Công thức hoá học: C12 – H16 – N4, OS.

+ Tên khác: Aneurin, Thiamin, Vitamin antinvritique

– Đặc tính: Tan trong nước. Giữ lâu trong môi trường toan, chóng mất trong môi trường trung tính. Chịu nóng kém, khi đun mất 35 -70%.

– Vai trò sinh lý: Trong chuyển hoá đường có 2 giai đoạn:

+ Từ đường đến axit Pyruvic: cần vitamin B1.

+ Sinh tố B1 là Cocacboxylaza phối hợp với một số enzym khác Apoferment trở thành Carboxylaza sử dụng trong chuyển hoá axit Pyruvic. Vì vậy Vit.B1 có vai trò duy nhất duy trì thăng bằng chất đạm trong cơ thể và chuyển hoá các chất thịt, mỡ.

+ Nhu cầu Vit.B1 cho người nặng 50-80kg/24h

* Trung bình: 1,5 – 2mg

* Công việc nặng, vừa: 2mg.

* Công việc nặng: 2,5mg

* Công việc rất nặng: 3mg

* Phụ nữ có thai: 2,3 -3mg

– Chuyển hoá Vit.B1 trong cơ thể: sinh tố B1 theo thức ăn vào dạ dày tới ĐT hấp thu vào máu. Đến gan Vit.B1 được phospho hoá (Phosphorlation) thành Cocarboxylaza, chất này hợp với Apofement thành Carboxylaza. Vit.B1 tích luỹ trong gan đến một mức độ nào đó tuỳ theo nhu cầu cơ thể phân phối đến các tổ chức: tim, não, gan, cơ bắp.

+ Đào thải theo nước tiểu: 20%

+ Theo phân: l0%

+ Theo mồ hôi: 50%

– Cơ chế bệnh sinh: Do thiếu Vit.B1 dưới 0,4mg/1kg/24giờ làm chuyển hoá mỡ, đạm rối loạn gây tê phù, phù nề gây hoại tử tổ chức gây chứng tê tê bì bì.

– Vit.B1 bị vô hiệu hoá do cơ thể nhiễm các chất kháng Vit.B1

+ Pyrithiamin: chất này chiếm apofermemt làm Vit.B1 không thành Carboxylaza.

+ Thiminaza: là một men tiêu hoá phá huỷ Vit.B1 chất này có trong cá, sò sống và một số cây, nếu nấu chín chất này mất đi.

– Tương quan với PP: Vit.B1 không thiếu nhưng PP thiếu mắc bệnh Bellagere điều trị khỏi bệnh Bellagere, bệnh tê phù lại xuất hiện vì axit pyruvic sinh ra nhiều không thành CO2 + H2O hết được.

Vit.B1 ăn vào đủ nhưng bệnh đường ruột không hấp thu được Vit.B1 do ỉa chảy, sốt cao mất Vit.B1 gây ra chứng tê phù…

Cơ thể bệnh:

– Phù: Do thiếu Protit kèm theo trong tế bào thần kinh cơ và tổ chức đệm, rõ nhất là thần kinh ngoại vi, cơ vân.

– Thoái hoá xuất hiện sau phù:

+ Thần kinh ngoại vi trước hết là vỏ Myelin bị thoái hoá sau đó là trục dây thần kinh (Cylindraxe) teo lại đứt từng đoạn.

+ Ở tuỷ: sừng trước tuỷ cũng như vỏ xám hành tuỷ và não cầu cũng có hiện tượng phù thoái hóa.

I. TRIỆU CHỨNG HỌC

A. GIAI ĐOẠN KHỞI PHÁT: (Các triệu chứng không đặc hiệu)

1. Cơ năng:

– Toàn thân mệt nhọc yếu đi không rõ lý do

– Các cảm giác nối tiếp nhau xuất hiện

+ Đánh trống ngực, đau ngực tức thở.

+ Đau các khớp xương không kèm theo sưng nóng đỏ

+ Đứng lâu nặng chân, cảm giác kiến bò, chuột rút 2 chân.

– Rối loạn tiêu hoá: Đau bụng khó tiêu, táo bón, lỏng phân chán mỡ, thích ăn ngọt. Các triệu chứng này dễ bỏ qua hoặc nghĩ do tiêu hoá, thần kinh.

2. Thực thể:

– Lưỡi to bự khó nói.

– Thân nhiệt: 3705 – 3805 C cảm giác nóng bừng bừng.

– Bắp chân to bè 2 bên, da dày bì bì, phản xạ gân xương giảm.

B. GIAI ĐOẠN TOÀN PHÁT: (Có 5 thể lâm sàng)

1. Thể mạn tính: (tê phù khô)

– Dấu hiệu mở đầu: (2 chân)

+ Cảm giác nặng chân, bàn chân to bè đi khó, mau mỏi, tê ở đầu chi, cảm giác kiến bò, chuột rút thường xuyên.

+ Làm nghiệp pháp: ngồi xổm một lúc, bảo BN đứng nhanh lên, không làm được, phải chống 2 tay vào gối đứng từ từ lên như người già.

– Giai đoạn toàn phát (do không được điều trị).

+ Rối loạn vận động: liệt nhẹ 2 chân, đi lết (fauchev) đi bước một nhấc cao chân (Streppage) đi có nạng đỡ.

+ Rối loạn cảm giác: mỏi tay, yếu tay (nhổ râu mau mỏi) cảm giác tê tê bì bì: từ đầu ngón tay, tới đùi, tới rốn, tới miệng. Bóp vào gân Achille gan bàn chân đau.

+ Rối loạn dinh dưỡng: teo cơ chân, teo phía trước ngoài cẳng chân, bàn tay (mô cái, mô út) dẫn tới co rút chân (Piedbot) bàn tay rút thành vuốt.

+ Rối loạn thần kinh sọ não:

. Dây II: sợ ánh sáng, mờ mắt, gây lác mắt.

. Dây VIII: gây điếc, rối loạn nghe, ảo thính.

. Dây X: giọng khàn, giọng đôi, phát âm khó.

2. Thể bán cấp: (tim mạch) thường thiếu các vitamin khác nữa.

+ Lâm sàng

– Cơ năng: đánh trống ngực, tức ngực khi gắng sức. Có khi đau vùng thượng vị, nuốt vướng.

– Thực thể

. Nghe tim: nhịp 130 – 140 nhịp /1 phút, T2 vang, mỏm tim: tiếng tim mờ, TTT ở ổ van ĐMP. TTTr ở ổ van ĐMC.

. Mạch: sờ thấy động mạch nẩy, HA tối đa tăng, tối thiểu giảm (như IA)

. Huyết áp tĩnh mạch tăng: 16 – 25cm H2O

. Các dấu hiệu khác: gan to, tức phản hồi gan T/m cổ (+)

. Phù: ấn phía trước trong xương chày lõm: Có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, màng tim. Phù mặt (giống phù thận)

+ Cận lâm sàng.

– X quang: tim có kích thước bình thường hoặc to toàn bộ. Hoặc tim phải to, ĐMP giãn. Khi soi thấy: tim và các ĐM đập mạnh:

– ĐTĐ: bình thường, hoặc sóng T dẹt, PR ngắn. Sóng P cao 2 đỉnh. QRS trục phải. QT dài, ST chênh lên hoặc xuống dưới, có nghẽn nhánh.

3. Thể cấp: Sôsin (Shoshin): Triệu chứng khá đột ngột. Sau sốt nhẹ BN không đứng được nữa, mềm nhũn.

– Bắt đầu vật vã kêu la, giọng khàn, lờ đờ, đồng tử giãn.

– Khó thở nhanh nông, nằm li bì không dậy được.

– Tiếng tim mờ, mạch nhanh nhỏ HA tối đa giảm, tối thiểu tăng.

– X – quang: tim to toàn bộ, rốn phổi đậm.

– Toàn trạng: nhanh chóng dẫn tới trụy tim mạch, tử vong trong vòng 48h. Nếu phát hiện đúng dùng Vit.B1 liều cao có thể cứu sống BN.

4. Thể thần kinh đặc biệt:

a. Thể não: (Encephalopathie Carenielle Gayet – Wernicke)

– Có triệu chứng thần kinh vỏ não: rối loạn tâm thần (mê sảng âu sầu) cơn động kinh, bán hôn mê.

– Có khi viêm não xuất huyết: lờ đờ yếu đuối, cứng cơ khi gấp chi, liệt mặt nhẹ. Điều trị bằng Vit.B1 có kết quả tốt.

b. Thể mặt: liệt thần kinh mặt, viêm dây thần kinh mắt (nevriteretrobulbaire) bệnh nhân bị mù dần.

c. Thể thần kinh sọ não: đặc biệt dây thần kinh X: làm rối loạn nhịp và nhịp tim rất nhanh.

Ba thể kể trên chẩn đoán dễ bỏ qua, chỉ khi bệnh toàn phát mới chẩn đoán được là do thiếu Vit.B1.

5. Thể theo tuổi và giới:

a. Trẻ sơ sinh: trẻ bỏ bú đột ngột, nôn, mê mệt, thỉnh thoảng có tiếng rên rất đặc biệt, đó cũng là dấu hiệu chẩn đoán bệnh có khi có dấu hiệu màng não, co cứng hoặc cơn co giật. Chẩn đoán được nhờ khám mẹ phát hiện mẹ bị bệnh tê phù.

b. Tê phù sau sinh: Sau đẻ do ăn uống quá kiêng khem: chán ăn, đầy bụng, nôn, tê bì táo bón.

c. Thể người già: Ít gặp nhưng thường nghĩ đến khi BN già kêu:

– Bồn chồn, nóng ruột.

– Nôn oẹ đầy bụng chán ăn.

– Táo bón hoặc ỉa lỏng thường xuyên.

Cho dùng Vit.B1 bệnh nhân thấy hết triệu chứng

II. CHẨN ĐOÁN:

A. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH:

1. Trường hợp điển hình: người bệnh có đủ tam chứng (triade Symptomatique) cổ điển:

– Triệu chứng huyết quản: tim to, suy tim, mạch nhanh.

– Triệu chứng thần kinh: tê bì, bắp cơ teo nhỏ (bắt tay không chặt)

– Phù: nặng chân, da dầy, bụng chân cứng, to bè ra.

2. Trường hợp không điển hình: khó chẩn đoán phải dựa thêm vào:

– Nhiều người trong đơn vị bị bệnh giống nhau (ăn cùng chế độ).

– Thực phẩm kém chất lượng ít Vit.B1 (gạo ẩm mốc), ít rau tươi

– Dựa vào kết quả xét nghiệm: Định lượng Vit.B1 và a-xít pyruvic:

. Vit.B1 trong máu bình thường: 3-14 microgram%, tê phù giảm nhiều.

. Axit Pyruvic máu bình thường: lmg%, tê phù Pyruvic tăng cao.

. Axit Py ruvic niệu bình thường: 0,2-l,7mg%, tê phù tăng cao.

– Điều trị thử bằng Vit.B1 liều cao và cải thiện chế độ ăn uống, theo dõi thấy tốt lên (Traitement depaeuve) nghĩ tới tê phù.

B. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT: Chỉ đặt ra ở giai đoạn toàn phát

1. Bại liệt do vi rút (Polvomvolite):

Mới đầu khó phân biệt sau căn cứ vào đặc điểm của bệnh Beriberi:

– Liệt nhẹ cả hai chân đối xứng.

– Có nhiều rối loạn cảm giác chủ quan, khách quan.

2. Bệnh Tabet:

Đặc điểm của bệnh này:

– Dấu hiệu Romberg (+), mất điều chỉnh phương hướng

– Dấu hiệu Argyll-robertson (+): phản xạ đồng tử mất ánh sáng, còn với nhìn gần, nhìn xa.

– Rối loạn cảm giác xấu rõ rệt (nóng, lạnh, nhận biết đồ vật)

– Dáng đi nện gót chân

3. Viêm dây thần kinh do:

– Nhiễm trùng: Bạch hầu, ngộ độc thịt:

+ Liệt và mất cảm giác không hoàn toàn.

+ Cả hai bên đối xứng ở đầu chi, chi dưới rõ hơn chi trên.

+ Teo cơ nhanh không rối loạn cơ tròn.

– Nhiễm độc rượu, chì.

+ Thường viêm thần kinh chi trên, liệt thần kinh quay (Paralysie radial)

+ Rối loạn cảm giác rất ít.

– Chuyển hóa: Đái đường

+ Viêm dây thần kinh chi dưới (TK hông to)

+ Thần kinh cơ mặt, thần kinh thị giác (Nerfoptique) cơ chế do xơ động mạch nhỏ (microngiopathie) nuôi dưỡng thần kinh kém.

– Kali máu giảm:

+ Liệt chu kỳ (Paralysieeperiodique) liệt mềm xảy ra ở chi dưới lan lên chi trên thân và cổ, không có rối loạn cảm giác sau vài phút, vài giờ hồi phục hoàn toàn.

– Kali máu tăng: có cảm giác kiến bò, bỏng đầu chi dưới liệt mềm lan từ cơ đầu chi lên thân, có mất phản xạ gân xương, chết vì suy hô hấp.

III. ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG BỆNH:

A. ĐIỀU TRỊ:

1. Thể cấp:

– Nghỉ ngơi tuyệt đối hạn chế đi lại.

– Chế độ ăn giảm gluxite, tăng đạm, sinh tố các loại.

– Thuốc: Tiêm Vit.B1 liều cao: l00mg cách 3-4h/24h, sau đó cách 6-8h/24h.

Các thuốc giàu đạm: Huyết tương khô

Sinh tố các loại: Vit.B12, Vit.B6, PP…

2. Thể mạn tính:

– Như thể cấp trên.

– Thêm: Stricnin 1mg x 3 ống tiêm bắp tăng dần mỗi ngày lên 1 ống cho tới khi đạt được l0mg/24h thì hạ xuống dần mỗi ngày 1 ống cho tới khi đạt 3mg/24h thì ngừng liệu trình.

– Kết hợp tắm nước nóng, xoa bóp tập nhẹ.

Với thể cấp hồi phục nhanh hơn thể mạn. Nếu sau điều trị bệnh nhân đái nhiều giảm phù, tim nhỏ lại, mạch về bình thường là tiên lượng tốt. Thể cấp 3-7 ngày. Thể mạn 3 tuần tới 1 tháng.

B. PHÒNG BỆNH:

1. Thực phẩm đủ sinh tố: Hạn chế gạo máy, nếu ăn gạo cũ thiếu Vit.B1 ăn thêm 1 bát cám (1 bữa: 1 đại đội ăn thêm 2 kg cám nõn), cần ăn rau xanh, quả tươi cần đủ khẩu phần đạm mỡ.

2. Bảo quản giữ gìn thực phẩm tốt. Chế biến hạn chế mất Vit.B1.

3. Cần cung cấp Vit.B1 khi: Sốt cao, cảm cúm, sau đẻ. Người có bệnh đường ruột, ỉa lỏng nhiều, lao động, tập luyện ở nơi nóng mất nhiều mồ hôi.

( Nguồn: bài giảng nội khoa sau đại học )


Vitamin A – Xin chớ lạm dụng!

Vitamin A là dạng vitamin tan trong dầu, có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể giúp tế bào thực hiện hoạt động sao chép bình thường, cần thiết cho sức khỏe thị giác, giúp cho các tế bào trong một loạt cấu trúc của mắt luôn khỏe mạnh…

Ngoài ra, nó còn rất quan trọng đối với sự biến đổi ánh sáng thành các tín hiệu thần kinh trong võng mạc, cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của phôi thai và thai nhi, cần thiết cho chức năng sinh sản, vì nó gây ảnh hưởng lên chức năng và sự phát triển của tinh trùng, buồng trứng và nhau thai…

Vitamin A có rất nhiều trong gan, cá thịt sữa, trứng… trong các loài thực vật như gấc, cà rốt, cà chua, rau xanh..Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nếu như sử dụng không đúng cách, chúng ta sẽ gặp phải những tác dụng bất lợi của vitamin A mà điển hình là tình trạng viêm gan cấp hoặc mạn. Trong phạm vi bài viết này, xin được đề cập đến nhưng mặt tích cực cũng như những tác dụng không mong muốn của vitamin A.

Vitamin A benefit

1. Vậy vitamin A có những tác dụng gì?

Trên mắt: vitamin A có vai trò tạo sắc tố võng mạc giúp mắt điều tiết, có thể nhìn được trong điều kiện thiếu ánh sáng. Sở dĩ có khả năng này là do trong bóng tối Vitamin A (cis – retinal) kết hợp với opsin tạo nên sắc tố võng mạc là rhodopsin – đây là sắc tố nhạy cảm với ánh sáng có cường độ thấp giúp mắt nhìn được trong điều kiện thiếu ánh sáng. Khi ra ánh sáng lại xảy ra quá trình ngược lại. do đó nếu cơ thể thiếu vitamin A, khả năng nhìn trong tối giảm gây ra bệnh quáng gà, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây mù lòa.

Trên da và niêm mạc: Vitamin A rất cần thiết cho quá trình biệt hóa các tế bào ở da và niêm mạc, có vai trò bảo vệ sự toàn vẹn của cơ cấu và chức năng của biểu mô khắp cơ thể,nhất là biểu mô trụ của mô mắt.Vitamin A làm tăng tiết chất nhầy và ức chế sừng hóa. Vì vậy nếu thiếu vitamin A, quá trình bài tiết chất nhày bị giảm hoặc mất, biểu mô sẽ bị teo và thay vào đó là các lớp keratin dày lên làm da trở lên khô, nứt nẻ và sần sùi.

Trên xương: cùng với vitamin d, vitamin A có vai trò cho sự phát triển xương, tham gia vào sự phát triển của cơ thể, đặc biệt ở trẻ em, do đó nếu thiếu vitamin A trẻ em sẽ còi xương chậm lớn.

Trên hệ miễn dịch: giúp phát triển lách và tuyến ức – hai cơ quan quan trọng tạo ra các lympho bào. Gần đây có nhiều công trình chứng minh tác dụng của vitamin A và tiền chất của nó là caroten có tác dụng chống oxy hóa và tăng sức đề kháng của cơ thể. Khi thiếu vitamin A cơ thể dễ nhiễm khuẩn và dễ nhạy cảm với tác nhân gây ung thư.

Ngoài ra khi thiếu vitamin A còn có thể gây tổn thương đường hô hấp, tiết niệu, sinh dục và thiếu máu nhược sắc.

2. Ai dễ bị thiếu vitamin A?

Những người kiêng ăn gan, các sản phẩm sữa và các loại rau chứa beta caroten – tiền tố vitamin A và sẽ chuyển thành vi tố này trong cơ thể.

Trẻ sơ sinh quá nhẹ cân.

Người bị suy tuyến giáp gây giảm hoạt động chuyển hóa beta caroten thành vitamin A.

Người già bị tiểu đường type 2.

Các dấu hiệu thiếu vitamin A sớm nhất là thị lực ban đêm yếu, ngoài ra có thể đi kèm khô da, dễ bị nhiễm trùng

3. Cần bổ sung như thế nào?

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh, phòng ngừa thiếu vitamin A dùng 5000 – 10.000 UI/ngày. Phần lớn thì mức hấp thu dưới 25.000 IU (tương đương 7.500 mcg) vitamin A mỗi ngày là an toàn. Tuy nhiên, người trên 65 tuổi hoặc mắc bệnh gan thì không vượt quá 15.000 IU/ngày, trừ phi có chỉ định của bác sĩ. Đối với phụ nữ mang thai, mức hấp thu tối ưu vẫn đang được đánh giá lại, song dưới 10.000 IU (3.000 mcg) mỗi ngày là an toàn.

A diagram showing how vitamin A is used by the eye

4. Những tác dụng không mong muốn

Ngộ độc cấp: khi dùng liều rất cao, người lớn > 1.500.000 UI/ ngày, trẻ em > 300.000 UI/ngày, thường xuất hiện sau khi uống thuốc 4 – 6h, biểu hiện hoa mắt chóng mặt, buồn nôn, nôn, kích thích, tiêu chảy, co giật, mê sảng.

Ngộ độc mạn: khi dùng liều trên 100.000 UI/ ngày trong 10 – 15 ngày, biểu hiện mệt mỏi, kích thích, rối loạn tiêu hóa, gan to, lách to, da đổi màu, nứt nẻ, rụng tóc chảy máu, tăng calci, phù nề, trẻ em có thể tăng áp lực nội sọ, ù tai ngừng phát triển xương dài…phụ nữ có thai dùng kéo dài sẽ gây quái thai.

Đáng lưu tâm nhất là khả năng gây ngộ độc cho gan. Uống vitamin A quá nhiều là nguyên nhân gây ngộ độc gan phụ thuộc vào liều lượng có thể đưa đến xơ gan. Uống thường xuyên liều lớn vitamin A (>25.000 đơn vị /ngày) có thể gây ngộ độc mãn tính và tổn thương gan.

Tổn thương gan có thể xảy ra khi uống 15.000 – 40.000 đơn vị /ngày trong một năm , nhưng liều cao hơn có thể ngộ độc trong vòng vài tháng. Tổn thương gan nhiều hay ít tùy thuộc liều lượng và thời gian sử dụng. Nhiều bệnh nhân có bệnh gan do vitamin A gây ra có khi không nhận thấy , chỉ khi bác sĩ lâm sàng thấy có hiện tượng bệnh nhân dùng vitamin A kéo dài kèm viêm gan mỡ, tăng áp lực tĩnh mạch cửa thì mới phát hiện ra. Người nghiện rượu nguy cơ càng cao.

Tóm lại, dù vitamin A có vai trò rất quan trọng đối với co thể, song chúng ta cũng không nên lạm dụng nó, tốt nhất trước khi sử dụng hãy tham khảo ý kiến bác sỹ.

Sinh lý dinh dưỡng

Nhấn vào đây để tải về
Tác giả: Cao Hoang Minh
Dung lượng: 2.4 MB

Nấm độc

Nấm độc Amanita

Ai cũng biết nấm là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein, axít amin, vitamin, muối khoáng và các chất kháng sinh… thêm vào đó nấm thường có mùi vị lạ, thơm, béo đặc trưng, khác với những loại thực phẩm khác tạo ra sự hấp dẫn thu hút khẩu vị của nhiều người.

Tuy nhiên không phải nấm nào cũng ngon và bổ, trong số loại thực phẩm rất đa dạng này có nhiều loại nấm độc. Trên thế giới có khoảng 5.000 loại nấm thì chỉ có 300 loại được dùng làm thực phẩm, còn hơn 100 loại là nấm độc.

Những nấm độc thường là nấm họ Amanita và Entoloma. Nấm chứa độc tố muscarin cholin gây rối loạn tiêu hóa và trụy tim mạch; chất myceto atropin gây rối loạn thần kinh. Những người ăn phải loại nấm độc chỉ chứa muscarin thì các biểu hiện bị ngộ độc nhẹ hơn, thường chỉ là các rối loạn tiêu hóa, tăng tiết nước bọt, ra mồ hôi nhiều… sau đó bệnh nhân bình phục.

Nhưng đối với loại nấm có chứa độc tố phalin, khi ăn vào độc tố gây tử vong trong hầu hết các trường hợp. Độc tố phalin gồm 3 yếu tố: yếu tố gây tan huyết, bị phân hủy ở nhiệt độ 60oC; yếu tố gây triệu chứng thần kinh bền vững ở nhiệt độ 100oC; chất thứ 3 giống cholin, gây rối loạn tiêu hóa.

Triệu chứng ngộ độc phalin xuất hiện chậm (8-10 giờ sau ăn nấm), do đó rất nguy hiểm, vì khi có các biểu hiện lâm sàng thì các chất độc đã xâm nhập vào máu.

Triệu chứng ngộ độc vì thế trong các trường hợp biểu hiện ở các mức độ khác nhau: từ nhẹ như chỉ nôn mửa, tiêu chảy có thể lẫn máu đến đau bụng dữ dội, mồ hôi vã ra, bí đái; bệnh nhân sợ hãi, im lặng, nhưng tỉnh táo cho đến lúc chết (tử vong thường xảy ra sau 4-5 ngày kể từ lúc ăn nấm).

Làm thế nào để phân biệt nấm độc?

Có 3 phương pháp để phân biệt nấm độc: Phương pháp hóa học, phương pháp thử nghiệm trên động vật và phương pháp nhận biết hình thái. Phương pháp hóa học thường phức tạp vì đòi hỏi máy móc và hóa chất để làm xét nghiệm. Phương pháp thử nghiệm trên động vật không phải ở đâu và vào bất kỳ lúc nào cũng làm được. Phương pháp đơn giản và được ứng dụng nhiều nhất trong thực tế là nhận biết hình thái, so sánh nấm độc và nấm không độc.

Thông thường cây nấm có 3 bộ phận: Mũ, thân và chân nấm. Các loại nấm khác nhau thì hình thái, kết cấu 3 bộ phận đó cũng khác nhau. Màu sắc, mùi vị của nấm cũng rất đa dạng. Nấm độc thường có màu sắc sặc sỡ, mùi vị thối, đắng…

Đối với họ nấm Amanita:
Chúng thường có nhiều màu, từ trắng, đến vàng, nâu, xanh, lục… Đặc tính cơ bản nhất để phân biệt Amanita với các loài khác là nấm Amanita có đài (bao) ở chân nấm; còn nấm Entoloma có bào tử màu hồng.

Loại nấm Entoloma Lividum rất giống nấm rơm, chỉ khác là chân cuống không có đài nấm. Nấm Entoloma Lividum thường mọc trên bãi đất trong rừng, trên đất sét, hai ba cây một chỗ.

Mũ nấm chất thịt, hình lồi rồi phẳng, đường kính 8-20cm; bờ cuốn vào trong, màu nâu nhạt hoặc xám; giữa có núm dày và rắn; có phấn, phiến nấm rời, màu xám vàng, bao tử màu hồng xám; cuống mập và to, lúc đầu đặc đặc, sau xốp, hình ống tròn hoặc có vảy ở chân cuống, mặt có dọc trắng, vảy vàng, thịt trắng.

Khi đi hái nấm hoặc khi chế biến nấm cần lấy mẩu giấy trắng hứng bào tử nấm từ mũ nấm rơi xuống để giúp chúng ta có thể phân biệt với nấm độc.


một loại nấm độc

Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.


Nấm Hebenoma Crustulinifrme – Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.


Nấm lục – loại nấm độc nhất thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đặc biệt khi có mưa phùn.

Cần phải biết rằng nấm là môi trường dinh dưỡng lý tưởng cho nhiều loại vi sinh vật. Bởi vậy, đối với những loại nấm không độc, nhưng hái về để lâu mới ăn, hay nấm đã hỏng, bị nhiễm bẩn mới sử dụng cũng dễ gây ngộ độc.

Trong khi đó có một số loài nấm có chứa chất độc, nhưng chất độc đó không tan trong dịch vị dạ dày, nên cũng không gây ngộ độc. Tuy nhiên, những chất độc này lại tan trong rượu, nên nếu khi ăn nấm mà lại uống rượu thì cũng dễ bị ngộ độc.

Các phương pháp cấp cứu ngộ độc nấm

Khi bị ngộ độc nấm, nếu người bị nạn nôn mửa nhiều thì không cần rửa ruột nữa. Nếu nạn nhân chưa nôn thì phải gây nôn ra hết, rửa dạ dày bằng dung dịch tanin hoặc thuốc tím loãng, thụt tháo phân, chườm bụng, cho uống dung dịch oresol và uống than hoạt tính để giải độc (mỗi giờ uống một thìa cà phê dung dịch than hoạt tính kèm theo ít nước). Nếu có điều kiện thì tiêm thuốc trợ tim mạch. Sau khi cấp cứu, chuyển ngay nạn nhân lên tuyến trên để tiếp tục cứu chữa.

Lưu ý: Khi ngộ độc nấm tuyệt đối không được cho nạn nhân uống các loại thuốc có rượu, vì độc tố của nấm dễ tan trong rượu và ngấm rất nhanh vào máu, làm tăng thêm hiệu lực của nấm độc.

Phòng ngộ độc nấm

Nấm độc rất nguy hiểm, chúng chứa các độc tố làm tiêu hủy hồng cầu, bạch cầu, tế bào thần kinh, tế bào gan… Chỉ cần vài nấm độc lẫn trong món ăn cũng có thể gây ngộ độc, thậm chí làm chết người. Vì vậy khi khai thác, sử dụng nấm mọc tự nhiên, cần thực hiện các nguyên tắc sau:

Biết chắc chắn đây là loại nấm ăn được mới ăn. Không biết thì tuyệt nhiên không nên ăn.

Kiểm tra, xác minh nấm thật kỹ trước khi nấu, phải kiên quyết loại bỏ nấm lạ.

Khi không phải tự tay mình hái nấm hoặc chưa có người phân loại thành thạo nấm độc kiểm tra, tuyệt đối không được ăn nấm. Ở các vùng miền núi, nên hỏi rõ những người có kinh nghiệm như già làng, trưởng bản về nhận biết nấm.

Cho chó, mèo, gà ăn thử nấm nếu thấy nghi ngờ. Nếu chúng chết thì tuyệt đối không ăn.

Không nên hái nấm quá non, khi chưa xòe mũ nấm (đối với nấm tán) vì chưa thấy hết đặc điểm cấu tạo của chúng nên xác định được rõ loài.

Khi bị ngộ độc nấm, cần gây nôn ngay bằng cách như ngoáy họng, cho uống mùn thớt, uống nước giá đậu xanh rồi chuyển ngay đến trung tâm y tế gần nhất.

Theo website bộ y tế

Có nên dùng vitamin E hằng ngày?

Từ nhiều thế kỷ nay, vitamin E vẫn được coi là loại thuốc hữu hiệu nhất chống lại quá trình lão hóa và rất có ích cho cơ thể, từ việc chống lại những vết nhăn tới bệnh ung thư và mất trí nhớ

Vitamin E có tác dụng giúp cho tế bào phát triển bình thường, chống lão hóa, bảo vệ mô khỏi quá trình ôxy hóa, giúp tạo hồng cầu, giúp phổi và các cơ quan khác không bị ô nhiễm, ngăn ngừa sự phá hủy hồng cầu bởi các chất độc trong máu, làm chậm quá trình lão hóa ở tế bào.

Đặc biệt vitamin E thiên nhiên giúp cho da không bị khô, duy trì sự tươi mới của làn da, giúp ngăn ngừa sự xuất hiện các nếp nhăn, làm giảm bớt sự sa sút trí tuệ ở người lớn tuổi.

Nhưng nếu dùng ở liều cao, vitamin E sẽ hoạt động như chất ủng hộ ôxy hóa, gây tổn hại cho tế bào. Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng: những người thường xuyên uống vitamin E liều cao sẽ tăng 28% nguy cơ ung thư phổi. Do đó, các chuyên gia khuyên nên bổ sung chất này từ rau quả thay vì từ thuốc.

Vitamin E có chứa trong các thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Có nhiều trong dầu thực vật, các loại mầm như giá đỗ, mầm thóc. Ngoài ra, vitamin E còn có trong bánh mỳ, trứng, sữa, thịt, cá.

Hiện nay nhiều người có thói quen thường xuyên uống 1 viên vitamin E mỗi ngày kéo dài trong nhiều tháng là không nên. Trường hợp ăn uống kém thì có thể bổ sung bằng thuốc uống nhưng cũng chỉ nên uống 1 – 2 tháng sau đó dừng lại, vài tháng sau mới nên dùng tiếp, và cách bổ sung an toàn nhất là ăn các loại thực phẩm có nhiều vitamin E như: dầu thực vật, các hạt nảy mầm như giá đỗ, các loại rau quả, trứng, thịt, sữa. Ngoài ra, việc bổ sung vitamin E từ thực phẩm còn cung cấp thêm các chất chống ôxy hoá khác đó là vitamin A, vitamin C và một số vi chất dinh dưỡng khác.

Nhận biết và xử trí ngộ độc nấm

Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.

Chúng ta đều biết, nấm có hai loại là nấm lành và nấm độc. Nấm lành là nguồn thực phẩm bổ dưỡng và con người đã biết nó một cách chắc chắn như: nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm linh chi…

Nấm độc lại gây hại, thậm chí gây chết người vì trong nấm có những độc tố nguy hiểm, mà người ta thường nhầm lẫn mỗi khi đi hái nấm mang về ăn, vì hình dạng của nấm rất khó phân biệt loại nào là lành, loại nào là độc.

Nước ta cũng như nhiều nước châu Á, tuy việc sử dụng nấm không nhiều như các nước châu Âu hay châu Mỹ nhưng vì có khí hậu ẩm nên là những vùng đất có rất nhiều loại nấm mọc và phát triển, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong nhiều loại nấm có thể ăn được hàm lượng dinh dưỡng đặc biệt cao, bao gồm: chất đạm, chất béo, chất xơ và đặc biệt là hàm lượng cao các chất khoáng. Vì thế, nấm được coi là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.

Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 10.000 loại nấm đã được xác định danh tính, nhưng trong số đó có hàng trăm loại nấm độc. Cho dù các nhà khoa học đã có không ít công trình nghiên cứu về nấm nói chung và nấm độc nói riêng, nhưng có rất nhiều loại nấm hiện vẫn không biết vì sao nó gây độc cho người.

Nhiều người cho rằng các loại nấm có màu sắc sặc sỡ hoặc có mùi thơm đặc biệt thường là nấm độc, nhưng thực tế không phải hoàn toàn như vậy vì ngay trong những loại nấm có hình thức rất giản dị, không có mùi, thậm chí có những loại trông hoàn toàn “trong trắng” nhưng lại chứa các loại chất cực độc đối với cơ thể.

Ở nước ta, các vụ ngộ độc do ăn nấm thường xảy ra ở vùng núi phía Bắc (Hòa Bình, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái…).

Cứ vào thời điểm mùa xuân, khi có mưa phùn, thời tiết ẩm ướt nấm mọc nhiều cũng là lúc có bệnh nhân bị ngộ độc nấm.

Nhận biết ngộ độc nấm?

Nhóm nấm độc có triệu chứng ngộ độc xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn, thậm chí sau 30 phút đến 1 giờ có biểu hiện: Tăng tiết nước bọt, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đồng tử co (loại nấm có độc tố muscarin).

Triệu chứng ngộ độc xuất hiện chỉ sau ăn 30 phút với nôn, đỏ mắt, đau đầu, lẫn lộn, mệt, co giật (giống ngộ độc disulfiram), triệu chứng có thể kéo dài vài ngày, độc tố nấm là coprine. Độc tố nấm là psilocybin thường gây ra ảo giác, giãn đồng tử, kích thích dạ dày, ruột, đau bụng, sốt, co giật.

Các loại nấm này ít khi gây tử vong, nếu được điều trị.

Nhóm nấm độc có triệu chứng ngộ độc xuất hiện muộn (sau 6 giờ ăn) loại này rất độc và tỷ lệ tử vong cao.

Loại nấm có độc tố là amatocxin, monomethylhydrazine các triệu chứng xuất hiện muộn sau ăn từ 6-12 giờ, bao gồm: nôn, buồn nôn, đau thắt bụng từng cơn, tiêu chảy, yếu cơ, co giật, viêm gan, tan huyết… tỷ lệ tử vong cao 20-50%.

Loại nấm có độc tố là allenic norleucine (Amanita smithiana) và độc tố là orellanine (nấm cortinarius rellanus…) triệu chứng xuất hiện muộn sau một ngày tới sáu ngày sau khi ăn nấm, bao gồm: đái ít, vô niệu, suy ống thận cấp.

Xử trí thế nào?


Nấm Hebenoma Crustulinifrme
Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.

Cấp cứu ban đầu: Cho uống ngay than hoạt (hay antipois – B.Mai) 1g/kg và sorbitol 1g/kg, có thể nhắc lại sau 4 giờ. Với trẻ em, tại nhà có thể gây nôn với siro ipeca sau khi ăn vài phút, rồi đưa trẻ đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Tại cơ sở y tế:

Hồi sức chung:
Truyền dịch duy trì huyết áp bằng natri clorua 0,9%, glucose 5%. Cho uống than hoạt (nếu chưa được uống).

Nếu có co giật cho pifridoxine 20-30mg/kg TM.

Nếu có methemoglobine cho xanh methylen 1mg/kg TM chậm liều cho cả người lớn và trẻ em.

Nếu có dấu hiệu muscarin, cho atropin 0,01-0,03mg/kg TM.

Có ảo giác cho seduxen 10mgTM.

Thuốc vận mạch (dopamin, noradrenalin) dùng khi có sốc.

Điều trị nhóm nấm độc muộn:
Theo dõi bệnh nhân từ 12-24 giờ sau ăn nấm loại amatoxin và monomethylhydrazin.

Đối với bệnh nhân nghi suy thận do nấm cortinarius, theo dõi 1-2 tuần, như sau:

* Cho than hoạt đa liều: 1g/kg uống sau mỗi 4 giờ cho cả người lớn và trẻ em.
* Sorbitol 1g/kg uống sau liều than hoạt đầu tiên (tốt nhất là uống Antipois – B.Mail).
* Rửa ruột, đại tràng nếu có thể ở giai đoạn chưa suy gan, suy thận.
* Truyền dịch glucose 5%, 10% để tăng bài niệu > 2,5lít/ngày.
* Lọc máu hấp thu và lọc máu liên tục (có suy thận).
* Thay huyết tương và lọc gan khi có suy gan.
* Các thuốc điều trị hỗ trợ gan.
* Hồi sức hô hấp, tuần hoàn và thăng bằng kiềm toan…

Phòng tránh: Không ăn nấm rừng và nấm mọc tự nhiên. Khi chưa xác định được là nấm lành hay độc nên cho súc vật ăn trước.

(health.phanvien.com)

Trong thiên nhiên có nhiều loài nấm quí, nhưng cũng có không ít nấm độc, ăn nhầm phải có thể chết người. Những nấm độc nguy hiểm nhất thường là những nấm tán thuộc giống Aminita, như nấm tán độc xanh đen (Aminita phalloides), nấm tán độc trắng (Aminita verna), nấm ruồi (Aminita muscaria), nấm độc có mũ xám tím (Aminita pantherina), v.v…

Những loài nấm này thường mọc trong rừng, ven rừng, trên các bãi cỏ, gây ra trên 90% vụ ngộ độc nấm chết người.

Để phân biệt nấm ăn với nấm độc, người ta đã có nhiều nhận xét, như nấm độc có màu sặc sỡ, có mùi hắc, v.v… nhưng thực tế không hoàn toàn đúng như thế. Có những nấm màu trắng dịu, vị thơm ngon mà vẫn rất độc như loại nấm tán độc trắng (Aminita verna).

Vì vậy không thể nhìn bề ngoài để phân biệt nấm độc với nấm ăn, mà cần có kinh nghiệm và sự hiểu biết kỹ về các loài nấm, và chỉ ăn những nấm đã được xác nhận chắc chấn là ăn được.

Có nhiều loài nấm độc, chứa nhiều chất độc khác nhau gây ra những dấu hiệu nhiễm độc nặng nhẹ khác nhau. Xu hướng hiện nay người ta chia chúng làm hai nhóm chính : Nhóm nấm độc phá huỷ cấu trúc các tế bào cơ quan và nhóm gây độc lên hệ thần kinh và tiêu hoá.

Trong nhóm thứ nhất người ta phân lập được các độc tố aminitin và phaloidin có thể phá huỷ các tế bào, nhất là tế bào gan, làm gan bị huỷ hoại nhanh chóng. Nhóm này gồm một số lớn nấm độc thuộc giống Aminita mà đại diện là Aminita phalloides

Trong nhóm nấm độc sau, người ta phân lập được nhiều chất độc, chủ yếu là chất muscarin gây độc trên thần kinh. Đại diện cho nhóm nấm này là nấm ruồi Aminita muscaria.

Nhóm thứ nhất chứa chất phaloidin rất độc đối với tế bào gan. Người ăn phải nấm này thường có triệu chứng ngộ độc muộn sau 6 giờ với hội chứng tiêu hoá (viêm dạ dày – ruột cấp, nôn, đau bụng, tiêu chảy), viêm gan hoại tử (gan to đau, vàng da) và suy thận cấp. Ngộ độc loại nấm này thường rất nặng, tử vong cao.

Nhóm thứ hai chứa chất muscarin rất độc đối với thần kinh. Các triệu chứng ngộ độc loại nấm này thường xuất hiện sớm, trong vòng 1 – 2 giờ sau khi ăn. Người bệnh có hội chứng cường phó giao cảm, đồng tử co hẹp, buồn nôn và nôn, đau bụng, tiêu chảy, vã mồ hôi, chảy nước mắt, nhiều dãi, khát nước, co giật, mạch chậm, truỵ mạch…

Để đề phòng ngộ độc nấm, tốt nhất ta chỉ ăn những loại nấm đã quen biết, chắc chắn là nấm ăn được. Tuyệt đối không ăn những nấm lạ. Những người mới ở miền xuôi lên miền núi hoặc ở những nơi khác đến, khi hái nấm phải hỏi kinh nghiệm đồng bào địa phương thật cụ thể, chắc chắn, vì thực tế rất khó phân biệt nấm ăn với nấm độc.

Ngoài ra chúng ta cần chú ý một số loài nấm ăn cũng có thể trở nên độc trong những trường hợp nấm bị ôi thiu, nấu không kỹ, hoặc khi có rượu trong máu. Vì vậy chúng ta không nên ăn nấm bị giập nát, những nấm đã ôi thiu; phải cẩn thận khi thu hái và chế biến nấm, đồng thời không nên uống rượu khi ăn nấm vì rượu làm tăng thẩm thấu độc tố nấm vào máu

(moh.gov.vn)

Phân biệt nấm độc và nấm ăn

Nhiều người quen ăn nấm, nhất là nấm hoang dã, đã có kinh nghiệm, cùng với các cơ sở nghiên cứu đã đúc kết thành bài học như sau:

Không ăn nấm có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm hấp dẫn vì nấm này thường là nấm độc; không ăn các loại nấm hoang dại lúc còn non, vì lúc còn non chúng rất giống nhau (giống cúc áo), khó phân biệt; không ăn loại nấm khi cắt, vết cắt có rỉ ra chất trắng như sữa; không ăn nấm quá già, nấm có nghi ngờ, không rõ địa chỉ…

Cũng có những loại nấm độc giống nấm ăn (nấm trồng), rất khó phát hiện nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy gốc có bao và có vòng cổ.


Nấm Hebenoma Crustulinifrme – Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện muộn sau khi ăn 6 giờ.



Nấm Coprinus atrameutarius thuộc nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sớm trước 6 giờ sau khi ăn.


Nấm độc đỏ ( Amanita)


Nấm đỏ – còn gọi là nấm mặt trời, nấm diệt ruồi, có tên khoa học là Amanita muscaria Fr. Mũ nấm tròn và dẹt, màu vàng hoặc vàng da cam, trên nắp mũ có núm màu vàng, hoặc trắng, mặt dưới xòe ra như hình bánh xe, cuống nấm hơi to và thô. Nấm này chứa muscarin, một loại kiềm sinh vật, độc và các chất khác kém độc hơn.

Thời gian ủ bệnh do độc tố của nấm này là từ 1 đến 6 giờ. Triệu chứng đầu tiên là viêm dạ dày, ruột cấp, rồi nôn mửa, tiêu chảy, chảy nước dãi, đổ mồ hôi nhiều, đồng tử co lại, mất phản xạ ánh sáng. Trường hợp nặng, bệnh nhân trở nên nhợt nhạt, co quắp, tử vong khi tê liệt trung khu thần kinh hô hấp.


Nấm độc Entoloma Lividum


loại nấm độc nhất thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đặc biệt khi có mưa phùn

Nấm lục rất độc, nhưng lại có hình thức bắt mắt, màu trắng ngà, mập và có vị ngọt

Bổ sung nội tiết tố từ thiên nhiên

Đối mặt với tuổi tiền mãn kinh là nỗi lo của không ít phụ nữ, không chỉ vì những triệu chứng khó chịu mà còn là một cột mốc giã từ thời xuân sắc để đối mặt với tuổi già. Gần đây, các chuyên gia đã phát hiện trong nhiều thực phẩm có chứa nội tiết tố (NTT) có thể giúp phụ nữ vượt qua giai đoạn này nhẹ nhàng và vẫn giữ được vóc dáng vốn có.

NTT nữ (estrogen) giúp cho phụ nữ có được vóc dáng thắt đáy lưng ong, 3 vòng rõ rệt với làn da căng mịn, mái tóc dày óng mượt vào tuổi dậy thìì, nhưng khi ngưng hoạt động vào tuổi mãn kinh nó đem lại những điều…ngược lại. Khi bước vào tuổi tiền mãn kinh, lượng mỡ dưới bụng và vùng eo tăng, tóc rụng, khó ngủ, hay cáu gắt, hay lo lắng, hay hoảng hốt… Song song là sự gia tăng bệnh loãng xương, tim mạch…

Sự xuống cấp từng ngày của vóc dáng đã làm cho không ít phụ nữ luôn trong tình trạng bất ổn, thiếu tự tin, không tự kiểm soát được cảm xúc của mình. Sợ hết thời một số đã dùng liệu pháp bổ sung NTT để bù vào lượng NTT mà cơ thể không sản xuất nữa.

Tuy nhiên, liệu pháp này có thể mang lại nhiều tác dụng phụ như làm tăng nguy cơ ung thư vú. Cách tốt nhất, theo nhiều chuyên gia, là nên bổ sung NTT từ thiên nhiên.

Trong thiên nhiên có nhiều thực phẩm giúp bổ sung lượng NTT, mà đứng đầu bảng là đậu nành. Theo lương y Đinh Công Bảy – Hội Dược liệu TP.HCM, trong đậu nành có chứa isoflavon, có tác dụng như NTT bổ sung estrogen giúp làm giảm và phòng ngừa các triệu chứng rối loạn mãn kinh.

Các nhà khoa học Nhật Bản còn cho biết, dùng đậu nành sẽ ngăn ngừa được ung thư vú (nghiên cứu kéo dài 10 năm, trên 25.000 phụ nữ ở Nhật tuổi từ 40 – 69, những người dùng mỗi ngày 100g đậu nành không bị ung thư vú.

Kết quả nghiên cứu từ đại học Vanderbilt – Mỹ còn chứng minh, đậu nành có ảnh hưởng tích cực đối với các triệu chứng mãn kinh, đặc biệt làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và các dạng ung thư liên quan đến NTT.

Trước tuổi mãn kinh, phụ nữ ít bị bệnh tim mạch hơn nam giới cùng tuổi (nhờ NTT nữ loại bỏ các chất mỡ có hại trong máu, giữ tính đàn hồi, mềm mại của thành mạch). Tuy nhiên, sau mãn kinh, bệnh tim mạch ở phụ nữ tương đương với nam giới.

Để giúp khí huyết lưu thông tốt, trong Đông y có cây thuốc ích mẫu. Lương y Đinh Công Bảy khuyên: Ích mẫu có công dụng lưu thông khí huyết giúp phụ nữ có làn da đẹp. Đặc biệt, nếu ích mẫu kết hợp với hương phụ, ngải cứu còn có công dụng giảm các triệu chứng trong giai đoạn tiền mãn kinh: nhức đầu, cáu gắt, đau bụng…

Ích mẫu hiện đang được các công ty dược trong nước chế biến dưới dạng viên rất dễ uống. Một vị thuốc nữa cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch là tỏi. Tuy nhiên mùi tỏi là trở ngại lớn khiến vị thuốc này bị chê. Hiện trên thị trường đã có một số thuốc làm từ tinh chất tỏi, để lâu không có mùi.

Sau mãn kinh, phụ nữ còn phải đối mặt với lãng xương. Hậu quả lâu dài và nghiêm trọng nhất là đau nhức, tàn phế và gây tử vong cho phụ nữ cao tuổi (thiếu oestrogen xương trở nên xốp, mỏng , giòn nên rất dễ gãy, khối lượng xương mất từ 2% – 4% mỗi năm).

Do đó trong giai đoạn này phụ nữ cần ăn thực phẩm có nhiều canxi: sò, ốc, tôm, cá nhỏ, đậu nành, sữa, pho mát, trứng vịt lộn (trong trứng vịt lộn có chứa NTT thiên nhiên, canxi, còn trong rau răm có hoạt chất thực vật tương tự NTT). Bổ sung sinh tố E có thể làm giảm các triệu chứng khô da, rụng tóc…

Bác sĩ Đào Thị Yến Thủy – Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM cho biết, lượng sinh tố E cũng cần thiết trong cơ thể được đáp ứng dễ dàng nếu chế độ ăn có trọng điểm là các hạt có dầu như: mè, hướng dương, đậu phộng, dẻ, dưa, bí, rau cải, khoai lang ta, dầu thực vật, sữa, mầm ngũ cốc, lòng đỏ trứng, gan động vật… Sinh tố C giúp ngăn chặn các vết đồi mồi xuất hiện trên da, sinh tố này có trong rau màu xanh, cà chua, sơ ri…

Theo Phụ nữ

ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE: THỰC VÀ GIẢ

Ở các nước Tây phương trong thời gian vài mươi năm trở lại đây, trong chiều hướng tìm kiếm một chiến lược giảm thiểu những bệnh như ung thư, tim mạch, tiểu đường…

Ở giới chức y tế thường kêu gọi công chúng nên giảm lượng tiêu thụ chất đạm động vật, và thay vào đó là dùng những thực phẩm được chế biến từ nguồn thực vật như rau củ hay cây trái.

Một thiểu số đã thay thế hẳn chất đạm động vật bằng chất đạm thực vật trong bữa ăn, và họ thường được gọi là “những người ăn chay” (tuy nhiên cách ăn chay của họ không hoàn toàn đồng nghĩa với ăn chay của các tu sĩ Phật giáo).

Một trong những thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn chay là đậu nành hay các thức ăn được chế biến từ đậu nành. Đối với những người này, họ đến với rau cải và trái cây vì họ tin rằng đây là một nguồn thực phẩm an toàn và bổ dưỡng nhất.

Nhưng ngược lại cũng có người, trong đó có một số làm việc trong ngành y tế, chất vấn khuynh hướng này, vì theo họ chưa có bằng chứng gì cho thấy đậu nành có tác dụng tích cực đến sức khỏe con người. Nhiều khi cuộc tranh luận xảy ra trên các diễn đàn khoa học trong một không khí “nóng”, và một sự phân chia ý thức hệ rất rõ ràng: một bên ủng hộ, một bên chống. Trong một cuộc hội thảo ở San Francisco vào năm 1998 mà người viết bài này có tham dự, sau khi một đồng nghiệp- diễn giả từ Mayo Clinic thuyết trình về lợi và hại của đậu nành, một loạt ý kiến cực đoan ồn ào được đưa ra mà ngay cả hai vị chủ tọa cũng không điều khiển được cuộc thảo luận!

Ngay cả trong cộng đồng người Việt, một cuộc tranh cãi như thế cũng xảy ra, nhưng hình như với tính cách niềm tin cá nhân, tình cảm và cảm tính hơn là khoa học. Người thì tin rằng đậu nành là “một nguồn dinh dưỡng tuyệt hảo”, nhưng cũng có người cho rằng dùng đậu nành có thể có hại đến sức khỏe. Nhưng cả hai bên đều ít hay không dẫn chứng những tài liệu khoa học, mà chỉ dựa vào một số thông tin từ internet và ý kiến của một vài vị bác sĩ trong cộng đồng. Thực ra, đứng trên phương diện biện chứng, tất cả các ý kiến cá nhân của các chuyên viên, dù là chuyên viên hàng đầu trong ngành, có giá trị khoa học rất thấp.

Mặt khác, người ta có thể tìm trên internet những thông tin để ủng hộ hay bác bỏ một quan điểm về ảnh hưởng của đậu nành rất dễ dàng, vì hiện nay có hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn, các trang nhà trên liên mạng viết về đậu nành. Thế nhưng, không phải thông tin nào trên liên mạng cũng đều có giá trị và độ tin cậy như nhau, vì không có ai hay có cơ chế gì để kiểm tra các thông tin này trước khi chúng được công bố.

Thực ra, đậu nành chỉ là một trong nhiều loại thực phẩm hàm chứa kích thích tố nữ estrogen. Gọi là “kích thích tố nữ” vì estrogen là một yếu tố hóa học chi phối đến sự phát triển sinh dục trong phụ nữ. Một trong những chức năng chính của estrogen là giúp cho các cơ quan sinh dục tăng trưởng, và làm phát triển các đặc tính nữ (như vú chẳng hạn).

Trong thời kỳ cần khả năng sinh sản, estrogen là một kích thích tố quan trọng đóng vai trò điều hòa các hoạt động sinh học của cơ thể, kể cả sinh hoạt tình dục. Nhưng sau thời kì mãn kinh (tuổi mãn kinh trung bình ở người da trắng là 49-51 tuổi), buồng trứng không còn sản xuất estrogen nữa, và gây ra một loạt thay đổi tâm sinh lí trong người phụ nữ, và dẫn đến một số bệnh mãn tính như ung thư, tiểu đường và loãng xương.

Hiện nay, một trong những phương án điều trị và phòng ngừa bệnh tật trong các phụ nữ sau thời mãn kinh là thay thế kích thích tố (hay còn gọi là HRT, hormone replacement therapy). Tuy nhiên, vài năm gần đây, kết quả của một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy HRT có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vú trong các phụ nữ có tuổi. Và vấn đề được đặt ra là phải đi tỉm một phương án chữa trị vừa an toàn vừa hữu hiệu hơn HRT.

Phytoestrogen được xem là một trong những phương án đó. Vậy phytoestrogen là gì? Tác dụng và tác hại của nó ra sao? Bài viết này có một mục đích khiêm tốn là trả lời hai câu hỏi trên, bằng cách điểm qua một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đậu nành nói riêng [và phytoestrogen nói chung] và sức khỏe con người đã được công bố trên các tập san y sinh học trên thế giới. Những thông tin này đều được giới nghiên cứu y khoa duyệt qua trước khi công bố, do đó, dù không tuyệt đối, nhưng là những bằng chứng khoa học có độ tin cậy cao hơn nhiều so với những thông tin trên internet [không phải từ những tập san Y-sinh học, các tổ chức có thẩm quyền] hay ư kiến cá nhân.

Nói một cách ngắn gọn, phytoestrogen là những hợp chất estrogen (kích thích tố nữ) được tìm thấy trong thực vật [1]. Có ba nhóm phytoestrogen chính: isoflavones, coumestans, và lignans. Tất cả ba nhóm phytoestrogen này có cấu trúc hóa học rất giống với estrogen và anti-estrogen [2]. Vai trò của phytoestrogen trong thực vật chưa được xác định một cách rỏ ràng, nhưng có bằng chứng cho thấy hợp chất này có chức năng chống nấm [3] hay nhuộm cây [4]. Có giả thuyết cho rằng phytoestrogen cỉẳn là một bộ phận phòng thủ của cây trong quá trỉnh tiến hóa.

Năm 1954, người ta phát hiện có 53 loại cây cỏ có chứa estrogen [5], nhưng sau này con số được tăng lên hơn 300 cây cỏ [6]. Isoflavones và counestans được ghi nhận là những hợp chất phổ thông nhất.

Bảng sau đây là ước lượng hàm lượng của phytoestrogen trong một số thực phẩm thông thường được tính ra trên đơn vị tách (một tách đo lường ” metric cup ” có thể tích chuẩn là 250ml):

Thực phẩm Hàm lượng phytoestrogen

Miso 120mg

Đậu nành, đỗ tương (soybeans) 80mg

Bột đậu nành (soyflour) 100mg

Tempeh 80mg

Đậu khuôn (Tofu) 80mg

Sữa đậu nành (soy milk) 40mg

Đậu hũ (Tofu yoghurt) 16mg/100g

Mì đậu nành khô (soy noodles) 8,5mg/100g

Đậu nành xanh (green soybeans) 135mg/100g

Tác dụng của phytoestrogen

Các triệu chứng sau thời kỳ mãn kinh.

Như đề cập trên, đối với phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, cơ thể không còn sản xuất kích thích tố estrogen, và dẫn đến một loạt thay đổi quan trọng về tâm sinh lí. Một số trong những triệu chứng sinh lí là nóng bừng (thường gọi là “hot flash”), khô âm hộ, viêm âm đạo. Nhưng cường độ mà phụ nữ kinh qua những triệu chứng này có thể tùy thuộc vào yếu tố văn hóa. Chẳng hạn như phụ nữ Nhật Bản ít bị những triệu chứng nóng bừng so với phụ nữ Canada. Chỉ có 4% phụ nữ Nhật Bản dùng HRT [để chế ngự các triệu chứng trên], so với 30% trong các phụ nữ người Mĩ [7]. Sự khác biệt này có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có người cho rằng phytoestrogen là một nguyên nhân chính có thể giải thích tại sao phụ nữ Nhật Bản ít bị chứng nóng bừng hơn, và do đó ít cần đến, phụ nữ người Mĩ.

Trong một nghiên cứu trên 58 phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, với tối thiểu là 14 cơn nóng bừng hàng tuần; qua 12 tuần theo dỏi, tỉ lệ nóng bừng trong các phụ nữ được điều trị bằng bột đậu nành (phytoestrogen) (45 gram) giảm 40% so với phụ nữ không được điều trị là 25%. Tuy nhiên, mức độ khác biệt này không được xem là có ý nghĩa thống kê (tức có thể là do các yếu tố ngẫu nhiên, chứ không phải tác dụng của phytoestrogen) [8].

Loãng xương

Đối với các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, tỉnh trạng suy giảm estrogen dẫn đến tỉnh trạng mất chất xương. Tính trung bỉnh tỉ lệ bị mất chất xương khoảng 1% mỗi năm. Nhưng trong thời kỳ tiền mãn kinh, tỉ lệ này có thể cao đến 5 hay 10% mỗi năm. Giảm chất xương có thể dẫn đến dễ gãy xương hơn bỉnh thường nếu bị té hay tai nạn. Do đó, một trong những mục tiêu quan trọng của việc chữa trị bệnh loãng xương là duy trỉ chất xương sao cho không giảm trong thời kỳ sau mãn kinh. HRT là một loại thuốc có khả năng làm giảm tỉ lệ mất chất xương và phòng chống gãy xương trong phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, vỉ dùng HRT lâu năm có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vú (và có thể cả bệnh tim mạch). Từ đó, một trong những hướng nghiên cứu mới là tỉm một phương cách điều trị khác an toàn hơn, vừa giảm nguy cơ gãy xương lại vừa không làm tăng nguy cơ ung thư vú hay các phản ứng phụ.

Phytoestrogen có thể ngăn ngừa tỉnh trạng mất chất xương trong các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Nhiều dữ kiện trong vòng 3 thập niên qua cho thấy những phụ nữ được điều trị bằng Iproflavone, một dạng isoflavones, có mức độ mất chất xương thấp hơn các phụ nữ không được điều trị bằng Iproflavone. Nhưng kết quả này vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi, vỉ có nhà nghiên cứu cho rằng tác dụng của phytoestrogen không cao như nhiều người “cảm tỉnh viên” tưởng, nhưng họ cũng công nhận là phytoestrogen rất ít khi nào gây ra phản ứng phụ. Mặt khác vỉ chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được tiến hành theo đúng các tiêu chuẩn khoa học của thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, nên vấn đề vẫn chưa mấy rỏ ràng.

Mới đây, một nhóm bác sĩ và khoa học gia bên Ý đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, với 90 phụ nữ tuổi từ 47 – 57, bỉnh thường (không bị chứng loãng xương). Những phụ nữ này được chia làm 3 nhóm: 30 người không được điều trị gì cả (gọi là placebo, hay nhóm “đối chứng”); 30 người được điều trị bằng HRT 1 mg/ngày; và 30 người được điều trị bằng phytoestrogen genistein 54 mg/ngày. Sau 12 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu ghi nhận vài kết quả chính như sau [9]

Mật độ xương đùi trong nhóm được điều trị bằng phytoestrogen genistein tăng [trung bình] 3.6%; trong khi đó, nhóm được điều trị bằng HRT, tỉ lệ tăng là 2.4%; và như có thể đoán trước được, mật độ xương đùi trong nhóm đối chứng giảm khoảng 0.7%.

Chỉ số sinh hóa tạo xương (bone formation marker), nhóm được điều trị bằng phytoestrogen genistein tăng 23% đến 29%, trong khi chỉ số này trong nhóm được điều trị bằng HRT và nhóm đối chứng lại giảm.

Về phản ứng phụ: có ba phản ứng phụ như sau: chảy máu âm hộ, đau vú (breast tenderness), và nóng bừng (hot flushes). Chảy máu âm hộ được ghi nhận 3 người trong nhóm được điều trị bằng HRT, 1 người trong nhóm phytoestrogen genistein, và 1 người trong nhóm đối chứng. Chứng nóng bừng được ghi nhận trong 12 người thuộc nhóm đối chứng, cao nhất so với nhóm HRT (chỉ 1 người) và nhóm phytoestrogen genistein (3 người). Tuy nhiên, chứng đau vú được ghi nhận cao nhất trong nhóm HRT (6 người) so với nhóm phytoestrogen genistein (3) hay đối chứng (1).

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng phytoestrogen có tác dụng tích cực đến xương trong các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, qua khả năng làm giảm hoạt động của các tế bào hủy xương và tăng hoạt động của các tế bào tạo xương.

Đứng trên khía cạnh phương pháp và ý nghĩa lâm sàng, đây là một nghiên cứu quan trọng về ảnh hưởng của phytoestrogen trong việc điều trị chứng loãng xương. Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu về phytoestrogen trong ngành xương được tiến hành theo các tiêu chuẩn khoa học của nghiên cứu lâm sàng. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy phytoestrogen có thể làm cho xương phụ nữ trong và sau thời mãn kinh mạnh hơn, và làm giảm nguy cơ gãy xương. Nếu kết quả của nghiên cứu này được xác nhận bằng vài nghiên cứu độc lập khác, có thể nói trong tương lai ngành xương sẽ có một phương án mới điều trị chứng loãng xương an toàn hơn và rẻ tiền hơn với các loại thuốc hiện hành.

Ung thư

Đã từ lâu các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ khác nhau về tỉ lệ ung thư giữa các sắc dân trên thế giới là một bằng chứng cho thấy bệnh này chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến môi trường hơn là các yếu tố di truyền. Tỉ lệ dân bị ung thư cao nhất thường tập trung trong các dân số có mức tiêu thụ chất béo cao, chất đạm động vật, và ít tiêu thụ chất sợi (fibre); trong khi đó tỉ lệ ung thư thường thấp ở các nước mà mức độ tiêu thụ thịt ít nhưng có mức độ tiêu thụ thực vật và rau cỏ cao, nhất là các cây cỏ có chứa phytoestrogen [10-11].

Trong thời gian gần đây, có khá nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa ung thư và thực phẩm đậu nành. Ở Nhật, những người đàn ông ăn đậu khuôn (5 lần một tuần) có tỉ lệ bị ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) thấp hơn khoảng 50% so với đàn ông ăn đậu khuôn 1 lần hay ít hơn trong một tuần [12]. Trong một nghiên cứu trên 265,000 người Nhật trong vỉẳng 12 năm cho thấy những người ăn miso (một loại đậu khuôn) hàng ngày có nguy cơ bị ung thư dạ dày thấp hơn những người không dùng đậu nành [13-14]. Hai nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy phụ nữ dùng thực phẩm đậu nành ít (dưới 1 lần / tuần) có tỉ lệ bị ung thư phổi và ung thư vú cao gấp 2 đến 3.5 lần so với các phụ nữ dùng hàng ngày [15-16].

Trong một nghiên cứu mà đối tượng là những người Mĩ gốc Trung Quốc, Nhật Bản, và Phi Luật Tân, các nhà nghiên cứu ghi nhận một mối liên hệ nghịch chiều giữa mức độ tiêu thụ đậu khuôn và nguy cơ bệnh ung thư vú: phụ nữ dùng đậu khuôn nhiều có nguy cơ bị ung thứ vú thấp hơn phụ nữ không dùng hay dùng ít đậu khuôn [17]. Một phát hiện tương tự cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu ở Singapore [18] và Hawaii [19].

Kích thích tố nội sinh (endogenous hormones) và kích thích tố ngoại sinh (exogenous hormones) đều có quan hệ với nhiều loại ung thư. Trong đàn ông, những người có độ kích thích tố nam (androgens) cao thường có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt hơn những người có độ kích thích tố nam thấp. Trong phụ nữ, nguy cơ bị ung thư vú và noãn sào thường tăng theo mức độ kích thích tố nữ (hay estrogen). Tương tự những sắc dân có độ kích thích tố thấp cũng là những người có nguy cơ bị ung thư thấp [20]. Do đó, một giả thuyết được đặt ra là nếu có một hóa chất hay thực phẩm làm giảm độ kích thích tố nam và nữ thỉẢ nó cũng có thể làm giảm nguy cơ bị ung thư. Mặc dù mối tương quan giữa kích thích tố nội sinh và ung thư tỷ lệ thuận (tức là mức độ kích thích cao thỉ nguy cơ ung thư cao), nhưng mối tương quan giữa phytoestrogen và ung thư lại tỷ lệ nghịch (tức là mức độ phytoestrogen càng cao thỉ nguy cơ ung thư càng giảm).

Không ai biết tại sao lại có một “nghịch lí” như vừa nói, nhưng nhiều thí nghiệm trong chuột cho thấy phytoestrogen có khả năng làm giảm sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Trong những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu điều trị hai nhóm chuột (một nhóm bằng phytoestrogen, và một nhóm đối chứng tức không có thuốc nào), và cả hai nhóm đều được cho sống trong một môi trường gây bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm được điều trị bằng phytoestrogen có tốc độ phát sinh ung thư chậm hơn một cách đáng kể so với nhóm đối chứng, và điều này chứng tỏ rằng phytoestrogen có thể có tác dụng tích cực trong việc ngăn cản những bệnh ung thư tùy thuộc vào kích thích tố [21-22].

Chu kỳ kinh nguyệt

Mối liên hệ giữa phytoestrogen và ung thư vú, và giữa chu kỳ kinh nguyệt và ung thư vú là hai vấn đề thu hút một số nghiên cứu trong thời gian gần đây. Ở phụ nữ người da trắng, chu kỳ kinh nguyệt trong những người bị ung thư vú ngắn hơn khoảng 2 đến 3 ngày so với chu kỳ trong những người không bị ung thư vú [23]. Chu kỉẢ kinh nguyệt ở phụ nữ da trắng tính trung bỉnh ngắn hơn chu kỳ ở phụ nữ Á châu khoảng 2 đến 3 ngày, và sự khác biệt này được đề nghị là có liên hệ đến mức độ tiêu thụ đậu nành trong người Á châu cao hơn trong người Tây phương nói chung [24-25]

Trong một nghiên cứu nhỏ trên cho 6 phụ nữ dùng sữa đậu nành trong vòng 1 tháng, các nhà nghiên cứu ghi nhận chu kỳ kinh nguyệt tăng lên khoảng 3 ngày. Nhưng vỉ nghiên cứu này quá nhỏ và không có một nhóm đối chứng nên chưa thể xem là một bằng chứng đáng tin cậy [26]. Trong một nghiên cứu khác lớn hơn [27], các nhà nghiên cứu không ghi nhận ảnh hưởng nào của sữa đậu nành đến chu kỳ kinh nguyệt. Do đó, dựa theo các dữ kiện đang có, chúng ta chưa thể kết luận được là phytoestrogen có khả năng kéo dài chu kỳ kinh nguyệt, và chu kỳ kinh nguyệt tương đối dài trong phụ nữ Á châu chắc không phải do ảnh hưởng của phytoestrogen [28].

Bệnh tim mạch

Bằng chứng y học thu thập trong khoảng 30 năm qua cho thấy phytoestrogen có ảnh hưởng tích cực chống lại các bệnh tim mạch. Đã từ lâu, giới nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ người Á châu, những người có mức độ tiêu thụ rau cải nhiều, bị bệnh tim mạch ít hơn người da trắng Tây phương [29-30].

Trong phụ nữ người da trắng, estrogen là một kích thích tố được xem là có tác dụng phòng chống nguy cơ bị bệnh tim mạch. Phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh dùng estrogen (hay HRT) có nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp hơn phụ nữ không dùng estrogen [31-33]. Mối quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim mạch chưa được nghiên cứu qui mô như trong trường hợp HRT.

Tuy nhiên kết quả từ nhiều nghiên cứu mối quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim mạch không hoàn toàn nhất quán, và thường mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn như một nghiên cứu báo cáo rằng chỉ số cholesterol trong các phụ nữ dùng isoflavones với 45 mg/ngày giảm một cách đáng kể so với phụ nữ không được điều trị bằng isoflavones [34]. Nhưng một nghiên cứu khác [35] trong đàn ông được điều trị bằng protein đậu nành với 60 g/ngày trong vòng 4 tuần, thỉ không ghi nhận được một ảnh hưởng tích cực nào của phytoestrogen. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng nói thêm rằng các đối tượng trong nghiên cứu của họ có độ cholestrol thấp, tức là cơ hội giảm cholesterol không có bao nhiêu.

Khá nhiều nghiên cứu cho thấy thay thế thức ăn động vật bằng chất đạm chế biến từ đậu nành làm giảm LDL cholesterol [36-37]. Một phân tích tổng hợp 38 nghiên cứu lâm sàng gần đây kết luận rằng đậu nành hay chất đạm chế biến từ đậu nành có khả năng giảm LDL và triglyceride [38].

Khả năng tác hại của phytoestrogen

Khả năng sinh sản. Vào thập niên 1940s, ở Tây Úc người ta thấy một số trừu có vấn đề về khả năng sinh sản, kể cả các chứng u nang trong noãn sào, và thiếu khả năng thụ tinh [39]. Sau này triệu chứng trên có tên là “Clover disease”, và sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học biết rằng chứng này do trừu ăn một loại cỏ có tên là Trifolium subterraneum (hay thường gọi là “clover”, hay cỏ ba lá, cỏ clô-vơ) có chứa nhiều hàm lượng isoflavones [40]. Tác hại (hay “ảnh hưởng” thì đúng hơn) của cỏ clô-vơ trong vấn đề sinh sản sau này còn được ghi nhận trong thỏ, lợn (heo), và chuột.

Câu hỏi cần được đặt ra là một ảnh hưởng tiêu cực của isoflavones như trên có thể có trong con người hay không? Qua các nghiên cứu được công bố trong vài mươi năm qua thỉ có lẽ câu trả lời là “không”. Thực ra, chưa có một nghiên cứu nào cho thấy isoflavone có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh sản trong phụ nữa trước thời kỳ mãn kinh cả. Tuy nhiên, có một nghiên cứu ở Hòa Lan báo cáo rằng các phụ nữ dùng củ tulip (có chứa nhiều phytoestrogen) ở một liều lượng lớn có thể gây ra chứng chảy máu âm hộ và vài rối loạn chu kỳ kinh nguyệt [41], nhưng vỉ nghiên cứu này quá sơ sài, nên không ai có thể kết luận được là các triệu chứng này trực tiếp liên quan đến phytoestrogen hay một yếu tố trung gian nào khác. Trong phụ nữ Á châu, những người dùng đậu nành trong một thời gian rất dài (qua nhiều thế hệ) và với liều lượng trung bỉnh, thỉ khả năng sinh sản của họ không có gì để gọi là có vấn đề.

Phát triển

Cho đến nay, tất cả các nghiên cứu về phytoestrogen và phát triển chỉ giới hạn trong các động vật cấp thấp như chuột, nhưng kết quả cũng không có gì mang tính khẳng định. Dù thế, có người đặt giả thuyết rằng (cỉẳn gọi là Sharpe-Skakebaek hypothesis) nếu trẻ sơ sinh được tiếp thu estrogen sớm có thể dẫn đến một vài biến chứng trong thời gian trưởng thành, như chất lượng tinh trùng thấp, hay nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt [42]. Nhưng trong thực tế cho đến nay, những tác hại trên chưa được ghi nhận trong bất cứ một nghiên cứu nào. Thực ra, có bằng chứng cho thấy ngược lại rằng nếu trẻ sơ sinh dùng phytoestrogen thỉ trong thời gian trưởng thành họ thường ít bị các chứng bệnh mãn tính. Ở Mĩ, sữa đậu nành đã được dùng cho trẻ sơ sinh hơn 50 năm và chưa có bằng chứng gì cho thấy nó có tác hại [43].

Một vài nhận xét

Nói chung mặc dù trong thời gian qua đã có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phytoestrogen và sức khỏe con người, nhưng kiến thức của chúng ta về mối quan hệ này vẫn còn rất rời rạc. Một phần lớn là vỉ gần như 95% các nghiên cứu chưa được tiến hành theo những tiêu chuẩn khoa học và nguyên tắc lâm sàng cao. Chẳng hạn như trong khoảng 100 nghiên cứu liên quan đến phytoestrogen và loãng xương, ung thư và bệnh tim mạch, chỉ có 5 nghiên cứu được liệt vào loại “thư? nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên” (tức là “Randomized controlled clinical trial”), một loại nghiên cứu mà giá trị của kết quả được đánh giá là có độ tin cậy cao nhất trong tất cả các loại nghiên cứu lâm sàng.

Tuy nhiên, điểm qua kết quả của các nghiên cứu trên chuột và con người trong thời gian qua, chúng ta có thể nói rằng tác dụng của phytoestrogen đến sức khỏe con người nói chung là tích cực và an toàn nếu dùng với một liều lượng vừa phải và trong một thời gian trung bỉnh. Những bằng chứng này cho thấy phytoestrogen có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ phận, kể cả làm giảm cholesterol, ngăn chận sự phát triển của các tế bào ung thư, giảm tỉnh trạng mất chất xương trong người, và có thể xoa dịu những triệu chứng sau thời kỳ mãn kinh như nóng bừng. Nhưng phytoestrogen cũng có một vài biến chứng phụ nếu dùng với một liều lượng cao, dù những biến chứng này nói chung là không nghiêm trọng.

Thế nào là một liều lượng trung bỉnh? Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này. Nhưng các dữ kiện khoa học công bố trong thời gian gần đây cho thấy có lẽ dùng khoảng 30-40 mg / ngày (tức khoảng 1 ly sữa đậu nành mỗi ngày) là một liều lượng an toàn. Về thời gian dùng “an toàn”, cũng chưa có câu trả lời rỏ ràng, vỉ hầu hết các nghiên cứu về tác dụng của phytoestrogen thường rất ngắn hạn, và chúng ta vẫn chưa biết được những biến chứng lâu dài. Tuy nhiên, cho đến nay, trong các sắc dân Á châu dùng phytoestrogen (đậu nành) từ thế hệ này sang thế hệ khác, chưa thấy có biến chứng nguy hiểm nào được báo cáo.

Tăng cường tiêu thụ các sản phẩm như đậu khuôn, hay rau cải cũng nằm trong một chiến lược y tế công cộng của chính phủ nhiều nước Tây phương nhằm giảm tỉ lệ dân số bị bệnh tim mạch, ung thư và loãng xương. Đối với người Việt Nam, các sản phẩm của đậu nành, như đậu khuôn, sữa đậu nành, đậu hủ là những món ăn quen thuộc, và không có lí do gì chúng ta phải từ bỏ nguồn thực phẩm lành mạnh và quan trọng này.
Nguyễn Văn Tuấn