Category Archives: Cấp Cứu

Ngộ độc cấp

Trong những năm gần đây, cùng với việc sử dụng tràn lan các chất bảo vệ thực vật, hormon, các thực phẩm biến đổi gien, các chất ma túy, sự ô nhiễm môi trường và việc sử dụng không đúng các chất bảo quản thực phẩm đã làm cho tình trạng ngộ độc trở lên phổ biến và ngày càng có biểu hiện nghiêm trọng hơn.

Có rất nhiều tác nhân có thể gây ngộ độc cấp như các chất trừ sâu diệt cỏ, các hóa chất diệt chuột, một số kim loại nặng, một số thuốc thường dùng hoặc lương thực thực phẩm…trong phạm vi bài viết này xin được đề cập đến một số nguyên nhân ngộ độc cấp hay gặp, với mong muốn sẽ phần nào giúp mọi người hiểu nắm bắt được nguyên nhân, triệu chứng cũng như cách phòng ngừa để giảm thiểu những điều đáng tiếc có thể xảy ra.

1. Ngộ độc các chất trừ sâu diệt cỏ

Các dẫn chất của phospho hữu cơ: các dẫn chất của nhóm này phong phú và được sử dụng khá phổ biến làm thuốc trừ sâu như diazinon, leptophos, melathion.. các chất này tác dụng trên côn trùng hoặc động vật có vú bằng cách tiếp xúc hoặc ăn phải cây cỏ đã được phun hóa chất trên.

Trong cơ thể người và các loài động vật có vú, chúng được chuyển hóa nhanh hơn các dẫn chất chlohydrocacbon.Cơ chế tác dụng của các chất này là ức chế cholinesterase, từ đó làm tăng nồng độ acetylcholin ở các tổ chức chứa receptor nhạy cảm với acetylcholin. Ngoài ra còn có tác dụng ức chế một số enzym khác có trong tổ chức thần kinh dẫn đến nhiễm độc thần kinh muộn với các biểu hiện:

Biểu hiện của hội chứng ức chế thụ cảm thể M – Cholin: trên hệ tiêu hóa gây tăng tiết nước bọt, buồn nôn, nôn đau bụng, tiêu chảy; trên hệ hô hấp gây tăng tiết dịch phế quản, co thắt thanh quản và có thể gây phù phổi cấp; gây chậm nhịp tim, hạ huyết áp; co đồng tử chảy nước mắt, giảm thị lực…

Biểu hiện do ức chế thụ cảm thể N – Cholin: thường xuất hiện khi ngộ độc nặng, biểu hiện mệt mỏi rung cơ, có thể liệt dẫn đến liệt hô hấp, rối loạn nhịp tim có thể trụy mạch ngừng tim.

Biểu hiện trên thần kinh trung ương là sự ức chế các trung tâm hô hấp và tuần hoàn, trường hợp ngộ độc nặng sẽ dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn và tử vong nhanh.

Các hợp chất carbamat: là este của acid carbamic với alcol đơn, trong phân tử có nhóm amonium bậc 3 hoặc bậc 4.ít tan trong lipid nên ít hấp thu qua da, tổ chức liên kết và phổi; để hấp thu qua đường tiêu hóa phải cần dùng liều cao hơn rất nhiều so với đường tiêm.Tương đối bền trong môi trường nước.

Độc tính tương tự như phospho hữu cơ nên biểu hiện lâm sàng cũng tương tự, tuy nhiên thời gian tác dụng ngắn hơn nhiều so với phospho hữu cơ, khoảng cách giữa liều độc tối thiểu và liều chết lớn hơn.

2. Ngộ độc một số kim loại nặng

Chì: là nguyên tố kim loại nặng được phát hiện gây bệnh nghề nghiệp đầu tiên, hiện tại ngộ độc chì có xu hướng giảm đi.Sự hấp thu chì vào cơ thể phụ thuộc bản chất dạng muối chì. Nhiễm độc chì công nghiệp chủ yếu qua đường hô hấp, chì ở dạng muối vô cơ được hấp thu qua đường tiêu hóa khoảng 10%.

Khi vào cơ thể, chì gắn với hồng cầu và phân bố rộng rãi vào các tổ chức phần mềm của cơ thể: tủy xương, não, thận, tinh hoàn…phân bố qua rau thai gây độc cho thai nhi, cuối cùng phân bố ở xương với thời gian bán thải hơn 20 năm.

Ngộ độc chì vô cơ: cấp tính xảy ra trong môi trường công nghiệp do công nhân hít phải lượng lớn ocid chì, với biểu hiện đau bụng dữ dội, dẫn đến những rối loạn thần kinh trung ương; mạn tính thường biểu hiện chán ăn, mệt mỏi rung cơ đau đầu sút cân, rối loạn tiêu hóa.

Ngộ độc chì hữu cơ: thường do tetramethyl, hoặc tetraethyl chì có trong các nhiên liệu dùng trong các động cơ ô tô.Các chất này dễ bay hơi, tan trong lipid, hấp thu qua da và đường hô hấp, biểu hiện rối loạn thần kinh trung ương, ảo giác, mất ngủ, đau đầu, kích thích, vật vã.. nặng có thể gây tử vong.

Asen: được sử dụng rộng rãi làm chất trừ sâu diệt cỏ, diệt nấm, hợp kim bán dẫn…, với các dạng có thể gây ngộ độc là asen nguyên tố, asen vô cơ, asen hữu cơ và khí arsin.

Ngộ độc cấp và bán cấp asen vô cơ: buồn nôn, nôn dữ dội, đau bụng, kích ứng da, viêm thanh quản, viêm phế quản, có thể có xuất huyết tiêu hóa, hơi thở và phân có mùi tỏi và mùi tanh kim loại; nếu bệnh nhân sống sót có thể để lại di chứng thần kinh nặng nề.

Ngộ độc mạn tính: biểu hiện kích ứng da, rụng tóc, nhiễm mỡ gan, sừng hóa ở bàn tay,bàn chân, bệnh thần kinh cảm giác…

Ngộ độc khí arsin: hấp thu chủ yếu qua đương thở, là chất gây tan máu mạnh nhất hiện nay, các hồng cầu bị phá hủy dẫn đến có hemoglobin trong nước tiểu và gây suy thận cấp, ống thận bị tổn thương, nước tiểu vàng sẫm, đau bụng dữ dội.

Thủy ngân: nguyên nhân ngộ độc thường là do tiếp xúc với các chất thành phần có thủy ngân dùng trong nha khoa, nhiệt kế, các chất trừ sâu diệt cỏ, diệt nấm, diệt mối…

Ngộ độc cấp: do hít phải ở nồng độ cao, biểu hiện đau ngực buồn nôn, nôn, tổn thương thận, viêm lợi, viêm đường tiêu hóa, rung cơ, có thể có bệnh lý tâm thần.

Ngộ độc mạn: rối loạn tiêu hóa, viêm lợi, rụng răng, suy thận, run ngón tay, cánh tay, rối loạn tiểu não, rối loạn tâm thần.

3. Thuốc

Ngộ độc thuốc ngày càng trở nên đa dạng và phong phú vì các lạo chế phẩm thuốc ngày càng phong phú, hiện tượng lạm dụng thuốc ngày càng ra tăng

Thuốc an thần gây ngủ: tùy giai đoạn mà có biểu hiện khác nhau, đầu tiên là thoát ức chế, sau là ngủ lịm và hôn mê, nếu hôn mê nhẹ có rung giật nhãn cầu, nặng thì co đồng tử, hạ huyết áp, thân nhiệt giảm, trương lực cơ giảm.

Thuốc kích thích TKTW: kích động, loạn thần, co giật, nhịp nhanh, loạn nhịp, tăng huyết áp, tăng trương lực cơ, tăng thân nhiệt…

Nhóm opioid: buồn ngủ, ngủ lịm hoặc hôn mê, hô hấp giảm hoặc ngừng thở, đồng tử co nhỏ, trương lực giảm, có thể hôn mê sâu và tử vong.

Chất kháng Muscarinic như atropin, kháng histamin, thuốc chống trầm cảm ba vòng: ảo giác, hoang tưởng, hôn mê, tăng mạch, tăng huyết áp, tăng thân nhiệt, khô da, giãn đồng tử..

4. Xử trí như thế nào?

Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc khác nhau, trước khi tìm nguyên nhân để giải quyết triệt để thì vấn đề cấp cứu ngộ độc cấp là vấn đề sống còn, bao gồm ba giải pháp chủ yếu đó là:

-Điều trị hỗ trợ các chức năng sống chủ yếu của cơ thể : trợ hô hấp, trợ tuần hoàn, chống co giật nếu có, xử trí các biến chứng về tim mạch và huyết áp, chống phù nề não và chống nhiễm độc tại chỗ.

-Bằng mọi cách làm giảm hấp thu và loại bỏ nhanh các chất độc ra khỏi cơ thể

+ các biện pháp làm giảm hấp thu: chủ yếu với ngộ độc đường uống và thường chỉ có hiệu quả với phần lớn các thuốc sau khi uống 4h. Biện pháp đầu tiên là làm rỗng dạ dày bằng cách gây nôn hoặc rửa dạ dày bằng nước muối sinh lý, tuy nhiên không nên rửa dạ dày cho người uống phải acid hay base mạnh. Ngoài ra có thể dùng chất hấp phụ như than hoạt hoặc dùng các chất tẩy.

+ Đẩy nhanh thải trừ các chất độc: đây là việc làm rất cần thiết, tùy theo chất ngộ độc mà cso thể sử dụng thuốc lợi tiểu, gây kiềm hóa nước tiểu hoặc acid hóa nước tiểu, làm thay đổi pH nước tiểu, thẩm tách và lọc máu nếu có điều kiện và có chỉ định.

- Và cuối cùng dùng các chất giải độc đặc hiệu như Naloxon, Physostigmin, EDTA, Deferoxamin hay Dimecarprol tùy theo nguyên nhân gây độc.

Cấp cứu ho ra máu

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết

1. Đại cương:
1.1. Định nghĩa:
Ho ra máu là ho khạc, ộc ra máu khi ho, mà máu đó xuất phát từ dưới thanh môn trở xuống.
Định nghĩa này loại trừ khạc ra máu từ mũi họng, răng, miệng và nôn ra máu do chảy máu đường tiêu hoá.

1.2. Cơ chế ho ra máu:
1.2.1. Do dập vỡ động mạch hệ thống quá phát triển, đây là nguyên nhân hay gặp nhất của ho ra máu, có thể dẫn đến ho ra máu mức độ nặng nhẹ khác nhau. Cơ chế này gặp trong u phế quản, do tuần hoàn tăng tưới máu, tổn thương phá huỷ, viêm và xơ, trong mưng mủ phổi mạn tính , đặc biệt trong giãn phế quản. Sự tăng tưới máu này phát triển từ động mạch phế quản.

1.2.2. Dập vỡ các động mạch phổi lớn ở trong phế quản, dẫn đến chảy máu ồ ạt, kịch phát ( chẳng hạn một động mạch phổi bị ung thư, hoặc dập vỡ do chấn thương hay do thương tích phổi, vỡ phình động mạch ).

1.2.3. Ho ra máu nguồn gốc từ tuần hoàn phổi , do áp lực tăng ở chỗ nối tĩnh mạch phổi với mạch máu phế quản ở đoạn dừng lại Vonhayeck. Cơ chế này gặp trong phù phổi huyết động, nhồi huyết phổi. Nguồn gốc từ tuần hoàn phổi càng nặng khi có cao áp tĩnh mạch phổi.

1.2.4. Còn do chảy máu trong phế nang do tổn thương màng phế nang, mao mạch. Trường hợp này gặp trong hội chứng Goodpasture, Lupud ban đỏ rải rác.

1.2.5. Do rối loạn đông máu do các bệnh nội khoa như bạch cầu, suy tuỷ, thiếu máu, nhược sản tuỷ, do sử dụng thuốc chống đông kéo dài…

1.3. Nguyên nhân :
Ho ra máu là triệu chứng của nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân thường gặp trên lâm sàng là:
1.3.1. Tổn thương phổi phế quản:

1.3.1.1. Lao phổi:
Ho ra máu trong lao phổi có phá huỷ hang hoặc lao xơ hang, hoặc di chứng của lao phổi. Ho máu do lao thường có đuôi khái huyết.


1.3.1.2. Ung thư phế quản:
Ho ra máu là triệu chứng thường gặp. Bệnh nhân ho ra máu thường với số lượng ít, thường có màu mận chín hoặc máu lẫn đờm

1.3.1.3. Giãn phế quản: Trong giãn phế quản thể khô, bệnh nhân ho ra máu tái diễn kéo dài nhiều năm, những lần sau thường kéo daì nhiều hơn lần trước.

1.3.1.4. Do nhiễm khuẩn phổi, phế quản: áp xe phổi hay gặp ho máu nặng, ngoài ra còn gặp ho máu trong viêm phổi hoại tử, viêm phế quản xuất huyết

1.3.2. Nguyên nhân tim mạch:
Ho máu thường gặp trong bệnh hẹp khít van 2 lá, suy tim trái, cao áp động mạch phổi, nhồi máu phổi

1.3.3. Các nguyên nhân khác:
Ho máu ở bệnh máu, chấn thương ngực do sức ép, sóng nổ; sốt xuất huyết
Ngoài ra còn có tỉ lệ ho máu không rõ căn nguyên.

1.4. Phân loại mức độ ho máu:
- Ho máu nhẹ: tổng lượng máu ho ra dưới 50ml/24h
- Ho máu vừa: tổng lượng máu ho ra từ 50ml đến dưới 200ml/24h
- Ho máu nặng: tổng lượng máu ho ra từ 200ml trở lên/24h

2. Xử trí:
Nguyên tắc chung: bất động, an thần, cầm máu, giảm ho, kháng sinh phòng bội nhiễm và điều trị căn nguyên

2.1. Hộ lý:
Đặt bệnh nhân nằm bất động ở tư thế Fowler.
Nếu ho ra máu nặng cần đặt bệnh nhân nằm đầu thấp và nghiêng về phía nghi có tổn thương.
Động viên bệnh nhân an tâm, tránh hỏi và thăm khám nhiều.
Lấy mạch, nhiệt độ, huyết áp, làm xét nghiệm cấp cứu: hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu, công thức bạch cầu, Hematocrit, nhóm máu, chụp Xquang tại giường .
Theo dõi sát tình trạng toàn thân và số lượng máu trong 24 giờ.
Cho bệnh nhân ăn chế độ lỏng, nguội. Tránh hỏi và khám nhiều .

2.2. An thần:
Thuốc ngủ và an thần tác dụng trấn tĩnh và giảm phản xạ ho, rất cần trong cấp cứu khái huyết.
- Thuốc nhóm Bacbituric ( Gacdenal 0,1g´ 2v ) , hoặc dùng Diazepam 10 mg ‘ 1ống tiêm bắp thịt ( hoặc uống viên 5 mg ´ 1-2 viên / 24giờ ).

Nếu ho ra máu nặng, cho dùng Cocktailytic ( Gacdenal + Aminazin + Pipolphen ) liều nhỏ, 4 giờ tiêm 1 lần trong ngày.

Chú ý: không nên dùng quá nhiều và kéo dài các thuốc ngủ và an thần, nhất là thuốc gây ức chế phản xạ ho và ức chế trung tâm hô hấp, có thể gây xẹp phổi và suy hô hấp do bít cục máu đông trong lòng phế quản

2.3. Cầm máu:
2.3.1. Tinh chất hậu yên: Pos-hypophyse (glanduitrin, pituitrin) ống 5 ui
Tác dụng: co mạch, cầm máu
Cách dùng: tiêm tĩnh mạch 5ui + 20ml HTN 5% x 4 giờ/ lần, tuỳ theo mức độ ho máu. Nếu truyền tĩnh mạch thì pha 20ui với 250nl HTN 5%/ 24 giờ. Có thể dùng tới 40 ui/24 giờ: ho máu nhẹ truyền tĩnh mạch liều 0,2ui/1phút, ho máu vừa và nặng liều 0,2 – 0,4 ui/phút

2.3.2. Thuốc tác động đến quá trình đông máu:
Homocaprol, transamin, vitamin K

2.3.3. Thuốc đông y: Cỏ nhọ nồi, huyết dư thán, hoa hoè, Trắc bách diệp, tam thất nam sao đen…có tác dụng cầm máu nhẹ.

2.4. Giảm ho:
Sinecod hoặcPaxeladin 3viên mỗi ngày. Hoặc uống Tecpin-codein 4v / ngày.

2.5. Chống suy hô hấp và trụy tim mạch:
Hút đờm và máu cục qua ống soi phế quản khi cần thiết. Thở Oxy, trợ tim mạch ( Spactein, Coramin, hoặc Uabain ) khi cần có thể dặt nội khí quản thở máy.

2.6. Phòng chống bội nhiễm: dùng kháng sinh tiêm hoặc uống.

2.7. Điều trị nguyên nhân: ho máu do lao dùng phác đồ chống lao. Còn các nguyên khác tuỳ theo bệnh mà điều trị

2.8. Truyền máu:
Chỉ định khi HC,2 Tr, HST dưới 60g/l, Hematocrits dưới 30%, hoặc khi ho máu nặng mà điều trị thông thường không hiệu quả.

2.9. Các biện pháp khác:
- Phẫu thuật cấp cứu khi chảy máu ồ ạt, điều trị nội khoa không kết quả. Thường cắt phân thuỳ hoặc thuỳ phổi có hang gây chảy máu

- Gây tắc động mạch phế quản

theo ykhoavn.net

sơ cứu Bệnh nhân gãy xương

Gãy xương là một tình trạng mất tính liên tục của xương, nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức từ một vết rạn cho đến một sự gãy hoàn toàn của xương.

1. Nguyên nhân gãy xương.

Gãy xương thường là do tác động của một lực vào xương. Lực náy có thể bắt đầu từ bên ngoài của cơ thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.

Trực tiếp: nếu do lực trực tiếp thì đường gãy thường cắt ngang thẳng qua xương và ổ gãy ở ngay vùng bị ảnh hưởng (H.198).

Gián tiếp: Lực gián tiếp thường gây ra gãy xoắn. ổ gãy thường ở xương nơi bị lực tác động vào ví dụ: ngã chống tay có thể gây nên gãy xương đòn (H.199).

2. các loại gãy xương

Gãy xương được chia làm 2 loại chính: gãy xương kín và gãy xương hở và cả 2 đều có thể là gãy xương biến chứng.

Gãy xương kín:

Là loại gãy xương mà tổ chức da ở vùng xung quanh or gãy không bị tổn thương hoặc có thể tổn thương nhưng không thông với ổ gãy.

Gãy xương hở

Là loại gãy xương khi có tổn thương thông từ bề mặt của da với ổ gãy hoặc 1 đầu xương gãy chòi ra ngoài.

Gãy xương hở là một tổn thương nghiêm trọng vì không những nó gây nên chảy máu ngoài trầm trọng mà còn vì vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào or gãy gây nên những biến chứng nhiễm khuẩn rất nặng nề khó điều trị.

Gãy xương biến chứng

Cả gãy xương hở và gãy xương kín đều được coi là gãy xương biến chứng khi có một tổn thương kèm theo ví dụ khi đầu xương gãy làm tổn thương dây thần kinh và mạch máu hay một tổ chức, cơ quan nào đó hoặc khi gãy xương kết hợp với trật khớp.

3. Triệu chứng và dấu hiệu chung

- Nạn nhân có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng kêu “rǎng rắc” của xương gãy.

- Đau ở chỗ chấn thương hoặc gần vị trí đó. Đau tǎng khi vận động.

- Giảm hoặc mất hoàn toàn khả nǎng vận động.

- Có phản ứng tại chỗ gãy khi ấn nhẹ lên vùng bị thương

- Sưng nề và sau đó bầm tím ở vùng chấn thương

- Biến dạng tại vị trí gãy: ví dụ chi gãy bị ngắn lại, gập góc hoặc xoắn vặn, v.v..

- Khi khám có thể nghe hoặc cảm thấy tiếng lạo xạo của 2 đầu xương gãy cọ vào nhau.

Không được cố gắng tìm dấu hiệu này vì làm nạn nhân rất đau.

Có thể có triệu chứng của sốc.

Tình trạng sốc thường xảy ra và được nhận thấy rõ trong các trường hợp gãy xương đòn hoặc vỡ xương chậu.

Chú ý:

Không phải tất cả các xương, đều có những dấu hiệu và triệu chứng trên. Để tìm ra những dấu hiệu của gãy xương phải chủ yếu dựa vào sự quan sát, đừng cho vận động bất kỳ nơi nào của cơ thể nếu không cần thiết. Nếu có thể thì hãy so sánh chi bị thương với chi lành.

Nếu có sự kết hợp của 2 hay 3 triệu chứng của các triệu chứng kể trên hoặc nếu nạn nhân có biểu hiện của tình trạng sốc và đau nhiều ở chi hoặc nếu có nghi ngờ về tính nghiêm trọng của một chấn thương thì hãy xử trí như một trường hợp gãy xương.

4. mục đích

4.1. Giảm đau

- Chống đau cho nạn nhân: Tuyệt đối không vận động phần bị tổn thương nếu không cần thiết. Nếu có điều kiện thì nên phong bế novocain quanh ổ gãy hoặc tiêm morphin dưới da nếu không có tổn thương sọ não, ổ bụng… kèm theo (dùng theo chỉ định của thầy thuốc).

- Bǎng kín các vết thương nếu có.

- Cố định tạm thời gãy xương.

- Thường xuyên nâng cao chi bị gãy sau khi cố định để giảm sự sưng nề, khó chịu.

- Phòng, chống sốc (xem bài cấp cứu sốc)

- Thường xuyên quan sát theo dõi nạn nhân về tình trạng toàn thân đặc biệt là tình trạng tuần hoàn ở phía dưới ổ gãy.

4.2. Phòng sốc

4.3. Hạn chế sự di lệch của đầu xương bị gãy (tránh gây tổn thương mạch máu, thần kinh, phần mềm nơi gãy, tránh gãy kín thành gãy hở).

5. nguyên TắC Cố ĐịNH GãY Xương.

5.1. Không đặt nẹp trực tiếp lên da thịt nạn nhân phải có đệm lót ở đầu nẹp, đầu xương (không cởi quần áo, cần thiết rạch theo đường chỉ).

5.2. Cố định trên, dưới ổ gãy, khớp trên và dưới ổ gãy, riêng xương đùi bất động 3 khớp.

5.3. Bất động ở tư thế cơ nǎng: Chi trên treo tay vuông góc, chi dưới duỗi thẳng 180o.

5.4. Trường hợp gãy kín phải kéo chi liên tục bằng một lực không đổi trong suốt thời gian cố định.

5.5. Trường hợp gãy hở: Không được kéo nắn ấn đầu xương gãy vào trong nếu có tổn thương động mạch phải đặt ga rô tùy ứng, xử trí vết thương để nguyên tư thế gãy mà cố định.

5.6. Sau khi cố định buộc chi gãy với chi lành thành một khối thống nhất.

5.7. Nhanh chóng, nhẹ nhàng, vận chuyển nạn nhân đến cơ sở điều trị.

6. Kỹ THUậT SƠ CứU BệNH NHÂN GãY XưƠNG Các loại

6.1.1. Nẹp: nẹp phải đảm bảo đủ độ dài, rộng và dày

- Nẹp chính quy

Nẹp gỗ: nẹp có kích thước như sau:

Chi trên: dài 35-45cm, rộng 5-6mm

Chi dưới: dài 80-100cm, rộng 8-10cm, dày 8mm

- Nẹp kim loại (nẹp Cramer): Nẹp này có thể uốn cong theo các khuỷu thường dùng để cố định gãy xương cánh tay, cẳng tay và cẳng chân.

- Nẹp Thomas: (giá Thomas) Loại này dùng cho trường hợp gãy xương đùi.

- Nẹp Beckel (máng Beckel): loại này thường dùng trong gãy xương cẳng chân.

- Nẹp tùy ứng: là loại nẹp làm bằng tre hay bất kỳ vật liệu gì sẵn có.

6.1.2. Bông

Dùng để đệm lót vào đầu nẹp hoặc nơi ụ xương cọ xát vào nẹp, nếu có điều kiện nên dùng bông mỡ (không thấm nước). Nếu không có, có thể dùng bông thường (không thấm nước) hoặc dùng vải hay quần áo.

6.1.3. Bǎng

Dùng để buộc cố định nẹp. Bǎng phải đảm bảo: Rộng bản, dài vừa phải, bền chắc.

Nếu không có bǎng thì có thể dùng các dải dây buộc.

Chi trên cần 3 dây, cẳng chân cần 4-5 dây dải. Đùi cần 7 dây dài.

Chú ý: trên thực tế không phải lúc nào cũng có sẵn các vật dụng để cố định gãy xương nên người ta thường dùng khǎn tam giác dể bất động tạm thời một số loại gãy xương và dùng nẹp cơ thể như: cố định chi gãy vào chi lành, buộc tay vào ngực, v.v…

6.2. Gãy xương hở.

6.2.1. Trường hợp xương chồi ra ngoài vết thương

Chú ý:

- Không bao giờ kéo đầu xương gãy vào trong

- Bǎng bó vết thương rồi mới cố định theo tư thế gãy

a) Cầm máu bằng cách ép mép vết thương sát vào đầu xương

b) Nhẹ nhàng đặt một miếng gạc hoặc miếng vải sạch lên trên đầu xương chồi ra.

c) Đặt một vành khǎn hoặc một đệm bông hình bán nguyệt lên trên vết thương.

d) Bǎng cố định gạc vào vùng đệm bằng bǎng cuộn.

e) Xử trí các bước tiếp theo như gãy xương kín.

g) Chuiyển nạn nhâ n tới bệnh viện ngay. Đây là cấp cứu ưu tiên. Lưu ý giữ gìn tư thế đúng trong khi vận chuyển và theo dõi sát tình trạng toàn thân của nạn nhân.

Chú ý: vành khǎn hoặc đệm bông phải có chiều dày đủ để không gây áp lực lên đầu xương khi bǎng ép.

6.2.2. Trường hợp xương gãy không chìa đầu ra ngoài.

a) Cầm máu bằng cách ép nhẹ nhàng mép vết thương lại.

Không ấn mạnh vết thương ớ vị trí gãy.

b) Đặt một miếng gạc lên trên vết thương và đệm bông ở xung quanh miệng vết thương.

c) Xử trí như trường hợp gãy xương hở có xương chồi ra ngoài.

6.3. Vỡ xương sọ

- Nạn nhân tỉnh. Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dùng gối hoặc đệm đỡ đầu và vai.

- Nếu có máu, dịch não tủy chảy ra từ tai thì đặt nạn nhân nằm nghiêng về phía đó. áp vào tai đó một miếng gạc vô khuẩn hoặc vật liệu tương tự sau đó bǎng lại bằng bǎng cuộn (không đút nút lỗ tai).

- Nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm ở tư thế hồi phục nghiêng về bên bị tổn thương.

- Kiểm tra nhịp thở, mạch và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/1ần.

- Nếu ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sinh hô hấp – tuần hoàn ngay.

- Phòng chống và xử trí sốc nếu xảy ra (xem phần cấp cứu sốc)

- Chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Lưu ý: nếu não phòi ra ngoài sọ không được bôi thuốc và bǎng ép. Vỡ nền sọ thường do lực gián tiếp. Đồng tử hai bên không.đều, máu và dịch não tủy chảy qua lỗ tai.

6.4. Gãy xương sườn và xương ức.

6.4.1. Cách 1:

- Dùng bǎng dính to bản cố định

- Treo tay cùng bên với bên lồng ngực có xương gãy vào cổ

- Xử trí vết thương lồng ngực nếu có.

6.4.2. Cách 2:

- Buộc bằng 3 khǎn:

+ Khǎn 1 đặt giữa nơi xương sườn bị gãy, bảo nạn nhân thở ra, buộc nút trước nách bên đối diện xương sườn gãy.

+ Khǎn 2, 3 đặt trên và dưới khǎn 1, buộc giống như trên.

* Sau khi xử trí như cách 1 hoặc 2 thì:

- Treo tay cùng bên với bên lồng ngực có xương gãy vào cổ.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Trường hợp biến chứng thì phải chuyển ngay lập tức.

- Trường hợp gãy xương sườn có biến chứng (xem phần xử trí cấp cứu các vết thương lồng ngực).

6.5. Gãy xương đòn.

6.5.1. Dùng nẹp chữ T.

- Cho nạn nhân ưỡn ngực hai vai kéo về phía sau.

- Chèn bông hoặc bǎng dưới hai hố nách và hai bả vai.

- Đặt nẹp chữ T sau vai, nhánh dài dọc theo cột sống, nhánh ngang áp vào vai.

- Quấn bǎng vòng tròn từ nách qua vai buộc nút ở bả vai.

Quấn bǎng vòng thắt lưng, buộc nút ở vị trí thích hợp không để vướng.

Chú ý nẹp chữ T phải đảm bảo. Nhánh dài phải đủ dài qua thắt lưng, nhánh ngang phải to bản và dải qua khỏi vai.

6.5.2. Dùng bǎng số 8: cần 2 người tiến hành.

Người thứ nhất: Nắm 2 cánh tay nạn nhân nhẹ nhàng kéo ra phía sau bằng một lực vừa phải, không đổi trong suốt thời gian cố định.

Người thứ hai: Dùng bǎng bǎng kiểu số 8 để cố định xương đòn.

Chú ý: Phải đệm lót tốt ở hai hố nách để tránh gây cọ sát làm nạn nhân đau khi bǎng.

6.6. Gãy xương tay

6.6.1. Trường hợp gấp được khớp khuỷu.

- Treo tay bằng khǎn chéo lên cổ

- Buộc cánh tay vào thân bằng khǎn chéo

Cố định gãy xương đòn

Hình 210. Dùng bǎng treo

* Trường hợp gãy xương cánh tay

- Để cánh tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc với cánh tay (tư thế co).

- Đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ quá bả vai đến quá khớp khuỷu. Có thể dùng nẹp Cramer làm thành góc 90o đỡ cả cánh tay và cẳng tay bǎng lại.

- Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp: một ở trên và một ở dưới ổ gãy.

- Dùng khǎn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay để ngửa.

- Dùng bǎng rộng bản bǎng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành.

* Trường hợp gãy xương cẳng tay:

- Để cẳng tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa.

- Dùng hai nẹp: Nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu.

- Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay, thân cẳng tay (trên, dưới ổ gãy).

- Dùng khǎn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực.

6. 6.2. Trường hợp không thể gấp khuỷu tay được

Đừng cố dùng sức để gấp khuỷu tay. Bảo nạn nhân dùng tay kia đỡ tay bị thương ở vị trí đó nếu có thể.

Đặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân.

Buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải bǎng rộng bản ở các vị trí:

+ Quanh cổ tay và đùi.

+ Quanh cánh tay và ngực

+ Quanh cẳng tay và bụng

Cho nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân.

6.7. Gãy xương sống (gãy cột sống).

6.7.1. Gãy cột sống lưng.

Khuyên nạn nhân nằm yên không được cố vận động các phần của cơ thể

- Nếu có thể chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đừng di chuyển nạn nhân. Người cứu dùng tay giữ chắc đầu nạn nhân. Nếu có người đứng xung quanh thì bảo họ đỡ 2 bàn chân nạn nhân. Gấp vải, chǎn hoặc gối hoặc quần áo để dọc sát 2 bên thân nạn nhân để đỡ nạn nhân. Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu.

- Nếu không thể chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện hoặc đường đi tới bệnh viện xa khó đi thì phải: đỡ vai và khung chậu nạn nhân và thận trọng đặt đệm mềm vào giữa 2 chân. Buộc bǎng hình số 8 ở quanh cổ chân và bàn chân, buộc các dải bǎng to ở đầu gối và đùi.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Đặt nạn nhân trên một cánh cứng ở tư thế giống như tư thế khi phát hiện thấy nạn nhân. Luôn luôn duy trì sự thông thoát đường hô hấp và theo dõi sát nạn nhân trong suốt quá trình vận chuyển.

Chú ý: Khi nâng nạn nhân lên cánh cần phải có nhiều người và phải nâng đều để luôn luôn giữ nạn nhân trên một mặt phẳng. Khi đặt xuống bàn khám hoặc giường cũng phải làm như vậy.

6.7.2. Gãy đốt sống cổ

- Khuyên nạn nhân không được cố vận động. Đỡ đầu và cổ nạn nhân cho đến khi đội cấp cứu đến.

- Nếu không thể chuyển ngay nạn jnhân đến bệnh viện thì phải: nới rộng cổ áo và lót một vòng đệm cổ (xem phần sau).

Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu.

Nếu buộc phải di chuyển nạn nhân thì phải xử trí như trường hợp gãy cột sống lưng.

Lót vòng đệm cổ.

+ Nếu không có sẵn vòng đệm cổ thì gấp 1 tờ báo lại với bề rộng khoảng 10cm. Sau đó dùng bǎng tam giác gói lại hoặc nhét tờ báo đã gấp lại đó vào trong một bít tất dài.

+ Đặt phần giữa của vòng đệm cổ vào phía trước của cổ ngay phía dưới cằm.

+ Quấn vòng đệm cổ này quanh cổ nạn nhân và buộc nút ở phía trước của cổ.

+ Đảm bảo chắc chắn rằng vòng đệm cổ không gây tắc nghẽn đường thở.

Hình 212. Quấn vòng đệm cổ quanh cổ nạn nhân, buộc nút phía sau cổ

6.8. Vỡ xương chậu

Giữ nạn nhân thoải mái, giảm đau và thu xếp chuyển ngay tới bệnh viện.

Hình 213. Đặt bệnh nhân nằm ngửa kê gối dưới khoeo chân

- Đặt nạn nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng hoặc hơi co đầu gối,nếu nạn nhân cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn ở tư thế này. Dùng gối hoặc chǎn mỏng gấp lại để kê dưới gối.

- Nếu nạn nhân đòi đi tiểu thì khuyên nạn nhân cố gắng chịu đựng vì nước tiểu có thể tràn vào các mô.

Nếu chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đắp chǎn cho nạn nhân và đợi xe cấp cứu đến.

Nếu không chuyển ngay được đến bệnh viện và đường đi tới bệnh viện xa (mất trên 30 phút) hoặc đường khó đi thì phải: nhẹ nhàng buộc 2 vòng bǎng to bản ở khung chậu, buộc vòng bǎng phía dưới trước, vòng bǎng này đi vòng qua khớp háng.

- Nếu chỉ có một đai chậu bị tổn thương thì bǎng vòng thứ 2 chéo lên phía gai chậu của bên bị tổn thương.

Nếu cả 2 bên đai chậu đều tổn thương thì buộc chính giữa.

+ Đặt đệm mỏng vừa đủ vào giữa 2 đầu gối và mắt cá.

+ Bǎng số 8 xung quanh mắt cá và bàn chân và bǎng một bǎng rộng bản ở đầu gối. Buộc nút ở bên phần không bị tổn thương.

- Phòng chống và xử trí sốc xảy ra .

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trước khi chuyển phải duy trì sự theo dõi sát người bị nạn và giữ nạn nhân ở tư thế đúng.

6.9. Gãy xương đùi và khớp háng

- Giữ nạn nhân thoải mái, giảm đau, tránh gây tổn thương thêm và vận chuyển ngay nạn nhân đến bệnh viện.

- Giữ yên chân gãy theo đúng tư thế cơ nǎng: bàn chân vuông góc với cẳng chân. Cần nâng đỡ xương nhẹ nhàng đúng phương pháp để không làm nạn nhân đau.

- Cố định xương gãy.

6.9.1. Cố định bằng nẹp gỗ: cần 3 người làm.

Người thứ nhất: luồn tay đỡ đùi ở phía trên và phía dưới ổ gãy.

Người thứ hai: đỡ gót chân và giữ bàn chân ở tư thế luôn vuông góc với cẳng chân.

Người thứ ba: đặt nẹp. Cần 3 nẹp.

- Đặt 3 nẹp:

+ Nẹp ngoài từ hố nách đến quá gót chân

+ Nẹp dưới từ vai đến quá gót chân

+ Nẹp trong từ bẹn đến quá gót chân

Dùng 9 dải dây rộng bản để buộc cố định nẹp ở các vị trí:

+ Trên ổ gãy

+ Dưới ổ gãy

+ Cổ chân: bǎng kiểu bǎng số 8

+ Ngang ngực

+ Ngang hông

+ Dưới gối

+ 3 dải bǎng buộc 2 chi vào nhau ở các vị trí: Trên đầu gối, dưới đầu gối, cổ chân.

6.9.2. Cố định bằng nẹp cơ thể:

Trường hợp không có nẹp gỗ thì tiến hành buộc chân gãy vào chân lành ở các vị trí:

+ Cổ chân: Dùng kiểu bǎng số 8 để buộc 2 chân và bàn chân lại với nhau.

+ Trên ổ gãy

+ Dưới ổ gãy

+ Dưới gối

+ Cẳng chân

Lưu ý: Phải đệm lót tốt ở phần giữa 2 đầu gối và 2 cổ chân.

Không được buộc nút ở phía chân gãy.

- Phòng chống và xử trí tốt (xem phần cấp cứu sốc)

- Sau khi cố định chân gãy xong, nâng chân cao lên một chút để giảm sự sưng nề và khó chịu cho bệnh nhân.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện: Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên.

Trong khi vận chuyển phải giữ tư thế đúng của nạn nhân, theo dõi sát nạn nhân và xử trí kịp thời những diễn biến xảy ra.

6.10. Gãy xương cẳng chân.

- Giảm đau cho bệnh nhân

- Phòng chống và xử trí sốc

- Trường hợp cố định bằng nẹp: cần 2 nẹp dài bằng nhau và 3 người làm:

Người thứ nhất: đỡ nẹp và cẳng chân phía trên và dưới ổ gãy.

Người thứ hai: đỡ gót chân, cổ chân và kéo nhẹ theo trục của chi, kéo liên tục bằng một lực không đổi.

Người thứ ba: cố định gãy xương.

Đặt 2 nẹp:

Nẹp trong từ giữa đùi đến quá gót.

Nẹp ngoài từ giữa đùi đến quá gót

- Buộc dây cố định nẹp ở các vị trí: Trên ổ gãy, dưới ổ gãy, đầu trên nẹp và bǎng số 8 giữ bàn chân vuông góc với cẳng chân.

- Buộc chân vào với nhau ở các vị trí: Đầu trên nẹp, ngang đầu gối và cổ chân.

siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Sơ cứu gãy xương đòn

Xương đòn có thể gãy do tác động trực tiếp. Tuy nhiên, xương đòn thường bị gãy do lực gián tiếp truyền lên theo cácnh tay sau khi ngã mà vươn bàn tay ra chống đỡ, và tình trạng này thường xảy ra sau khi ngã xuống từ xe đạp hay ngã ngược. Xương bả vai bị gãy thường là do một tác động nặng vào vùng bị sang chấn. Vì thế, điều quan trọng là phải khám cẩn thận để loại trừ chấn thương vùng lưng hoặc sườn.


Gãy xương đòn

Ngoài tiềm năng sưng, bầm và ấn đau trên vùng bị chấn thương, rất có thể nạn nhân báo cáo về cánh tay bị thương và ở bên bị thương, vai xệ xuống. Vì xương đòn nằm sát dưới da, nên điều đặc biệt quan trọng là tìm xem có bị gãy xương hở hay không.

Điều trị

Nếu xương xuyên thủng qua da, hãy đặt một miếng băng nhẹ lên trên vết thương. Có thể là chỉ chảy máu rất ít, và điều bạn cần quan tâm chính yếu là tránh nhiễm trùng.

Làm việc với người bị thương để tìm vị thế thoải mái nhất cho cánh tay và toàn thân.

Nói chung, vị trí này sẽ là ngồi thẳng lưng, với cánh tay được nâng đỡ tại khuỷu tay. Nạn nhân nên đến bệnh viện với vị thế này, nhưng cũng có thể dùng băng tréo để nâng lên, giảm áp trên xương đòn và giúp nạn nhân được dễ chịu hơn.

Gãy xương đòn thường xảy ra do bị ngã từ trên xe đạp hoặc ngã ngược hơn là tác đông trực tiếp. Hãy dùng băng chéo nâng để chịu sức nặng của cánh tay và giảm áp trên xương đòn. Điều quan trọng là phải kiểm tra xem có gãy xương hở không, vì xương đòn nằm sát dưới da nên có thể xuyên qua da dễ dàng.

Dùng băng chéo để nâng tay

Băng chéo nâng có nhiều công dụng. Vừa được dùng trong điều trị gãy xương đòn, băng này cũng giúp dễ chịu hơn trong điều trị ngòn tay và bàn tay bị gãy hay gãy nát, giúp giảm nhẹ trong điều trị vết bỏng ở cánh tay, và giúp cầm máu bằng cách nâng lên.

1. Đặt cánh tay bị thương với các ngón tay lên khoảng xương đòn ở bên không bị thương.

2. Đặt tam giác với điểm tựa ở khuỷu tay bên bị thương.

3. Gấp mép bằng bên dưới bàn tay, và bên dưới cánh tay bị thương.

4. Cột ở tại xương đòn bằng nút thắt (hay nút bướm).

5. Dùng kim ghim phần băng thừa cho chặt hoặc xoắn và giắt mối.

6. Có thể nâng đỡ thêm bằng cách xếp băng tam giác làm ba (xếp rông rồi quấn vòng quanh cánh tay và mình).

Siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com/

Sơ cấp cứu – Vết rắn cắn


Nhấn vào đây để tải về

Tác giả: Dien Tuyet
Dung lượng: 79.5 KB


Sơ cấp cứu – Vết rắn cắn
Các loại rắn hổ mang, rắn ráo… (loại Colubridae) có độc tố thần kinh.

Chỗ rắn cắn không đau lắm nhưng chân tê bại, mệt mỏi cao độ, buồn ngủ, muốn ngất, nấc, nôn, rối loạn cơ tròn…

Mạch yếu, huyết áp hạ, khó thở, hôn mê rồi tử vong sau 6 giờ.

Rắn lục (loại Vipéridae) có độc tố gây xuất huyết. Toàn chi bị rắn cắn đau dữ dội, da đỏ bầm, có những đám xuất huyết, chỗ bị rắn cắn phù (sau dễ bị hoại tử). Sau 30` đến 1h: nôn, ỉa lỏng, mạch nhanh nhỏ, huyết hạ, ngất.

Nếu bị rắn cắn sau 15-30` mà vết cắn không đau, không phù, chi bị cắn không tê bại thì không phải rắn độc cắn.

Xử trí

Đặt garo trên chỗ rắn cắn: không thắt quá chặt, không để garô lâu quá 30`.

Rạch nhẹ da ở vết rắn cắn, hút máu bằng ống giác…, rửa vết thương bằng dung dịch KMnO4 1%

Tiêm huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu hoặc toàn nǎng (ống 5-10ml): 1 ống xung quanh chỗ rắn cắn, 1 ống dưới da ở đùi bị rắn cắn. Trường hợp nạn nhân đến muộn, tình trạng thật nguy kịch không thể trì hoãn được, có thể tiêm tĩnh mạch thất chậm 1 ống (thử phản ứng trước nếu xét thời gian cho phép).

Xử trí

Nếu không có huyết thanh kháng nọc rắn:

- Tiêm dưới da xung quanh vết rắn cắn dung dịch KMnO4 1% (vô trùng) 10ml.
- Truyền tĩnh mạch dung dịch NaCl 9%o: 1500-2000ml.
- Tiêm huyết thanh kháng uốn ván SAT 1500 đơn vị dưới da và anatoxin 2ml cũng tiêm dưới da, ở vị trí khác và bằng một bơm tiêm khác.
- Kháng sinh: penicillin, streptomycin…

Xử trí
Nếu không có huyết thanh kháng nọc rắn:

- Trợ tim mạch: long não, coramin, uống nước chè nóng.
- Chống sốc và dị ứng: Depersolon 30mg x 1-2 ống tiêm tĩnh mạch.
- Nếu có tan huyết: truyền máu, vitamin C, Ca gluconat tiêm tĩnh mạch.
- Nếu ngạt: thở oxy, hô hấp hỗ trợ.

Nọc Colubridae giải phóng nhiều histamin trong cơ thể, phải chống dị ứng: tiêm pipolphen, promethazin…

- Nếu nạn nhân đau nhiều: cho thuốc giảm đau nhưng không dùng các loại opi vì có thể ức chế trung tâm hô hấp.

Cấp cứu nạn nhân ngưng hô hấp

Cấp cứu người bị ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn


Mục tiêu :
Trình bày được mục đích của cấp cứu người bị ngừng hô hấp , ngừng tuần hoàn.
Trình bày và thực hiện được kỹ thuật kiểm tra hơi thở và mạch đập .
Trình bày và áp dụng được các kỹ thuật ép tim, thổi ngạt và kỹ thuật kết hợp ép tim và thổi ngạt .

Nội dung :
Cấp cứu người bị ngừng hô hấp : (Biện pháp hà hơi thổi ngạt)
. Mục đích : cung cấp dưỡng khí cho người bị ngừng hô hấp bằng cách người cấp cứu thổi trực tiếp hơi của mình qua miệng hoặc qua mũi người bị nạn.

. Nguyên nhân : Do nhiều nguyên nhân gây nên : Sập nhà, điện giật, chết đuối …

. Các dấu hiệu ngừng hô hấp :
Da và niêm mạc tím tái nhợt nhạt.
nằm im bất động, gọi không thấy đáp ứng .
ngực không di động.
đồng tử giãn.

. Xử trí :
Kỹ thuật kiểm tra hơi thở : (trong 5giây phải có quyết định ngay)
áp má vào miệng nạn nhân không có cảm giác bệnh nhân thở.
đặt bông hoặc lông gà đặt lên mũi nạn nhân không thấy động đậy.
Đặt một chiếc gương soi trước mũi nạn nhân thấy gương trong mà không mờ.
Lồng ngực không thấy di động, kết hợp kiểm tra mạch.

Chuẩn bị dụng cụ:
Dụng cụ mở miệng: đè lưỡi, kìm mở miệng…
Gạc miếng, khăn hoặc vải sạch.
Khay quả đậu hoặc túi nilon.

Khai thông đường thở :
Đặt nạn nhân nằm ngửa, ưỡn cổ ở nơi thoáng khí trên nền phẳng cứng.
Một tay cấp cứu viên đặt lên trán nạn nhân đẩy trán lên trên ra sau và tay kia đẩy cằm nạn nhân lên trên sao cho đầu ngửa, ưỡn cổ tối đa hoặc một tay đẩy gáy lên trên sao cho cổ giãn ra, đường hô hấp trên tạo thành một đường thẳng và gốc lưỡi khỏi chèn vào vùng hầu họng.
Lấy dị vật đường thở nếu có.
Nới rộng quần áo, thắt lưng cho nạn nhân .

Hỗ trợ hô hấp :
+ Thổi ngạt miệng- miệng.
Cấp cứu viên quỳ hoặc đứng ngang đầu nạn nhân tuỳ theo vị trí nạn nhân nằm.
Giữ nạn nhân nằm ngửa, ưỡn cổ tối đa.

Một tay của cấp cứu viên đặt lên trán nạn nhân đẩy trán lên trên ra sau đồng thời ngón một và ngón hai đặt hờ hai bên cánh mũi nạn nhân, tay kia đẩy cằm lên trên và mở miệng nạn nhân ra.
Phủ một miếng gạc hoặc khăn sạch lên miệng nạn nhân.

Cấp cứu viên hít một hơi thật sâu rồi áp miệng mình trùm kín miệng nạn nhân, thổi mạnh năm lần liên tiếp ( Bịt mũi nạn nhân khi thổi) kết hợp quan sát lồng ngực nạn nhân nếu phồng lên khi thổi và xẹp xuống khi thôi thổi là làm đúng kỹ thuật, nếu chưa làm đúng cần phải tiến hành


Nhấn vào đây để tải về

Nguồn: bạch kim
Người gửi: Hà Quyết Thắng
Dung lượng: 33.5 KB


Chuẩn đoán hình ảnh cấp cứu bụng


Nhấn vào đây để tải về

Nguồn: giangduongykhoa
Dung lượng: 8.4 MB

NGỪNG TUẦN HOÀN, HÔ HẤP

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết

Nguyên nhân:

- Tai nạn
– Biến chứng bất ngờ của một bệnh

Triệu chứng

Ngừng tuần hoàn: thường báo hiệu trên máy chiếu điện tâm đồ hoặc biểu hiện lâm sàng: bất tỉnh, có khi co giật; xanh tái toàn thân, da lạnh; mất mạch bẹn và mạch cảnh; không đo được huyết áp; ngừng thở đột ngột hoặc từ từ. Khi có dấu hiệu đồng tử 2 bên giãn là triệu chứng tổn thương não nặng nề.

Xử trí:

Yêu cầu:

- Bảo đảm tuần hoàn não
– Bảo đảm tiếp oxy có hiệu quả
– Chống nhiễm toan
– Phải cấp cứu bệnh nhân ngay tại chỗ không chậm trễ một giây phút nào.
– Phải cấp cứu liên tục, không gián đoạn.
Nguyên tắc hồi sinh nội khoa là : Khẩn trương, bình tĩnh, kiên nhẫn. Hồi sinh trong hai giờ không có kết quả mới nên thôi.

Xoa bóp tim:

- Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên một nền cứng, đầu thấp, chân gác cao.
– Quỳ bên phải bệnh nhân, đặt lòng bàn tay trái ở 1/3 dưới xương ức bệnh nhân, không ấn lên xương sườn, lòng bàn tay phải đặt trên bàn tay trái. Dùng sức mạnh của 2 tay và cơ thể ấn mạnh, nhịp nhàng 60 lần/phút. Lực ấn phải đủ cho xương ức và lồng ngực bệnh nhân xẹp xuống khoảng 4cm nhưng không quá nặng tùy theo thể trạng bệnh nhân gầy hoặc béo, lồng ngực to hay nhỏ, chắc hay mềm mà xác định lực ấn.

Dấu hiệu xoa bóp có hiệu quả:

- Mỗi lần ấn, sờ thấy mạch bẹn đập.
– Huyết áp động mạch: 70-100mmHg.
– Đồng tử không giãn to do não thiếu máu.
– Sắc mặt bệnh nhân hồng hơn.

Chống chỉ định xoa bóp tim khi bệnh nhân bị vết thương ở lồng ngực, ứ máu, chảy máu màng ngoài tim, màng phổi, khí thũng phổi.

Biến chứng của xoa bóp tim:

- Gẫy xương ức, vỡ gan, vỡ lách, chảy máu màng ngoài tim, màng phổi… rất ít gặp.
– Gẫy xương sườn thường gặp hơn nhưng cần cố tránh.
– Tràn khí màng phổi có thể xảy ra nếu đồng thời vừa ấn tim vừa thổi ngạt rất mạnh.

Thổi ngạt

- Quỳ bên trái, gần đầu bệnh nhân.
– Chuẩn bị bệnh nhân: đường khí đạo của bệnh nhân phải thông suốt: lau sạch mồm họng, lấy hết dị vật, răng giả, thức ăn, đờm rãi…; cổ ưỡn tối đa, độn gối dưới cổ bệnh nhân, kéo mạnh hàm dưới ra phía trước và lên trên cho lưỡi không tụt ra sau bịt khí quản.
– Tiến hành thổi ngạt:

Bóp mũi bệnh nhân bằng ngón cái và ngón trỏ.

Đặt 1 lớp gạc mỏng ở miệng bệnh nhân được giữ cho há to.

Hít vào thật sâu, áp mồm vào mồm bệnh nhân thổi mạnh và dài hơi, làm sao cho lồng ngực bệnh nhân nở rộng ra, mỗi phút thổi 15 lần, khi thổi thì người ấn tim ngừng ấn (4 lần ấn tim, 1 lần thổi ngạt).

Thỉnh thoảng lau đờm rãi cho đường hô hấp luôn được lưu thông.

Nếu người cấp cứu chỉ có một mình thì vừa xoa bóp tim vừa thổi ngạt, cứ 15 lần ấn tim thì 2 lần thổi ngạt liền, mạnh và sâu.

Nếu bệnh nhân nôn, co giật hoặc cứng hàm thì có thể thổi vào mũi, ở trẻ nhỏ có thể thổi cả vào mũi lẫn mồm.

CẦM MÁU VẾT THƯƠNG

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết

Khi bị vết thương chảy máu, cần:

- Nâng cao phần bị thương lên,

- Dùng khăn sạch (hoặc dùng tay nếu không có khăn) ấn chặt ngay vào vết thương. Giữ chặt cho đến khi máu ngừng chảy,

- Nếu máu chảy không cầm được khi ấn chặt vào vết thương, hoặc nếu nạn nhân đang mất nhiều máu:

* Cứ ấn chặt vào vết thương,

* Giữ cho phần bị thương giơ cao lên, càng cao càng tốt,

* Buộc ga rô tay hoặc chân càng gần chỗ vết thương càng tốt. Xiết chặt vừa đủ làm máu cầm lại. Buộc ga rô bằng một cái khăn gấp lại hoặc dây lưng rộng, đừng bao giờ dùng một dây thừng mảnh, dây thép…

* Chuyển ngay nạn nhân đến cơ sở y tế.

- Chú ý:

* Chỉ buộc ga rô ở chân hoặc tay nếu máu chảy nhiều và ấn chặt trực tiếp vào vết thương mà máu không thể cầm được,

* Cứ 30′ lại nới lỏng dây ga rô một lát để xem còn cần buộc ga rô nữa hay không và để cho máu lưu thông.

* Nếu máu chảy nhiều hoặc bị thương nặng, để cao chân và đầu thấp để đề phòng sốc.

TRUY MẠCH CẤP DO MẤT NƯỚC, MẤT MUỐI

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết

Nguyên nhân: do nôn mửa, ỉa chảy, bệnh quá nặng mà bệnh nhân mệt quá không ǎn uống được.

Lứa tuổi nào cũng có thể bị, nhưng tình trạng này xảy ra nhanh và nguy hiểm hơn ở trẻ nhỏ.

Triệu chứng của mất nước:

- Đái ít hoặc không có nước tiểu, nước tiểu vàng sẫm.
– Sút cân đột ngột
– Miệng khô
– Mắt lõm, không có nước mắt
– Da kém đàn hồi hay không c
ăng
– Trẻ sơ sinh: thóp lõm.

Mất nước nặng có thể gây trụy tim mạch.

Xử trí:

- Cho bệnh nhân nằm đầu thấp. Nếu trời lạnh: sưởi ấm, đắp chăn.
– Nếu huyết áp tối đa

Truyền tĩnh mạch dung dịch NaCl 9%o 2-3 lít tốc độ 60 giọt/phút, lúc đầu có thể truyền nhanh hơn.

Vitamin C 0,10g x 5 ống.

Dung dịch muối 10% 20-40ml tiêm tĩnh mạch.

Tùy tình hình điện giải có thể bổ sung thêm clorua kali, clorua calci.

Trợ tim mạch: long não nước 0,20g tiêm tĩnh mạch 3 giờ một lần nếu cần.

- Nếu huyết áp không lấy được, mạch không bắt được, điều trị như trên, thêm:

+ Noradrenalin 1-2mg

Dung dịch glucose 5% 250ml

truyền tĩnh mạch XV-XX giọt/phút. Nếu cần có thể truyền 5 lần/ngày.

+ Depersolon 30mg x 1-2 ống tiêm tĩnh mạch.

+ DOCA 10mg x 1-3 ống tiêm bắp.

Nếu có triệu chứng nhiễm toan: truyền thêm dung dịch natri bicarbonat.

Nếu điều trị như trên mà huyết áp vẫn chưa lên: truyền thêm plasma hoặc Dextran, Moriamin 500ml.

- Nếu có điều kiện theo dõi số lượng nước mất đi do ỉa chảy và nôn. Cứ 1 lít nước mất đi do ỉa chảy phải bổ sung bằng truyền tĩnh mạch:

* 750ml dung dịch glucose đẳng trương 5%,
* 4g NaCl
* 2g KCl
*250ml dung dịch Na bicarbonat.

Nếu cần có thể cho thêm carbonat bismuth, Elixir parégorique, atropin, kháng sinh tùy theo nguyên nhân và kháng sinh đồ.

Đề phòng: Người bị mất nước phải uống nhiều nước ngay từ ban đầu, không chờ tình trạng nặng xảy ra. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ nhỏ ỉa lỏng toàn nước. Tốt nhất là dùng dung dịch Oresol, nhấp liên tục cứ 5 phút một lần, kể cả khi bệnh nhân có nôn mửa, cho đến khi bệnh nhân đi tiểu bình thường

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers