Rối loạn chức năng dạ dày

Dạ dày có nhiều chức năng trong đó hai chức năng chính là chức năng vận động và chức năng tiết dịch, khi nói đến rối loạn chức năng dạ dày là nói đến tình trạng rối loạn hai chức năng trên do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Rối loạn chức năng dạ dày chiếm một tỷ lệ khá cao trong số bệnh nhân đến khám bị rối loạn tiêu hóa và thường gặp ở các đối tượng là người trẻ ( nhất là lứa tuổi dậy thì ), người có trạng thái thần kinh dễ xúc cảm hoặc người có trạng thái rối loạn thần kinh thực vật.

1. Nguyên nhân của rối loạn chức năng dạ dày

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến rối loạn vận động và rối loạn tiết dịch của dạ dày, song có thể tóm lược làm hai nhóm nguyên nhân chính:

Rối loạn chức năng dạ dày nguyên phát: thường là do những yếu tố thần kinh tâm thần gây nên, ví dụ như sự bực tức, phẫn nộ hay sự sợ hãi, các sang chấn tâm lý ở các mức độ khác nhau…

Rối loạn chức năng dạ dày thứ phát: thường xảy ra sau các bệnh mạn tính như viêm đại tràng mạn, viêm ruột thừa mạn, viêm tụy mạn, viêm túi mật mạn,viêm gan mạn hoặc do sai lầm trong ăn uống: Ăn vội vã, nhai không kỹ, giờ giấc ăn thất thường, lao động nặng nhọc ngay sau bữa ăn, ăn nhiều gia vị, uống nhiều rượu bia…

2. Biểu hiện lâm sàng như thế nào?

Theo định nghĩa rối loạn chức năng dạ dày được chia làm hai nhóm chính:

Nhóm bệnh gây rối loạn vận động ( thường gặp là các bệnh như: Giảm trương lực dạ dày, Mất trương lực dạ dày, Giãn dạ dày cấp, Tăng trương lực dạ dày..),

Nhóm bệnh gây rối loạn tiết dịch ( với các bệnh như vô dịch vị, vô toan, tăng toan, tăng tiết)

Cũng vì vậy mà biểu hiện lâm sàng đa dạng phụ thuộc chủ yếu vào nhóm nguyên nhân, trong phạm vi bài viết này đề cập đến một số dạng thường thấy

Stomach and small intestine


Giảm trương lực dạ dày: thường xuất hiện sau chấn thương các loại; sau căng thẳng thần kinh tâm thần; bội thực sau một thời gian dài nhịn đói; sau một số bệnh lý: viêm đường mật, viêm tụy, viêm dạ dày.
Các biểu hiện chính là : mệt mỏi, giảm sức lao động, khó ngủ; cảm giác đầy bụng, ậm ạch, đau lâm râm, ăn kém, chóng no, buồn nôn, nóng rát, ợ hơi, táo, lỏng, chướng bụng;
X-quang: Dạ dày giãn dài, co bóp yếu;
Điều trị: Thể dục liệu pháp, xoa bóp, lý liệu. Ăn uống điều độ. Dùng thuốc vận động và vitamin nhóm B.

Giãn dạ dày cấp: thường xuất hiện sau chấn thương ổ bụng (mổ, vết thương); viêm tụy có mủ; Ăn hoặc uống quá mức kéo dài.
Biểu hiện chủ yếu : Đau thượng vị dữ dội, đột ngột như đau bụng cấp; hoặc đau bụng âm ỉ, ậm ạch; nôn nhiều, kéo dài gây rối loạn nước và điện giải, có thể dẫn đến tử vong.
X-quang: dạ dày giãn to, ứ đọng thức ăn, dịch.
Cần điều trị ở tuyến chuyên khoa.

Tăng trương lực dạ dày: nguyên nhân do chấn thương tâm thần, nhiễm độc chì, thiếc mạn tính; trong các cơn đau quặn gan, thận; Trong bệnh viêm loét dạ dày, đại tràng.
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu: đau thượng vị thường xuyên, tăng khi xúc động, khi lao động; buồn nôn, nôn, ợ chua, ợ hơi;
X-quang: dạ dày hình sừng bò.

Điều trị: Kiêng ăn uống các chất kích thích mạnh, dùng thêm sinh tố, an thần, chống co thắt cơ trơn.

Figure 1. External and internal anatomy of the stomach of man (Tortora and Grabowski, 1996).

Figure 2. Histology of the stomach. a three-dimensional view of layers of the stomach (Tortora and Grabowski, 1996).

Co thắt môn vị: nguyên nhân do loét dạ dày tá tràng, polyp dạ dày; viêm dạ dày tăng toan; viêm đại tràng mạn; nghiện thuốc lá nặng; thiếu vitamin B1.
Triệu chứng: đau hạ sườn phải giống đau quặn gan; nôn nhiều gây rối loạn điện giải, kiềm máu; có thể sờ thấy một khối u rắn ở hạ sườn trong cơn đau;
X-quang: ứ đọng baryt ở dạ dày.
Điều trị: Ăn uống nhẹ tránh các chất kích thích; dùng thuốc an thần, giãn cơ và truyền dịch khi nôn nhiều.

Chậm tiêu: bệnh cảnh lâm sàng chính là cảm giác đau và khó chịu vùng bụng nhất là vùng thượng vị sau ăn bao gồm nhiều mức độ khác nhau từ cảm giác khó chịu, nóng ran, đau tức hoặc cảm giác căng tức, bệnh nhân có cảm giác mau no,buồn nôn và nôn. Các triệu chứng kéo dài trên 3 tháng với ít nhất trên 3 đợt.

Tăng toan: xuất hiện do căng thẳng thần kinh, tâm thần, nghiện thuốc lá; Loét dạ dày, hành tá tràng, viêm dạ dày giai đoạn đầu.
Biểu hiện : Đau thượng vị, cảm giác nặng bụng, HCl tự do tăng trên 40mEq.
Điều trị: Ăn uống điều độ, bỏ thuốc lá. Dùng các thuốc giảm tiết, băng se niêm mạc dạ dày, sinh tố, an thần.

Bệnh Achili (vô dịch vị): là tình trạng dịch vị thiếu: HCl + Pepsin thực thể và chức năng. Nguyên nhân do căng thẳng thần kinh, nhiễm độc kim loại, rượu ; Sau các bệnh dạ dày, ruột; Sau nhiễm trùng mạn (lao, Brucedlose);

Bệnh hệ thần kinh, thiếu sinh tố.
Biểu hiện lâm sàng: cảm giác nặng bụng, nóng rát, đau âm ỉ, có lúc nhói vùng thượng vị; buồn nôn, nôn mửa, ăn mất ngon; Ỉa lỏng, sống phân (phân mỡ: steatore);
Gầy sút, lưỡi bóng đỏ, thiếu máu, chảy máu vết ấn răng trên lưỡi;
Dịch vị: không có HCl + Pepsin.
Điều trị: chế độ ăn tùy theo từng bệnh lý, dùng dung dịch pepsin và HCl 1% uống, sinh tố, an thần.

theo http://www.benhhoctieuhoa.com

Posted on February 22, 2009, in Nội Khoa - tiêu hóa. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: