Muốn cho khỏe

Muốn cho khỏe thì phải loại trừ những nguyên nhân làm cho cơ thể con người YẾU. Có năm nguyên nhân làm cơ thể yếu là:

1. Do dị tật bẩm sinh

2 Do thiếu dinh dưỡng

3. Do vi khuẩn có hại và chất độc xâm nhập

4. Do các yếu tố vật lý bất lợi

5. Do Thần linh.

Vậy làm sao để cho con người khỏe mạnh? Chỉ có cách duy nhất là PHÒNG BỆNH – Loại bỏ kịp thời các nguyên nhân gây bệnh.

Trước tiên là vấn đề ăn, uống, thở.

I . ĂN, UỐNG, THỞ

1.1 Ăn là gì ?

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì ăn là đưa thức ăn vào miệng và nuốt để nuôi dưỡng cơ thể, từ ăn được gắn với các từ khác tạo thành 553 nghĩa khác nhau. Con người ăn ngay từ khi còn trong bụng mẹ, khi trứng được thụ tinh đã ( ăn ) bằng cách lấy dinh dưỡng từ người mẹ rồi lớn dần lê. Phôi thai ăn thông qua nhau thai ở rốn. Dinh dưỡng của người mẹ sẽ nuôi bào thai cho đến khi bào thai chào đời, khi chào đời, trẻ sơ sinh ăn sữa mẹ…



Khi lớn lên cơ thể người được cấu tạo bởi10 ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­12 đến 10 ­14 tế bào, ­­trong quá trình sống thì nhiều tế bào chết đi và nhiều tế bào sinh ra, do đó cần phải có ĐỦ nguyên liệu để tạo ra tế bào, phải có đủ năng lượng và dưỡng chất để tế bào sống và làm việc, vì vậy phải thường xuyên cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Muốn có tế bào phải có thức ăn, thức ăn tạo tế bào xương, thịt, nơ ron thần kinh, tinh trùng, enzym và hooc mon… các enzym và các hooc mon còn giúp cơ thể bảo vệ sức khỏe. Muốn đến tình yêu cũng phải qua dạ dày là vì vậy.



Khi cơ thể được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, hệ tiêu hóa, hô hấp và hệ bạch huyết sẽ biến chất dinh dưỡng thành máu, sau đó hệ tuần hoàn có nhiệm vụ đưa máu tới tất cả các tế bào. Nếu có đủ máu nhưng hệ tuần hoàn làm việc kém hoặc các mạch máu bị nghẽn, máu không đến được các tế bào thì cũng trở lên vô ích.

1. 2. Thức ăn là gì ?

Thức ăn là tất cả những chất cần cho cơ thể tồn tại và phát triển, những thứ này giới chuyên môn gọi là Dinh Dưỡng.


Người ta tạm chia sinh vật trên trái đất thành hai loại: sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng. Sinh vật tự dưỡng chủ là thực vật – là những nhà máy sinh học tinh vi nhất, chúng dùng năng lượng của thiên nhiên là các hạt vũ trụ để biến CO2 thành O2 và Các bon. Chúng thải O2 ra ngoài không khí để động vật hô hấp còn lại C cùng với các nguyên tố hóa học tự nhiên được hút từ đất lên chúng tổng hợp thành các hợp chất hữu cơ như đường, mỡ, đạm và hàng ngàn hợp chất hữu cơ khác. Các sinh vật DỊ DƯỠNG lại ăn các hợp chất hữu cơ do sinh vật tự dưỡng tổng hợp. Như vậy có nghĩa là con người trực tiếp ăn thực vật và động vật – gián tiếp ăn tất cả các chất có trong tự nhiên.


Vậy trong tự nhiên có bao nhiêu chất? Cho đến năm 2005, con người mới phát hiện trên trái đất có 94 nguyên tố hóa học tự nhiên và 22 nguyên tố tìm thấy bằng máy gia tốc hạt trong phòng thí nghiệm ( tổng số là 116 ). Bằng kiến thức và thiết bị phân tích hiện có, con người mới tìm được trong thực vật có 74 nguyên tố hóa học tự nhiên, trong con người có 50 chất gồm cả các chất độc như nhôm, chì, thủy ngân và asen. Tin rằng khi có đủ điều kiện và phương pháp phân tích, lúc đó con người sẽ tìm được đủ các nguyên tố hóa học trong tự nhiên ở thực vật và con người.

1.3. Ăn bao nhiêu cho đủ

Tìm xem có bao nhiêu chất có trong thức ăn đã khó, biết được con người cần bao nhiêu chất càng khó, vậy thì làm sao mà biết được ăn bao nhiêu là đủ.Nếu ăn nhiều sẽ bị rối loạn tiêu hóa và rối loạn dinh dưỡng dẫn đến bệnh, thậm chí bội thực mà chết, nếu ăn ít thì bị suy dinh dưỡng cũng chết do đó phải ăn đủ để tạo ra sự cân bằng trong cơ thể.



Vậy làm sao để tạo ra sự cân bằng ?

Nguyên lý của sự tồn tại và phát triển là Cân Bằng. Trái đất muốn tồn tại phải có sự cân bằng giữa lực ly tâm và hướng tâm…Ngay từ những năm 460 trước công nguyên, Hippocrats – ông tổ của Y học Hy lạp đã nêu nên thuyết cân bằng của 4 thể dịch: Máu, đờm, mật đen, mật vàng. Triết học Phương đông thì đưa ra thuyết cân bằng Am Dương. Mặc dù y học châu Âu, Ấn Độ và Trung Quốc rất khác nhau, nhưng tất cả đều xem sự cân bằng của cơ thể là yếu tố quyết định đến sức khỏe con người.



Xin đưa ra công thức cân bằng như sau:

G v =g 1 + g 2 + g 3 + g 4

Trong đó:

G v : là tổng các chất vào cơ thể qua miệng, mũi, da.

g 1 : là tổng các chất dinh dưỡng cần thiết để tạo tế bào mới thay cho các tế bào đã chết.

g 2 : là tổng các chất dinh dưỡng cần cho các tế bào sống.

g 3 : là tổng các chất ding dưỡng dự trữ tại các mô.

g 4 : là tổng các chất ding dưỡng và vật lạ bị thải loại qua hệ bài tiết và tiêu hóa.

Nếu:

1.G v =g 1 + g 2 + g 3 + g 4 …thì con người ở trạng thái tồn tại và phát triển bình thường.

2.G v >g 1 + g 2 + g 3 + g 4…thì con người bị rối loạn chuyển hóa dương, tức là sinh ra nhiều bệnh khó chữa như béo phì, tim mạch, cao huyết áp, vô sinh thứ phát, ung thư… và dễ chết đột tử.

3.G v 1 + g 2 + g 3 + g 4 …thì con người bị suy dinh dưỡng, bị rối loạn chuyển hóa âm dẫn đến lao lực, HIV và nhiều bệnh phổ thông.



Ăn bao nhiêu?

Tạm thời người ta mới tìm ra khoảng hơn 100 chất chia thành các nhóm dinh dưỡng đa lượng, vi lượng, siêu vi lượng đó là : Nước, Protit, lipít, gluxit ; Khoáng chất ; các Vitamin ; Các axít amin. Căn cứ vào năng lượng sản sinh từ Protit, đường và mỡ, kết hợp với số năng lượng tiêu hao của từng công việc người ta tạm xây dựng các khẩu phần ăn cho các lứa tuổi, các công việc khác nhau. Có 2 cách tính nhu cầu chất dinh dưỡng lớn cho cơ thể, đó là tính theo 1 kg thể trọng và tính theo tổng nhu cầu năng lượng, nhưng theo tôi dùng cách tính theo kg thể trọng là tốt nhất.


LƯỢNG NHU CẦU HÀNG NGÀY VỀ DINH DƯỠNG

Đơn vị là gam trên 1 kg thể trọng

ĐỘ TUỔI

NĂNG LƯỢNG KCAL/KG

NƯỚC ML/KG

PROTEIN G/KG

LIPIT G/KG

ĐƯỜNG G/KG

1 tháng

119 -120

130 – 160

3.5

6

12

6 tháng

100 – 110

120 – 150

3.5

4

12

1 tuổi

90 – 100

110 – 130

3.0

3.5

12

4 tuổi

80 – 90

90 – 100

2.5

3.0

15.5

7 tuổi

70 – 80

70 – 90

2.0

2.5

13

10 tuổi

60 – 70

60 – 85

1.8

2.5

13

13 tuổi

50 – 60

50 – 65

1.7

2.5

10

15 tuổi

40 – 50

45 – 55

1.4

2.5

10

Người lớn

40 – 45

40 – 50

1.0

2.5

10

Căn cứ vào độ tuổi và trọng lượng của mỗi người ta có thể tính được nhu cầu một số chất dinh dưỡng cần cung cấp trong ngày.


Ví du: một trẻ 15 tuổi có trọng lượng 50 kg thì:

– Nhu cầu năng lượng là 50 kg x 45 kcal = 2 250kcal

– Nhu cầu nước là 50 kg x 50 ml = 2 500ml

– Nhu cầu chất đạm là 50 kg x 1,0g = 50gam

– Nhu cầu lipit ( mỡ ) là 50 kg x 2,5 g = 125gam

– Nhu cầu gluxit ( đường ) là 50kg x 10g = 500gam

Từ nhu cầu này kết hợp với bảng thành phần dinh dưỡng ta sẽ xây dựng khẩu phần ăn cho phù hợp.


THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG MỘT SỐ THỨC ĂN THÔNG THƯỜNG

Lượng tính cho 100 g

Tên thức ăn

NL.

Kcalo

Protein

Chất béo

Đường

Gạo tẻ

347

7,9

0,6

77,5

0,8

Cơm gạo tẻ

114

2,5

0,2

25,6

0,4

Thịt lợn

395

13,2

37

6,8

0

Đậu phụ chiên

140

16,2

3,6

10,7

0,8

Giá đậu

18

2,1

0,1

2,1

0,8

Trứng gà sống

138

12,7

9,0

1,5

0

Cá trắm sống

112

16,6

5,2

0

0

Tôm sống

79

16,8

0,6

1,5

0

Rau muống

20

2,2

0,3

2,0

1,4

Sữa bò

54

3,0

3,2

3,4

0

( Muốn tìm hàm lượng dinh dưỡng chín ta lấy hàm lượng tươi giảm đi 30 %)

1.4. Ăn như thế nào cho đủ lượng và chất

Ăn thế nào cho đủ lượng và chất là một vấn dề cực kỳ nan giải, nó làm đau đầu các nhà nghiên cứu về sinh hóa và dinh dưỡng bởi lẽ cho đến nay con người vẫn không thể biết được cơ thể cần bao nhiêu chất và mỗi độ tuổi, mỗi công việc, mỗi hoàn cảnh, mỗi kg thể trọng của nam, của nữ cần số lượng từng chất là bao nhiêu.



Tuy mới tìm được gần 50 nguyên tố hóa học tự nhiên và hơn 100 hợp chất có trong cơ thể nhưng con người vẫn chưa biết hết được vai trò sinh học của chúng. Chính từ những hạn chế này làm cho việc bảo vệ sức kỏe con người không đạt được kết quả mong muốn.



Trong lĩnh vực ăn, hiện loài người có hai trường phái: ăn chay và ăn mặn. Ăn chay là chỉ ăn thực vật, ăn mặn là vừa ăn động vật, vừa ăn thực vật. Xét thấy cả hai trường phái đều đúng về mặt nguyên lý sinh học.

Trường phái ăn mặn nghiêng về phía các bác sỹ dinh dưỡng thì cho rằng vì thực vật không đủ dinh dưỡng, thiếu các axít amin cần thiết nên con người phát triển không tốt. Nói như vậy là sai vì thực vật không chỉ có những axít amin có thể thay thế mà có cả những axít amin không thể thay thế, có protit, có lipit, gluxit, nước,. khoáng chất… cho nên có nhiều người ăn chay là khoa học gia, chính trị gia, văn nghệ sỹ như: Nhà toán học nổi tiếng Pythagore, vị lãnh đạo của Ấn Độ Mohanada Gandhi, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng Albert Einstein, danh họaLéonard de Vinci….


Trường phái ăn chay cho rằng ăn mặn bị bệnh hiểm nghèo, ý kiến này không đúng, nguyên nhân gây bệnh là do con người ăn động vật có chất độc và động vật bị bệnh. Nếu động vật chỉ ăn thực vật và các chất trong tự nhiên chắc chắn sẽ không có chất độc trong động vật. Các nhà chuyên môn quên một nguyên lý là : Thức ăn của thực vật có nguồn gốc tự nhiên, thức ăn của một số động vật và Người là thực vật, do đó họ đã dùng sự hiểu biết hữu hạn của mình can thiệp vào tự nhiên vô hạnbằng cách tổng hợp ra gần 300 hóa chất như thuốc tăng trưởng, hooc mon, Vitamin…, bón cho động, thực vật. Chính các hóa chất không có nguồn gốc tự nhiên đó gây bệnh cho động vật rồi con người lại ăn những chất độc đó từ động vật và sinh bệnh. Naturophathy – liệu pháp tự nhiên – là một nghành y học dựa trên việc chỉ dùng các chất thiên nhiên để trị bệnh cho rằng : Các chất không thiên nhiên được cho là nguồn gốc của hầu hết các bệnh.



Vì vậy muốn có đủ chất dinh dưỡng phải thường xuyên ăn đủ lượng nhiều loại thức ăn vô hại ( không có độc tố ) khác nhau có trong tự nhiên hoặc được nuôi trồng tự nhiên. Đồng thời phải giảm thất thoát dinh dưỡng tới mức thấp nhất trong quá trình sơ chế thức ăn. Ăn đủ chất dinh dưỡng nhưng phải đưa các chất dinh dưỡng tới tất cả các tế bào của cơ thể. Đây là yếu tố quyết định tới hiệu quả của việc ăn. Thảo dược tốt nhất giúp đưa chất dinh dưỡng tới các tế bào của cơ thể là Gừng



2. UỐNG

Nước nguyên chất có công thức phân tử là H 2 O, là thành phần lớn nhất cấu thành cơ thể. Hàm lượng nước trong cơ thể nam chiếm 60 %, trong nữ chiếm 50 %. Hàm lượng nước ở trẻ em cao hơn người lớn, người già thấp hơn thanh niên. Nếu lượng nước trong cơ thể mất đi 20 % thì con người không thể sống được.

Nước có chức năng :


Làm dung môi cho chất dinh dưỡng, giúp cho việc hấp thu và vận chuyển thức ăn trong cơ thể.

Làm dung môi cho các chất chuyển hóa, giúp thải cặn bã ra ngoài cơ thể kịp thời.

Là thành phần chính của hệ keo trong cơ thể và giúp cho việc hình thành và ổn định hệ keo.

Ẩn nhiệt của nước lớn, hàm lượng nước trong dịch thể và trong máu lớn để điều tiết thân nhiệt.

Nước làm cho các cơ quan hoạt động bình thường.

Nếu uống không đủ nước thì các cơ quan hoạt động khó khăn, nếu uống quá nhiều nước sẽ làm cho dịch tiêu hóa loãng, làm suy yếu chức năng tiêu hóa, thậm chí gây ngộ độc nước.

Vậy uống nước nào là tốt. Hiện có rất nhiều loại nước khác nhau, nước tinh khiết được lọc bằng sứ nhằm loại bỏ các tạp chất và vi khuẩn, nước máy được lắng lọc và khử trùng bằng Flo, nước đun sôi để nguội, nước ép hoa quả,… nhưng tốt nhất là uống nước ép thảo dược vì nó vừa bổ dưỡng, kháng khuẩn và chống lão hóa, nếu không thì nên uống nước đun sôi để nguội vì nó có nhiều khoáng chất mà lại không có hóa chất tiệt trùng.

3. THỞ

Không khí sạch có thành phần cơ bản gồm 78,08 % N2 , 20,95% O xy, 0,94 % các loại khí trơ, 0,03% Khí CO 2 , hơi nước, các tạp chất như bụi, khí độc… Hãy thở không khí trong lành bình thường

III. PHÒNG BỆNH


Muốn không có bệnh thì phải loại trừ các nguyên nhân gấy bệnh. Như chúng ta đã biết, thế giới này tồn tại dựa trên nguyên lý cân bằng theo vòng tuần hoàn của tự nhiên, không có cái nào quyết định cái nào, điều này dân gian đã đúc kết qua câu nói của anh Hề: “ Trời sợ mây, mây sợ gió, gió sợ bờ tường, bờ tường sợ chuột cống, chuột cống sợ mèo già, mèo già sợ hề, hề sợ quan, quan sợ vua, vua sợ Trời, Trời sợ mây…..”. Tôn đại thánh giỏi như vậy nhưng đã có vòng kim cô để chế ngự, nếu không có vòng kim cô thì trái đất sẽ tan tành trước bàn tay của Tề thiên.


Trời sinh ra bệnh SIDA thì Trời lại sinh ra mướp đắng có protein MP-30 chống lại HIV, trời sinh ra vi rút H5N-1 thì trời lại sinh ra Hoa hồi có acid shikimik chống lại vi rút cúm H5N1….


Điều này là quy luật vì nếu có một loại nào đó vô địch thế giới thì trái đất không tồn tại, nếu có một loại vi khuẩn gây bệnh nào đó không có biện pháp nào diệt nổi thì không còn trái đất, có nghĩa là mọi bệnh tật đều có cách chữa được, các chất chữa bệnh đó đều có ở trong thiên nhiên là cây cỏ và khoáng chất. Chỉ có điều khi nào thì tìm ra chúng.


Tạo hóa tạo ra con người một cách cực kỳ hoàn chỉnh trên nguyên lý cân bằng. Trong mỗi con người đã sẵn có Hai hệ bảo vệ : Thứ nhất là hệ enzym tu sửa các sai lệch trong cấu trúc AND đã mắc phải, thứ hai là Hệ enzym và chất chống oxy hóa ngăn chặn các nguyên nhân sai lệch.


Hệ ngăn chặn sai lệch chia thành hai tuyến: Tuyến thứ nhất nằm tại tất cả những nơi tiếp xúc giữa cơ thể với môi trường bên ngoài gồm nước bọt, mồ hôi, chất nhờn, chất nhày, dịch trong âm đạo, nước tiểu, lông rung, ráy tai để tiêu diệt và loại vật thể lạ khi chúng mới xâm nhập vào cơ thể. Tuyến thứ hai ở trong cơ thể đó là các chất chống Oxy hóa, các kháng thể, tế bào lympho T, tế bào limpho B, gây ra các phản ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu để tiêu diệt các vật lạ đã vượt qua được tuyến bảo vệ thứ nhất.


Muốn cho hệ thống tự bảo vệ cơ thể làm việc tốt thì ta phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để các hệ thống này có đủ cơ chất để làm việc đúng chức năng của chúng.

1. Chống nhiễm độc, nhiễm vi khuẩn và kịp thời thải loại chúng

1.1. Chống nhiễm độc và thải loại chất độc

Chất độc xâm nhập cơ thể sẽ phá hủy tế bào, nếu nhiễm nhiều sẽ gây tử vong, nếu nhiễm ít sẽ nhiễm độc mãn làm rối loạn chuyển hóa và sẽ tích tụ trong mô cơ, mô mỡ gây dị biến thai nhi, vô sinh ung thư và nhiều bệnh nan y khác.


Cho đến nay giới chuyên môn đã tổng hợp được hơn 90.000 chất hóa học khác nhau, những chất hóa học này được dùng cho việc chế ra các hàng công nghiệp, nuôi trồng, hàng tiêu dùng và chế vào thực phẩm.


Để hạn chế độc hại, các nhà chuyên môn đã khống chế hàm lượng trong sản phẩm bằng cách đưa ra những giới hạn an toàn, nhưng qua một thời gian thì những giới hạn đó không thực sự đảm bảo an toàn cho con người. Thực tế đã chứng minh: những chất do con người tổng hợp khi nhiễm vào cơ thể đều gây hại cho sức khỏe. Đúng như dự đoán của giới khoa học phương tây: Nền văn minh tăng nhưng nhân loại thoái bộ vì: Sau mỗi một thành công của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào cuộc sống là một thảm họa cho loài người:


Khi nghiên cứu ra một loại sản phẩm nào đó, con người không lường hết được tác hại của nó nên đã đưa ra những biện pháp ngăn ngừa chủ quan và không toàn diện dẫn đến những hậu quả thảm hại.


Có thể nói, hiện nay con người đang tắm và tẩm chất độc vì chất độc có trong không khí, nước và tất cả các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng và thực phẩm. Chất độc xâm nhập cơ thể qua : Thực quản – ăn uống, qua khí quản – thở , qua da.


Để ngăn ngừa nhiễm độc chúng ta phải ăn sạch, uống sạch, thở sạch và hạn chế tiếp xúc với chất độc. Khi có nhiễm độc phải kịp thời loại bỏ chất độc khỏi cơ thể.


1.2. Làm sao loại bỏ được chất độc một cách kịp thời ?

Con người không thể biết được chất độc xâm nhập cơ thể lúa nào, số lượng bao nhiêu, loại gì do đó cách loại trừ chất độc tốt nhất là ăn hoặc uống nước ép thảo dược hàng ngày vì thảo dược có khả năng thải độc tốt nhất, các chất có trong thảo dược không chỉ thải chất độc ra ngoài mà còn làm mất tác dụng của chất độc.

2. Chống nhiễm vi sinh vật có hại và kịp thời tiêu diệt khi chúng xâm nhập cơ thể.

Vi khuẩn

Vi khuẩn có nhiều loại khác nhau

A. Hình que – trực khuẩn – Bacillus

B. Hình cầu – coccus, tạo thành chuỗi – streptococuccus

C. Hình cầu tạo đám – staphylo

D. Hình tròn sóng đôi – deplo

Song cầu khuẩn – deplocococus

E. Hình xoắn – Xoắn khuẩn – spirillum, spirochete

F. Hình dấu phẩy – phẩy khuẩn ( vibrio)

Để nhận biết vi khuẩn, người ta dùng biện pháp nhuộm màu Gram – tên của nhà vi trùng học Hans christan Gram. Nếu vi khuẩn bắt màu thì gọi là Vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn không bắt màu gọi là Vi khuẩn Gram âm .Vi khuẩn có loại có hại và có loại vô hại. Khi vi khuẩn có hại xâm nhập cơ thể chúng sẽ tiêu diệt tế bào, gây rối loạn chuyển hóa, sinh ra độc tố để tiêu diệt tế bào. Vi khuẩn có kích thước rất nhỏ từ 0,2 micromet đến 5 micromet chúng ở khắp mọi nơi, trong nước, không khí, trên đồ dùng hàng ngày.


Mỗi lần thở ta hít vào vài nghìn vi khuẩn. Trên da người có hơn 100 triệu vi khuẩn với 250 loài khác nhau. Điều đáng buồn là các hóa chất do con người tạo ra đã làm cho các vi khuẩn biến tính khó tiêu diệt. Trong điều kiện thuận lợi vi khuẩn phát triển theo cấp số nhân, một con vi khuẩn sau 20 phút sinh ra 2 con, sau 40 phút sinh ra 4, sau 60 phút sinh ra 16, sau 80 phút sinh ra 256, sau 100 phút sinh ra 65 536, sau 120phút sinh ra 4.294 967 296 vi khuẩn.


Khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể chúng sẽ sinh nở đạt tới một số lượng gây bệnh, thời gian này gọi là thời kỳ ủ bệnh. Chúng ta chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn một cách hữu hiệu khi chúng mới xâm nhập hoặc còn ít bằng cách uống nước giải khát thảo dược mỗi ngày. Có những thảo dược diệt được cả vi khuẩn gram âm và gram dương.


Vi rút:


Vi rút
là những vi sinh vật siêu hiển vi có kích thước từ 20 nm đến 500 nm, chưa có cấu tạo tế bào, chỉ gồm 2 thành phần cơ bản là vỏ protein – gọi là Capsid, và vật chất di truyền ADN hoặc ARN ( một mạch hoặc hai mạch), một số vi rút phức tạp có thêm màng bọc là lipopolisaccharit hoặc lipoprotein, có thể thêm enzim đặc trưng.


Vi rút là vi sinh vật ký sinh bắt buộc, chỉ sinh trưởng nhân lên trong tế bào chủ đang có trao đổi chất, khi ở ngoài cơ thể chủ, vi rút tồn tại ở trạng thái phân tử khổng lồ nucleocapsid có tính gây nhiễm. Một số vi rút trong những điều kiện nhất định có thể hình thành tinh thể, vì vậy đôi khi còn gọi là vi rút hạt

. Hình dạng và kích thước Vi rút

Một chỉ số quan trọng quyết định gây nhiễm vi rút là tỷ số giữa số lượng vi rút và tế bào chủ, đượcgọi là ngưỡng lây nhiễm:

V

M = ———-

N

M – là ngưỡng lây nhiễm

V – là số lượng vi rút có thể lây nhiễm

N – là số lượng tế bào chủ ứng với vi rút gây độc.

Nhiều thực nghiệm xácđịnh để nhiễm bệnh tế bào thực vật cần tới 105 hạt vi rút ( qua vết xước, lông , nếu tiêm chích thì cần ít hơn). Để lây nhiễm cho tế bào thực vật thì cần 10 – 100 hạt vi rút, với vi khuẩn, chỉ số này là 1-10 hạt.


Vì vi rút nhỏ và thường sống ký sinh trên vi khuẩn nên rất dễ nhiễm vào cơ thể trong mọi điều kiện và mọi hoàn cảnh.


Cách chống nhiễm khuẩn tốt nhất là khử trùng mọi đồ vật và đồ ăn, thức uống, tránh xa các khu vực có dịch bệnh và khi bị nhiễm khuẩn phải tìm cách tiêu diệt kịp thời, không cho chúng phát triển bằng cách uống nước thảo dược thường xuyên.

IV. Chống lại tác động của các yếu tố vật lý

Vật lý là các hình thái và các cơ cấu vận động của vật chất và phi vật chất trong tự nhiên. Yếu tố vật lý sẽ tác động tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Các hiện tượng vật lý gồm: Vi khí hậu, cơ học, sóng điện từ, phóng xạ, sóng âm.


Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp, gồm nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động không khí.


+ Nhiệt độ cao. Cơ thể người có nhiệt độ không đổi trong khoảng 37o C ± 0,5 là nhờ trung tâm điều khiển nhiệt. Khi nhiệt độ cao, cơ thể thải nhiệt bằng cách dãn mạch ngoại biên và tăng tiết mồ hôi. Chuyển 1 lít máu từ nội tạng ra da thải được 2,5 kcal và nhiệt độ hạ được 3 o C. Một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải được 580 Kcal. Khi trời lạnh, cơ thể tăng sinh nhiệt, hạn chế thải nhiệt.


THANG CẢM GIÁC NHIỆT ĐỘ THEO NHIỆT ĐỘ DA TRÁN

Nhiệt độ da trán o C

Cảm giác nhiệt

Nhiệt độ da trán o C

Cảm giác nhiệt

28 – 29

29 – 30

30 – 31

Rất lạnh

Lạnh

Mát

Dễ chịu

31,5 – 32,5

32,5 – 33,5

> 33,5

Nóng

Rất nóng

Nóng ngạt

Chuyển hóa nước. Trong cơ thể người ở trạng thái bình thường có sự cân bằng giữa nước ăn uống 2,5 – 3 l/ngày và nước thải ra 1,5 l qua thận, 0,2 l qua phân, còn lại theo mồ hôi và hơi thở ra ngoài. Kèm theo mồ hôi, cơ thể mất 20 g muối, và các chất khoáng như I, K, Na, Ca, Fe… và một số sinh tố như C, B…Do mất nước nên khối lượng máu, tỷ trọng, độ nhớt của máu thay đổi, tim làm việc nhiều và chức năng của thận ảnh hưởng, dịch vị bị loãng nên mất cảm giác thèm ăn, ăn mất ngon, chức năng tiệt trùng của dịch vị hạn chế làm cho dạ dày, ruột dễ bị viêm nhiễm, chức năng chống độc của gan giảm. Chức phận của hệ thần kinh ảnh hưởng.


Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp. Da trở lên xanh lạnh, nếu nhiêt độ da dưới 33 o C. Lạnh làm giảm nhịp tim và nhịp thở nhưng mức tiêu thụ Oxy cao do cơ và gan làm việc nhiều để chuyển hóa sinh nhiệt. Nếu lạnh nhiều, cơ vân và cơ trơn co lại theo kiểu rét run, nổi da gà nhằm sinh nhiệt để chống rét. Lạnh làm giảm sức đề kháng miễn dịch gây ra các bệnh đường hô hấp.


Vì vậy chúng ta không nên làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao hoặc thấp quá. Hạn chế vận động nặng, nếu mất nhiều nước ta phải kịp thời bổ sung nước và các chất dinh dưỡng đã bị mất.


Tác động cơ học. Tác động cơ học như va đập sẽ gây chấn thương, dập nát một phần hoặc toàn bộ cơ thể, vì vậy phải có thiết bị bảo vệ trong các môi trường có nguy cơ va chạm mạnh.


Bức xạ điện từ. Là những sóng điện từ, các hạt từ vũ trụ, vật phát nhiệt như tia hồng ngoại… Tia hồng ngoại có bước sóng 400 – 700 nm, tia hồng ngoại có sức rọi sâu vào da tới 3 cm làm bỏng da, có thể xuyên qua xương sọ vào tổ chức não, làm cơ thể dễ bị say nắng. Tia hồng ngoại còn làm đục nhân mắt, mù mắt.


Tia tử ngoại UV có bước sóng từ 400 – 7,6 nm, được chia làm 3 loại: UV A có bước sóng từ 400-315 nm, UV B có bước sóng từ 315 – 280 nm, UVC có bước sóng dưới 280 nm có tác dụng tiệt trùng mạnh. Tia tia X có bước sóng từ 10 nm đến 100 picomet, tia gama có bướcsóng


– Chất phóng xạ hạt nhân và các tia phóng xạ.


Để đề phòng các bệnh do bức xạ điện từ ta không nên đi đầu trần vào những lúc có cường độ nắng cao, nên tránh xa các vùng có bức xạ điện từ, chất phóng xạ, tránh xa vùng phủ sóng vô tuyến , ra da… hạn chế sử dụng sóng điện thoại di động. Có một loại thảo dược có khả năng thải loại chất phóng xạ rất tốt đó là cây giền tía. Cây này được ghi vào sách đỏ và đang được bảo tồn hạt giống tại Mỹ và nhiều nước khác.


Tiếng ồn có tần số và cường độ cao hơn ngưỡng cho phép sẽ ảnh hưởng tới thính giác, gây rối loạn cơ quan thần kinh, làm thay đổi sự hoạt động của hệ thống tim mạch.


Chấn động cũng là yếu tố làm ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, giảm thị lực, làm rối loạn chức năng sinh dục ở nữ, làm liệt dương ở phái nam. Nếu chấn động với tần số 20 hz và biên độ 1,6 mm sẽ làm giảm độ tinh của mắt tới 40 %.


Cách chống lại tác động của các yếu tố vật lý là:

– Uống nước sạch

Tránh đi nắng vào giờ cao điểm từ 9 giờ đến 16 giờ.

Tránh và tìm các loại trừ điều kiện làm việc có tiếng ồn, tránh hoặc có biện pháp chống lại bụi, sóng điện từ và các tia bức xạ. không nên ngồi gần và đối diện với máy thu hình và màn hình máy vi tính. Nên để màn hình máy tính lệch khảong 10 độ.

Hạn chế làm việc lâu trong phòng lạnh.

Không nên ngồi làm việc quá lâu mà phải đi lại để tăng cường lưu thông máu.

V. Yếu tố thần linh

” Phú quý là cạm bẫy của trời,
bần hàn là trường học của trời,
hoạn nạn là roi vọt của trời”
Cổ ngữ

Khi làm bậy thì Trời Phật, Thánh Thần sẽ trị và đã trị thì không người trần mắt thịt nào có thể cứu chữa nổi. Tâm linh là một vấn đề tế nhị và ít có tài liệu nghiên cứu công khai, nhưng ta có thể hiểu một điều rất đơn giản theo thuyết nhân quả của Nhà Phật : Hãy sống thiện.


Không một “bề trên” nào bảo vệ và bênh vực cho kẻ ác, ông, bà, cha mẹ và người thân khi còn sống luôn vì con cái “ cá chuối đắm đuối vì con”…, sẵn sàng nhịn cho con ăn, nâng niu ấp ủ con, nhưng khi con hư thì sẵn sàng quát, cho vài bạt tai, cho vài roi nhằm rèn cho con trở thành người tốt. Khi quá cố không một ai hại con cháu, nhưng cũng sẵn sàng làm cho con cháu điên lên, làm con cháu bị bệnh để rèn con cháu sống tốt hơn.


Người viết mới nghe một nữ bác sỹ ở Lạng Sơn cho biết: Chị học khóa 1 khoa sản trường đại học Y Khoa Hà nội, nay về hưu lại đi theo nghề tâm linh gọi hồn, chị đã đọc một tài liệu tâm linh của Bộ công an, trong tài liệu này có đoạn nói: từ năm 2002, nếu ai làm bậy là thánh thần trị ngay.


Nếu đúng vậy thì Trời phật qủa là có mắt và đã đổi mới phương pháp giáo dục. Trước đây nếu một ai làm bậy thì Trời Phật sẽ làm cho con cháu họ bị bệnh tâm thần và bệnh nan y, để cho họ chứng kiến cái hậu quả làm bậy của họ: “ đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, để người làm bậy phải móc hết tiền của đã ăn cắp chạy chữa cho con “ của thiên trả địa”, để họ tự dằn vặt suốt đoạn đời còn lại.


Nhưng phương pháp đó hiệu quả không cao nên từ năm 2002, Trời Phật quyết định : “ Ăn mặn thì khát nước ngay” cách này xem ra rất logic, kẻ nào làm sai kẻ đó chịu. mà không bắt con cháu kẻ làm sai phải chịu. Tài sản ăn cắp thì phải tịch biên tài sản, số tiền còn lại không tịch biên nếu con anh dùng thì chúng sẽ hút chích, chơi gái gây bệnh SIDA, nếu vợ anh dùng thì vợ anh sẽ được người khác xài, còn anh phải vào TÙ để hàng ngày nhĩ đến cảnh:

“ Suốt đời chông gai

bây giờ báo hại

con mình nó sai

vợ mình nó xài “

Dân gian có câu “ hy sinh đời bố, củng cố đời con” nên hiểu là đời bố phải bớt ăn, bớt tiêu, chịu vất vả làm lụng để cho con học hành thành tài chứ không phải kiếm tiền bất chính cho con rồi bố thì vào tù, nếu hiểu và làm như vậy thì chẳng khác nào:


“ Hy sinh đời cố

khủng bố vợ con

họ mạc không còn

chết, hòm không có “


Vậy thì cách phòng bệnh tâm linh tốt nhất là : HÃY SỐNG THIỆN, LÀM VIỆC THIỆN! phải thực hiện câu “ Đời cua, cua máy, đời cáy cáy đào”, chớ cạy có quyền, chức mà vơ của thiên hạ cho con.

VI. Ngăn ngừa bệnh tật khi mang thai

Khi mang thai, thai nhi là một phần của cơ thể mẹ. Mọi sự cố xảy ra đối với mẹ cũng đều tác động đến thai nhi, vì vậy phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho sức khỏe người mẹ. Nếu người mẹ bị bệnh mà lạm dụng thuốc kháng sinh sẽ làm cho trẻ phát triển không bình thường, thai nhi dễ bị dị tật.


1. Khám chữa bệnh trước khi kết hôn và trước khi muốn sinh con
Bổn phận của mỗi người là đảm bảo sự phát triển nòi giống, nếu mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh nan y thì tốt hơn hết không nên kết hôn hoặc kết hôn thì đành không nên sinh sản, bởi lẽ đứa trẻ sinh ra thường không được hoàn thiện . Điều này vừa là nỗi buồn cho cha mẹ trẻ và là gánh nặng của xã hội. Chính vì vậy trước khi kết hôn cần phải khám bệnh để quyết định tương lai gia đình.


2. Trong quá trình mang thai

Điều mà Người bố, người mẹ lo sợ nhất mà không ai dám nói ra là đứa con sinh ra bị dị tật và ốm yếu, chỉ khi đứa trẻ sinh ra hoàn thiện thì bố mẹ mới thở phào nhẹ nhõm. Vì vậy quá trình mang thai vô cùng quan trọng.


Phải ăn uống cho đủ lượng và chất phù hợp với khẩu phần của người mang thai, nhớ rằng lúc này người mẹ và bào thai là một – Mẹ ăn uống thức gì thì bào thai ăn uống thức đó, . không nên ăn uống những thứ độc hại, hãy tránh xa thức ăn chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ hộp. Ba tháng đầu người mẹ thường bị nôn, cách tốt nhất là uống nước gừng, ăn gừng để chốn nôn vì gừng có khả năng chống nôn hơn vitamin B 6 lại có nhiều chất dinh dưỡng như Caroten, …kẽm, sẽ làm thai nhi khỏe mạnh nên sau này không bị loạn thị. Không nên tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, hạn chế và không nên dùng thuốc kháng sinh. Nhớ rằng con có khỏe mạnh, thông minh, không bị dị tật là ở giai đoạn này.


Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể tự làm cho mình khoẻ mạnh nếu chúng ta biết dùng thuốc làm đồ ăn thức uống. Và cách tốt nhất là hãy uống nước ép thảo dược phương thảo mỗi ngày vì nước ép thảo dược vừa có đủ thành phần các chất dinh dưỡng và các chất có khả năng thải độc và kháng khuẩn, gừng sẽ giúp tăng cường hệ tim mạch để đưa máu tới các tế bào của cơ thể.


Thảo dược tốt nhất vừa có tác dụng bổ dưỡng, kháng khuẩn, thải độc và chống lão hóa giúp cơ thể luôn khỏe chính là GỪNG, BỒ CÔNG ANH THẤP, RIỀNG NÚI, CẢI CỦ, MƯỚP ĐẮNG, DỀN TÍA.

Phương Thảo (Theo Thái Bình)


Advertisements

Posted on September 28, 2008, in Y Học Phổ Thông. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: