GIẢI PHẪU IX – ĐIỀU HÒA MÁU, LÁCH, TUYẾN ỨC

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết

Điều hòa tuần hoàn

Trung tâm vận mạch nằm nằm ở phần dưới của não có nhiệm vụ điều khiển sự tuần hoàn máu,kiểm soát huyết áp. Các mạch máu chịu trách nhiệm kiểm soát tình hình là các tiểu động mạch nằm giữa các động mạch nhỏ và mao mạch trong vòng tuần hoàn máu.

Vai trò quan trọng nhất của hệ thống tuần hoàn là đưa oxy đến tất cả các cơ quan trong cơ thể. Não có thể không hồi phục khi nó bị ngừng cung cấp máu trong vòng 3 phút do đó cần phải có hệ thống điều hòa máu. Hai nhân tố quan trọng quyết định tới điều hòa là lưu lượng máu và trở lực của các động mạch nhỏ. Lưu lượng máu được quyết định bởi lượng máu và nhịp đập của tim.

Bất kỳ sự giảm áp lực động mạch nào cũng được các cơ quan thụ cảm áp lực ở thành động mạch chủ và động mạch cảnh tiếp nhận, chúng gửi xung động tới hành não, ức chế hoạt động của dây thần kinh phó giao cảmsố 10 làm tăng nhịp tim bằng dây thần kinh giao cảm.

Đồng thời hệ thống thần kinh giao cảm tác động lên tủy trên thận , kích thích giải phóng hoocmonadrenalin. Hoocmon này tuần hoàn trong máu và tác động trực tiếp đến tim làm tăng nhịp đập.

Hoạt động của thần kinh giao cảm, sự co của các cơ xương và sự giãn của các cơ thành động mạch nhỏ đều làm tăng huyết áp trong hệ thống tĩnh mạch dẫn đến tim. Do đó các tâm thất chứa đầy máu trong thời kỳ tâm trương và thể tích máu tống ra trong một lần đập tăng lên. Hoạt động bơm của tim được tăng cường là do tim co bóp mạnh hơn khi bị kích thích. Mối liên quan này được gọi là luật Starling.

Yếu tố thứ hai quyết định áp lực động mạch là trở lực của các động mạch nhỏ tức là sự cản trở dòng máu gây ra bởi sự co hẹp các động mạch nhỏ. Trong quá trình hoạt động , đa số các động mạch nhỏ đều co lại trừ các động mạch nhỏ đi tới não, cơ và da. Điều này xảy ra một phần là do hoạt động của thần kinh giao cảm, một phần là do hoạt động của hoocmon trong đó adrenalin giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

9. Hệ bạch huyết


Là một hệ khác trong số các hệ mạch trong cơ thể vận chuyển chất dịch đi khắp cơ thể, nó chuyên chở chất dịch thừa, các vật lạ, và các chất liệu khác từ các mô và tế bào của cơ thể. Hệ bạch huyết xử lý chất thải và các vật có khả năng gây hại. Hệ bạch huyết liên quan mật thiết với máu, đặc biệt là với các bạch cầu được gọi là lym pho bào, chúng rất cần cho sự bảo vệ của cơ thể.

Hệ bạch huyết gồm có các mạch bạch huyết, các cơ quan và mô dạng lympho chuyên hóa gồm : tuyến ức, lách và amidan.

Các mạch bạch huyết nhỏ gọi là các mao mạch bạch huyết chạy dọc các động mạch và tĩnh mạch của cơ thể. Chúng tập hợp chất dịch dư thừa từ các mô gọi là bạch huyết. Các thành mao mạch bạch huyết rất mỏng và có độ thẩm thấu rất cao, sao cho các phân tử và hạt lớn và vi trùng không thể không thể đi vào các mao mạch máu. Một số mạch bạch huyết có cơ ngoại ý, cơ này co bóp nhịp nhàng theo một hướng đẩy bạch huyết đi theo một chiều, chúng cũng có các van để ngăn bạch huyết khỏi chảy ngược lại.

Trong các hạch bạch huyết, vi trùng và các vật lạ khác có mặt trong bạch huyết đi vào hạch được lọc hết và phá hủy. Khi bạch huyết rời khỏi hạch nó thu nhận lympho bào và các kháng thể để khử hoạt tính các vật lạ. Các mạch bạch huyết nối với nhau tạo thành hai ống lớn là ống ngực và ống bạch huyết phải, hai ống này dẫn lưu vào các tĩnh mạch vô danh gần tim.

Các cơ quan và mô bạch huyết

9.1. Lách

Là một bộ phận không thể thiếu của hệ bạch huyết, chức năng của nó là lọc máu và sản xuất các kháng thể. Lách nằm ngay bên dưới cơ hoành phía trên bên trái bụng. Bình thường nó dài 13 Cm dọc theo đường xương sườn thứ 10, lách nặng khoảng 200g, khi bị sưng lách có thể nặng 2 kg hoặc hơn.

Lách có chức năng lọc máu để loại các vật thể lạ và vi trùng, các tế bào lưới không chỉ loại bỏ các hồng cầu già cũ mà còn loại bỏ bất kỳ tế bào khác thường nào cũng như tiểu cầu và bạch cầu. Lách sản xuất kháng thể – cácprotein lưu thông trong máu giữ cácprotein lạ để các bạch cầu tiêu diệt. Lách sản xuất ra máu cho bào thai trong suốt thai kỳ. Khi người bị bệnh tủy xương thì lách sẽ sản xuất hồng câu cho máu.

9.2. Tuyến ức

Được thấy ở phần trên và ngay sau xương ngực. Ơ người trẻ tuổi nó dài vài Cm, nặng 15 g, ở tuổi dậy thì tuyến ức nặng đến 45g, sau tuổi dậy thì tuyến ức bắt đầu teo lại, đến khi già thì tuyến ức chỉ còn lại một mẩu mỡ.

Chức năng của tuyến ức. Tuyến ức chứa nhiều lympho bào, các lympho bào này sẽ vào các mô trong các phản ứng viêm. Có hai loại tế bào miễn dịch chính trong cơ thể, đó là lympho bào T hay tế bào tuyến ức nằm dưới sự kiểm soát của tuyến ức có trách nhiệm nhận ra các chất lạ. Loại tế bào lympho khác có trách nhiệm sản xuất các kháng thể chống lại các chất lạ.

Phương Thảo (Theo Thái Bình)

Posted on September 21, 2008, in Y học cơ sở. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: