Suy tủy xương gây thiếu máu nghiêm trọng

Ở Việt Nam, suy tủy xương đứng hàng thứ 3 trong các bệnh về máu và cơ quan tạo máu. Do tế bào tủy giảm hoặc ngừng được sinh ra nên lượng máu giảm nghiêm trọng. Bệnh gặp ở tất cả các lứa tuổi, nhưng chủ yếu ở tuổi từ 16 đến 45.

Suy tủy xương có loại bẩm sinh (bệnh Fanconi) nhưng ít gặp. Đây là bệnh di truyền lặn liên quan bất thường đến sắc tố da. Bệnh nhân người thấp, ngón cái bất thường, suy thận. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện đột biến gene đặc hiệu trong thiếu máu Fanconi nằm trên nhiễm sắc thể số 9. Tế bào tủy và số lượng hồng cầu vẫn bình thường cho đến 5-10 tuổi, sau đó giảm dần. Bệnh nhân thường tử vong ở tuổi 10-20 khi suy tủy ngày càng nặng.

Suy tủy thứ phát có nhiều nguyên nhân:

Do thuốc: Có nhiều loại thuốc gây suy tủy xương, nhưng cloramphenicol là hay gặp nhất. Ngoài ra, một số thuốc khác như thuốc phòng chống sốt rét, thuốc chống ung thư, chống lao, chống động kinh, co giật, thuốc trị đái tháo đường cũng có khả năng gây suy tủy.

Do hóa chất: Vì tiếp xúc lâu dài với các hóa chất như Benzen, thuốc trừ sâu DDT, chì, thạch tín…

Do phóng xạ: Nhiễm xạ liên tục với liều lượng lớn sẽ dẫn đến suy tủy xương.

Do nhiễm trùng: Một số bệnh nhân nhiễm trùng nặng hoặc nhiễm trùng huyết cũng có thể bị suy tủy xương cấp. Bệnh thường rất nặng, có thể gây tử vong trong vài tuần đầu. Bệnh lao, suy thận cũng có thể gây suy tủy thứ phát.

Do nhiễm virus: Virus viêm gan A-B đã bị coi là nguyên nhân gây suy tủy xương. Một số bệnh nhân nhiễm HIV cũng bị suy tủy xương. Ở những người này, tế bào tủy giảm có thể là do virus ngăn chặn tạo máu, hoặc do sử dụng nhiều loại thuốc để kiểm soát sự nhân đôi virus.

Ngoài ra, suy tủy xương còn có thể do viêm khớp, có thai, có tuyến ức to, tuyến giáp to…

Ở giai đoạn đầu (khởi phát), bệnh nhân thường mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, da xanh, niêm mạc nhợt. Các biểu hiện thiếu máu diễn ra từ từ, bệnh nhân thường thích nghi với tình trạng này.

Ở giai đoạn toàn phát, 100% bệnh nhân có hội chứng thiếu máu: Da xanh, niêm mạc nhợt, lòng bàn tay trắng bệch, móng tay nhợt có khía, dễ gãy; hồi hộp đánh trống ngực, hoa mắt, chóng mặt, nhịp tim nhanh. Nếu thiếu máu nặng, người bệnh có thể ngất xỉu khi gắng sức. Tùy theo mức độ tiểu cầu giảm mà bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết dưới da, niêm mạc, đường tiêu hóa; xuất huyết não, màng não… Gần 20% bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao 39-40 độ C, viêm lợi, viêm mũi họng, viêm phế quản, viêm da. Một số trường hợp có nhiễm trùng máu.

Suy tủy xương là một bệnh có cơ chế chưa rõ ràng. Do vậy, có nhiều phương pháp điều trị khác nhau như: Dùng thuốc ức chế miễn dịch, ghép tủy xương, cắt lách, điều trị kích thích sinh máu và điều trị hỗ trợ bằng truyền khối hồng cầu, khối tiểu cầu hoặc khối bạch cầu. Các bác sĩ chuyên khoa huyết học sẽ đánh giá và quyết định phương pháp điều trị phù hợp đối với từng bệnh nhân.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


Posted on September 5, 2008, in Nội Khoa - Huyết học, Y Học Phổ Thông. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: