Thuốc có tác dụng phụ làm giảm thính lực và gây điếc

Ngoài những tác dụng hữu ích, có lợi cho việc điều trị, hầu hết CÁC THUỐC đều có ít nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, gây tác hại cho cơ thể người bệnh; Trong số đó có những thuốc gây hại cho tai, làm giảm khả năng nghe, giảm thính lực, thậm chí có thể gây điếc vĩnh viễn.

Tác giả : DS. PHAN QUỐC ĐỐNG


Vấn đề tác dụng phụ của thuốc làm giảm thính lực, gây điếc như thuốc Quinin, Salicylat và tinh dầu giun… đã được đề cập từ thế kỷ thứ 19, với các triệu chứng ù tai, chóng mặt, nghe kém. Các triệu chứng này có thể xuất hiện tạm thời rồi hết, nhưng cũng có thể diễn tiến ngày càng nặng và không thể hồi phục.

Mức độ suy giảm thính lực cũng tùy thuộc vào từng người, thường nặng ở người cao tuổi, người suy giảm chức năng thận, chức năng gan.

Có nhiều thuốc gây suy giảm thính lực, gây điếc, nhưng hai loại gây tác hại nhiều nhất là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid và thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé.

1. Nhóm kháng sinh aminoglycosid

Gồm các kháng sinh: Néomycin, Streptomycin,Amikacin,Paramycin, Kanamycin, Gentamycin

a. Néomycin: Là kháng sinh gây hại nhất cho tai, ngay cả khi dùng bằng đường uống với liều cao để diệt khuẩn đường ruột hoặc dùng liều cao để bôi vết thương cũng có thể gây điếc. Hiện nay, thuốc không được dùng dưới dạng tiêm.

Kanamycin và Amikacin cũng gây độc hại mạnh như Néomycin.

b. Streptomycin: Gây tổn hại nhanh chóng cho bộ phận tiền đình, dẫn đến chóng mặt, mất cân bằng, loạng choạng, khó bước đi trong chỗ tối. Nếu sử dụng 1g/ngày cho bệnh nhân trong 1 tuần lễ thì sau 7-10 ngày sẽ làm suy giảm sức nghe. Nếu tiếp tục điều trị sẽ dẫn tới điếc nặng, điếc vĩnh viễn không phục hồi được. Đã có trường hợp dùng Streptomycin điều trị viêm phổi cho trẻ rồi dẫn tới hậu quả trẻ bị câm điếc.

Gentamycin cũng gây độc cho tai như Streptomycin nhưng nhẹ hơn.

2. Các kháng sinh khác

a. Erythromycin: Dùng liều cao 4g/ngày, tiêm tĩnh mạch để điều trị viêm phổi cho bệnh nhân cao tuổi, suy gan, thận có thể gây điếc và chóng mặt. Tuy vậy triệu chứng này sẽ giảm và hết nếu ngưng thuốc kịp thời.

b. Ampicillin: Dùng điều trị viêm màng não do Hemophillus influenzae có thể làm suy giảm thính lực.

c. Chloramphenicol: Giống như Ampicillin, dùng điều trị viêm màng não cũng làm giảm sút sức nghe.

d. Những kháng sinh như Viomycin, Vancomycin, Capreomycin cũng gây độc hại cho tai, làm suy giảm thính lực, gây điếc.

3. Thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé

Nhóm thuốc lợi tiểu này gồm Acid Ethacrynic, Furosemid, Bumetanid; có tác dụng ức chế tái hấp thu các chất điện giải ở nhánh lên của quai Henlé, tác dụng lợi tiểu mạnh, làm giảm nhanh Natri.

Thuốc gây độc mạnh cho tai nhất là ở người cao tuổi, người suy gan, suy thận. Độc tính tăng thêm khi dùng đồng thời với kháng sinh nhóm aminoglycosid. Độc tính giảm dần theo thứ tự Bumetanid, acid Ethacrynic, Furosemid.

4. Thuốc chống viêm

Salicylat thường gây ù tai và giảm thính lực, nhưng có khả năng hồi phục.

Aspirin liều cao cũng gây ù tai và giảm thính lực ở tần số cao, thường phục hồi sau khi ngừng thuốc.

Các thuốc chống viêm không steroid như Ibuprofen, Indomethacin, Piroxicam... cũng có tác dụng làm suy giảm sức nghe, gây điếc.

5. Thuốc chống sốt rét

Từ thế kỷ 19, người ta đã phát hiện Quinin và Chloroquin có thể làm giảm thính lực. Nếu dùng liều nhỏ thì triệu chứng sẽ mất hẳn khi ngưng thuốc, nhưng với liều cao thì có thể gây điếc vĩnh viễn.

6. Thuốc chống ung thư

Cis-Platinum có thể gây nghe kém, ù tai, rối loạn tiền đình; Ở mức độ nhẹ có thể hồi phục được, nếu nặng có thể gây điếc vĩnh viễn.

Bleomycin, – 5. Fluorouracil cũng có thể gây hại cho tai, làm suy giảm thính lực.

Tuy vậy các thuốc thuộc nhóm này chưa được nghiên cứu nhiều.

7. Các loại thuốc khác

– Thạch tín.

– Tinh dầu giun.

– Hexadin.

– Pentobarbital.

– Thuốc tim mạch, thuốc trị cao huyết áp: Quinidin chữa loạn nhịp tim, Propanolol (thuốc chẹn beta) chữa cao huyết áp.

– Kháng độc tố uốn ván…

Để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân cao tuổi, có thai, suy gan thận, không được dùng các thuốc có khả năng gây độc cho tai, mà phải thay thế bằng các thuốc khác có cùng tác dụng. Nếu bắt buộc phải dùng, bệnh nhân cần được đo thính lực và theo dõi thường xuyên trong suốt quá trình dùng thuốc (đặc biệt là các kháng sinh); Và nếu có suy thận, phải đo nồng độ thuốc trong máu và điều chỉnh liều để không vượt quá mức cần thiết.

Posted on August 16, 2008, in Tai Mũi Họng - tai. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: