Thị trường kế tự động Humphrey (phần 7) – Bài Giảng

Theo dõi biến đổi đổi thị trường qua nhiều test liên tiếp

Biểu đồ khung hộp (H39)
Biểu đồ khung hộp hữu ích giúp sự xác định nhanh bản chất và mức độ của thay đổi thị trường theo thời gian.

Bốn điểm chính yếu lưu ý là:

1. Hình dạng toàn thể của khung hộp, bị kéo dài hay thu gọn thế nào 2. Vị trí của 3 vạch đen trong khung hộp mà biểu thị trung vị (a) 3. Điểm mút đỉnh và đáy của đường thẳng mà khung hộp nằm trên đó (b) 4. Khung hộp nằm ở đâu so với tỉ lệ bình thường phía trái

H39: Biểu đồ khung hộp

Do lý do thống kê học và tinh thần toán học, khung hộp là giản đồ cải biên cung cấp tóm lược 5 tham số của kết quả khảo sát.

Tóm lược đúc kết từ sự lệch tại mỗi điểm khảo sát giữa thị trường được đo của BN và thị trường tham khảo được điều chỉnh theo tuổi của nhà chế tạo máy (statpac).

Statpac phác hoạ những giá trị mút của những độ lệch ( độ lệch bách phân vị thứ 100th và 0th , hay điểm mút đỉnh và đáy của đường thẳng ở vị trí b) độ lệch trung vị (3 vạch đen trong khung hộp ở ví trí a) và độ lệch bách phân vị thứ 85th và 15th . để dễ đọc, một khung hôp bình thường được in ở bên trái của đồ thị.

Đó là khung hộp trung bình từ dữ liệu bình thường mà Stacpac dựa trên đó vẽ ra, biểu thị điểm hay những điểm khảo sát có nhạy cảm cao nhất so với tuổi bình thường
Những thí dụ hình dạng khung hộp và ý nghĩa bịnh lý tương ứng (h40)

H40: hình dạng khung hộp và ý nghĩa bịnh lý tương ứng


Biểu đồ hộp bình thường ở bên trái của trục cho thấy thị trường trung bình bình thường mong đợi thay đổi trong hạn mức từ +4 đến –6 dB.

Hộp trung tâm biểu thị điểm bách phân vị 85th (điểm tốt nhất thứ 11th của 74 vi trí điểm) tại +3 dB và bách phân vị thứ 15th (điểm phân hạng thứ 63rd của 74 vị trí điểm)

A. Thí dụ đầu tiên của bất thường có hộp trung tâm ngắn di lệch xuống vi trí phía dưới, biểu hiện sự ức chế thị trường toàn thể 11 dB do đục thủy tinh thể

B. Thí dụ 2 là sự ức chế toàn thể 7 dB tương tự từ glôcôm

C. Thí dụ 3 cho thấy khung hộp số của thị trường một bất thường rất khu trú. Điểm xấu nhất bị giảm còn –18 dB, nhưng ít hơn 10 vị trí điểm bất thường(điểm bách phân vị 15th bình thường)

D. Thí dụ 4 cho thấy mất thị trường khu trú rộng hơn , với điểm xấu nhất xuống dưới 22 dB và điểm bách phân vị thứ 15th xuống 11 dB. Với điểm trung vị tại 0 dB , 50% đến 84% của những vị trí hãy còn bình thường

E. Điểm trung vị bị giảm 17 dB . Nhiều hơn ½ số điểm bị tổn hại trầm trọng, nhưng vị trí điểm bách phân vị thứ 85th và thứ 100th cho thấy một số điểm hãy còn bình thường

F. Thí dụ 6 cho thấy ngay cả bách phân vị thứ 85th (hạng thứ 11th của 74 vị trí) bị giảm 9 dB, và phần lớn những điểm bị tổn hại trầm trọng, với điểm trung vị xuống hơn 22 dB hay hơn

G. Thí dụ 7 cho thấy điểm tốt nhất xuống 9 dB, và 85% những điểm xuống 22 dB hay nhiều hơn.Toàn cảnh từ C tới G biểu thị sự mất thị trường đậmkhu trú phân hạng từ sự tổn hại một vài điểm cho tới sự tổn hại phần lớn mọi vị trí. Một vài điểm bình thường hãy còn ngoại trừ trong những

Thí dụ 1: Biểu đồ khung hôp minh hoạ đục thủy tinh thể

H41: Biểu đồ khung hôp minh hoạ đục thủy tinh thể

Biểu đồ trên cho thấy những điểm nhạy cảm nhất – bách phân vị 100th của BN- thực hiện ngày 17/10/84 là 1dB dưới giá trị trung vị hay 5 dB dưới giá trị điểm thử tốt nhất của người bình thường cùng tuổi. Lại nữa, bách phân vị 85th thấp xuống còn –3 dB.

Điều này có nghĩa 85% những điểm khảo sát của BN khác với giá trị trung vị người bình thường khoảng –3dB hay hơn, và khác với bách phân vị bình thường 85th khoảng –5dB. Bởi vì BN bị đục thủy tinh thể , thị trường toàn bộ bị giảm ít nhiều và sự thay đổi duy nhất là sự giảm toàn bộ độ nhạy võng mạc qua theo gian.

Vì lẻ đó , hình dạng của khung hộp hãy còn hơi bình thường, nhưng biểu tượng bị hạ thấp dần.

Thí dụ 2: Biểu đồ khung hôp minh hoạ ám điểm sâu (H42)
Ngược lại trong trường hợp ám điểm sâu bao gồm một số nhỏ điểm sẽ tạo ra một khung hộp ít nhiều bình thường trong hình dạng và vị trí, và có đuôi về phía âm dài ra. Khi ám điểm càng sâu đậm thêm theo thời gian chiều dài của đuôi càng tăng

H42: Biểu đồ khung hôp minh hoạ ám điểm sâu

Hình trên cho thấy những điểm được khảo sát nhạy cảm ít nhất, biểu thị bằng đáy của đuôi tại 0th , ít ra là 22 dB dưới giá trị trung vị và 16dB dưới những điểm thử xấu nhất người bình thường cùng tuổi.

Thực ra, những điểm được khảo sát xấu nhất của BN có thể thấp hơn dưới –22dB hay vượt ra ngoài biểu đồ.

Thí dụ 3: Biểu đồ khung hôp minh hoạ glôcôm (h43)
Nếu ám điểm lan rộng liên quan nhiều hơn 15% của những điểm được khảo sát, giới hạn dưới của hộp sẽ bị hạ hơn nữa và tuỳ theo mức độ và sự trầm trọng của mất thị trường, khung hộp có thể rất dài, hình ảnh thường gặp trong bịnh glôcôm tiến triển

H43: Biểu đồ khung hôp minh hoạ glôcôm

Biểu đồ theo dõi các chỉ số chung

Phân nữa dươi của bảng in phân tích thay đổi trình bày tóm tắt của chỉ số chung: MD,PD,SF và CPSD cho những test đuợc hiển thị từ khung hộp .Những kết quả tóm lược được trình bày theo trình tự thời gian và trong cùng thự tự như biểu đồ khung hộp.


Để dễ đọc kết quả, giới hạn p<5% và p<1% cho quần thể bình thường được biểu thị bằng những đường tham khảo dạng gạch nối. Nếu, cho thí dụ, biểu tượng chỉ định một test xuất hiện phía trên đường 5%, giá trị chỉ định của test không có ý nghĩa ở mức 5%. Nếu nó xuống dưới đường thẳng 5% , giá trị chỉ định có ý nghĩa ở mức 5%. Tương tự, nếu biểu tượng ở vị trí đưới đường thẳng 1%, giá trị chỉ định có ý nghĩa ở mức 1%; nghĩa là ít hơn 1% dân số bình thường cho thấy giá trị chỉ định rộng bằng hay lớn hơn giá trị được tìm thấy trong test đó (H44)

H44: Biểu đồ theo dõi các chỉ số chung

Phân tích hồi qui tuyến tính

Nếu có 5 thị trường hay nhiều hơn được phân tích trên bảng phân tích thay đổi, và tất cả các test đều được thực hiện cùng một chiến lược. Phần mềm Stacpac sẽ tự động thực hiện một phân tích hồi qui tuyến tính của độ lệch trung bình (MD).

Môt trong 2 hai thông báo “hệ số độ dốc MD có ý nghĩa” hay “hệ số độ dốc MD không có ý nghĩa”được in bên dưới biểu đồ MD. Độ dốc tính toán bằng dB/năm và 95% độ tin cậy cũng sẽ được in.(H43)


Phân tích hồi qui tuyến tính khảo nghiệm giả thuyết độ dốc bằng không, nghĩa là không có sự thay đổi trong thị trừơng của BN. Nếu giả thuyết bị loại bỏ sau khi phân tích ở ngưởng p 5%

Điều đó có ý nghĩa gì trên lâm sàng?

Thông báo “có ý nghĩa” có nghĩa rằng độ lệch trung bình có lẻ đã thay đổi trong chiều hướng độ dốc phỏng định, và giá trị p càng thấp có lẻ điều đó xảy ra càng cao. Tuy nhiên , nhà lâm sàng còn tự hỏi sự phỏng định đó dựa trên những kết quả đo được là hậu quả của sự mất thị trường dần dần hay do những yếu tố khác.

Số của những lần thử test càng lớn, những thay đổ nhỏ trong độ lệch trung bình càng dể phát hiện hơn.

Advertisements

Posted on August 9, 2008, in Nhãn Khoa - Bài Giảng. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: