Các viêm nhiễm tại mi mắt

Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu nên luôn bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy, các bệnh nhiễm trùng và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng, từ chắp, lẹo đến viêm bờ mi.

Bấm vào ca sổ xem Hình
Tỷ lệ viêm bờ mi khá cao nhưng thường bị bỏ qua vì không gây mù lòa, không gây chết người. Thế nhưng, những khó chịu mà bệnh này gây ra, lượng thuốc men mà người bệnh phải hao tốn lại không hề nhỏ. Nhiều người còn tự mua thuốc hoặc mách bảo nhau dùng những thuốc có chứa cortizol kéo dài. Triệu chứng bệnh thì có giảm nhưng những hệ lụy mà nó đem lại thật nguy hiểm khôn lường: bội nhiễm nấm, vi khuẩn, glaucoma do dùng cortizol kéo dài, đục thủy tinh thể…

Nguyên nhân

Có rất nhiều yếu tố gây viêm mi như vệ sinh kém, bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh trong vật dụng hằng ngày (khăn mùi xoa chẳng hạn); bụi, ô nhiễm, sử dụng máy điều hòa, chứng khô mắt, đái tháo đường, vảy nến. Chính thầy thuốc cũng có thể góp phần gây viêm bờ mi cho bệnh nhân khi dùng các nội tiết tố như oestrogen, androgen hay điều trị tia xạ kéo dài.

Thủ phạm gây viêm bờ mi thường là tụ cầu, nấm hay demodex. Viêm mi do tụ cầu thường gây chắp hay hay lẹo, loét trợt bờ mi, nặng hơn có thể gây viêm giác mạc ở 1/3 dưới.

Các loại viêm bờ mi

Các nhà khoa học Anh, Mỹ chia các bệnh viêm nhiễm tại mi làm 4 nhóm chính: lẹo, chắp, viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Viêm bờ mi

Bệnh nhân thường than phiền về cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng.

Khi thăm khám lâm sàng, thấy bờ mi đỏ, quanh chân lông mi có nhiều chất bẩn và vảy tiết, kèm theo đó là tình trạng giãn mao mạch dọc theo phần trước của bờ tự do. Các lỗ ra của tuyến giãn rộng và nhiều chất bã nhờn. Cũng có thể có tình trạng bã tiết các chất bọt. Thường thì viêm bờ mi sẽ đi kèm với viêm kết mạc, gọi là viêm bờ mi-kết mạc.

Bệnh viêm mi tăng tiết bã nhờn

Chính tên bệnh đã phản ánh bản chất của nó. Thường là bệnh thứ phát trên cơ địa viêm da tăng tiết bã nhờn. Các tổn thương tại da: Ban đỏ, đóng vảy ở chân tóc và vùng mặt, thường có trước những tổn thương tại mi. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển là khí hậu lạnh, nghiện rượu, bệnh lý thần kinh, tình trạng stress hay AIDS. Tiến triển của viêm mi thường song song với tình trạng tổn thương ở da (thoái triển hoặc kịch phát).

Bệnh trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ gây phiền toái cho khoảng 10% dân số thế giới, trong đó 50% có biểu hiện tại mắt. Các yếu tố khơi mào cho bệnh phát triển có thể là nhiệt độ bất thường (quá nóng hoặc quá lạnh), da sáng màu, ăn nhiều gia vị hoặc các chất cay, nóng, bia, rượu, thuốc lá…

Những biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ rất đa dạng: viêm mi, phình giãn mao mạch ở bờ mi, đa chắp tái phát, kết mạc cương tụ, viêm thượng củng mạc, tân mạch giác mạc, mụn nước và loét bờ mi. Trứng cá đỏ thường đi kèm với loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm mi do loạn năng tuyến Meibomius

Tuyến Meibomius là một tuyến ngoại tiết mà các lỗ mở ra bờ tự do của mi, phía sau các chân lông mi. Chức năng của nó tạo ra lớp lipid của phim nước mắt, lớp này có tác dụng chống bay hơi cho phim nước mắt và quyết định chất lượng của phim nước mắt.

Viêm, nhiễm trùng, quá mẫn cảm là những yếu tố có thể thay đổi chất lượng của phim nước mắt và cũng là nguyên nhân viêm bờ mi.

Biến chứng

Hậu quả chủ yếu của viêm bờ mi là cảm giác khô rát mắt. Nguyên nhân là nước mắt bị bay hơi quá nhanh do lớp mỡ của phim nước mắt có chất lượng kém – một hệ quả tất yếu của loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm bờ mi có xu hướng mạn tính và kèm theo nó là các biến chứng tiềm tàng và khó tránh khỏi.

Điều trị

Việc điều trị giúp kiểm soát tình hình chứ gần như không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn được.

Phương pháp điều trị bao gồm: Vệ sinh cá nhân, chủ yếu là rửa tay, dùng khăn lau loại một lần, massage nhiều lần trong ngày lên bờ mi có dùng găng tay và gạc chườm nóng hoặc dùng gel đặc trị đánh lên bờ mi bằng tăm bông. Các biện pháp trên chủ yếu để dẫn lưu tuyến Meibomius.

Điều trị bằng kháng sinh tại chỗ hoặc đường toàn thân đôi khi rất hữu ích. Các kháng sinh được khuyên dùng thuộc nhóm tetracycline và oxytetracycline như mỡ tetracycline, mỡ posicycline và nhóm sunfamide như bacitracine.

Theo Sức khỏe và Đời sống
Advertisements

Posted on August 2, 2008, in Nhãn Khoa. Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: