Nội Soi Đại Cương (phần 2)

Tuyển tập các bài giảng nội soi đại cương – phần 2 – tiếng Anh
ĐH Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Analysis of the quality and efficiency in learning laparoscopic skills

Efficacy of surgical measures in preventing port-site recurrences in a porcine model

Total endoscopic thyroidectomy: axillary or anterior chest approach

Y. Ikeda *, H. Takami, G. Tajima, Y. Sasaki, J. Takayama, H. Kurihara, M. Niimi

Anterior chest wall approach for video-assisted thyroidectomy using a modified neck skin lifting method

Shizuo Nakano *, Yuko Kijima, Tetsuhiro Owaki, Kazusada Shirao, Masamichi Baba, Takashi Aikou

Suction versus water seal after thoracoscopy for primary spontaneous pneumothorax: prospective randomized study

Adel K. Ayed, FRCSC a*

Role of Videothoracoscopy in Chest Trauma

Loïc Lang-Lazdunski, MD, Jerôme Mouroux, MD, Francois Pons, MD, Gilles Grosdidier, MD, Emmanuel Martinod, MD, Dan Elkaïm, MD, Jacques Azorin, MD, René Jancovici, MD

Severity of Compensatory Sweating After Thoracoscopic Sympathectomy

Peter B. Licht, MD, PhD, and Hans K. Pilegaard, MD

Diagnosis and Treatment of Mediastinal Tumors by Thoracoscopy*

Luı´s Marcelo Inaco Cirino, MD; Jose´ Ribas Milanez de Campos, MD;

Angelo Fernandez, MD; Marcos N. Samano, MD; Paulo Pego Fernandez, MD;

Luı´z Tarcı´sio B. Filomeno, MD; and Fa´bio Biscegli Jatene, MD

Thyroïdectomie endoscopique pour nodules thyroïdiens isolés Endoscopic thyroidectomy for solitary nodules

M. Gagner *, B.William Inabnet III, L. Biertho

Video-assisted neck surgery for thyroid and parathyroid diseases

Shigeto Maeda a,*, Kazuo Shimizu b, Shigeki Minami a, Naomi Hayashida a,

Tamotsu Kuroki a, Akira Furuichi a, Nozomu Sugiyama a, Katsu Ishigaki a,Ryuichiro Suto a,
Junichiro Furui a, Takashi Kanematsu a

Do bullae indicate a predisposition to recurrent pneumothorax ?

H J M SMIT, MD, PhD, M A Th P WIENK, MD

Early Evacuation of Traumatic Retained Hemothoraces Using Thoracoscopy: A Prospective, Randomized Trial

Dan M. Meyer, MD, Michael E. Jessen, MD, Michael A. Wait, MD, Aaron S. Estrera, MD


Spontaneous Pneumothorax

Steven A. Sahn, M.D., and John E. Heffner, M.D.

The Role of Thoracoscopy in the Management of Retained Thoracic Collections After Trauma
B. Todd Heniford, MD, Eddy H. Carrillo, MD, David A. Spain, MD,Jorge L. Sosa,
MD, Robert L. Fulton, MD, J. David Richardson, MD

Thoracoscopy for Empyema and Hemothorax

Rodney J. Landreneau, MD; Robert J. Keenan, MD; Keith S. Naunheim, MD.

Video-assisted thoracic surgical treatment of initial spontaneous pneumothorax in young patients

Marc Margolis, MD, Farid Gharagozloo, MD, Barbara Tempesta, MS, CRNP,

Gregory D. Trachiotis, MD, Nevin M. Katz, MD, E. Pendleton Alexander, MD

Mediastinal Cysts

Jane M Eggerstedt, MD, Richard Thurer, MD. F rancisco Talavera, PharmD, PhD. Daniel S Schwartz, MD Paolo Zamboni, MD Mary C Mancini, MD, PhD

Diagnostic role of videothoracoscopy in mediastinal diseases

Luciano Solaini, Paolo Bagioni, Andrea Campanini, Basilio Domenico Poddie

Video-Assisted Thoracoscopic Closure of the Delayed Bronchial Rupture After Thoracoscopic Resection of Mediastinal Bronchogenic Cyst

Deog-Gon Cho, MD and Moon-Sub Kwack , MD

VATS Major Pulmonary Resection

Anthony P.C. Yim, M.D.

Cardiovascular changes during drainage of pericardial effusion by thoracoscopy

J. A. Fernández, R. Robles, F. Acosta, T. Sansano and P. Parrilla


Endoluminal surgery

Hand-assisted laparoscopic surgery. An emerging technique

Hematogenous spread as a mechanism for the generation of abdominal wound metastases following laparoscopy

The safety of helium for abdominal insufflation

Trocar site tumor recurrences. May pneumoperitoneum be responsible?

Bài giảng Phẫu thuật nội soi Niệu

Tuyển tập các bài giảng nội soi niệu khoa
bộ môn Niệu ĐH Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

1. LỊCH SỬ PHẪU THUẬT NỘI SOI NIỆU
Giảng viên:
TS.BS Từ Thành Trí Dũng
Download

2. CÁC DỤNG CỤ TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI NIỆU

Giảng viên:TS.BS Từ Thành Trí Dũng
Download

3. KỸ THUẬT TẠO KHOANG SAU PHÚC MẠC TRONG PTNS NIỆU
CÁC ĐƯỜNG TIẾP CẬN HỆ TIẾT NIỆU TRONG PTNS
Giảng viên: PGS.
TS.BS Trần Lê Linh Phương
Download

4.
CÁC BIẾN ĐỔI CỦA CƠ THỂ TRONG BƠM HƠI PHÚC MẠC VÀ SAU PHÚC MẠC
Giảng viên:
ThS.BS Nguyễn Anh Tuấn
Download -

5.
SOI BÀNG QUANG VÀ CÁC THỦ THUẬT THỰC HIỆN QUA SOI BÀNG QUANG
Giảng viên: PGS
.TS.BS Trần Lê Linh Phương
Download

6. KỸ THUẬT KHÂU CỘT TRONG PTNS
Giảng viên: TS.BS Nguyễn Văn Ân
Download -

7. THEO DÕI BỆNH NHÂN TRƯỚC VÀ SAU PTNS NIỆU
Giảng viên: ThS.BS Nguyễn Hoàng Đức
Download

8. CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU BẰNG CÁC BIỆN PHÁP ÍT XÂM HẠI
Giảng viên: TS.BS Nguyễn Tuấn Vinh
Download

9.
KỸ THUẬT TÁN SỎI NIỆU QUẢN
Giảng viên:TS.BS Nguyễn Tuấn Vinh
Download

10.
TAI BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI NIỆU
Giảng viên:TS.BS Từ Thành Trí Dũng
Download

11.
PTNS SAU PHÚC MẠC LẤY SỎI NIỆU QUẢN
Giảng viên:ThS.BS Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng
Download -

12.PHẪU THUẬT CẮT THẬN NỘI SOI
Giảng viên: ThS.BS Nguyễn Hoàng Đức
Download

13.CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NANG THẬN
Giảng viên: TS.BS Nguyễn Văn Ân
Download -

14.
PTNS SAU CẮT CHỎM NANG THẬN
Giảng viên: TS.BS Nguyễn Văn Ân
Download

15.GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU
Giảng viên: PGS.TS.BS Phạm Văn Bùi
Download

16.
PHẪU THUẬT CẮT THẬN NỘI SOI TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP PHỨC TẠP
Giảng viên: ThS.BS Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng
Download

17.PHẪU THUẬT CẮT TUYẾN THƯỢNG THẬN NỘI SOI
Giảng viên: ThS.BS Ngô Xuân Thái
Download

18.
PTNS NIỆU VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ROBOT
Giảng viên: ThS.BS Nguyễn Hoàng Đức
Download

19.
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT
Giảng viên: PGS.TS.BS Trần Ngọc Sinh
Download

20.CẮT ĐỐT NS TUYẾN TIỀN LIỆT QUA NGÃ NIỆU ĐẠO
Giảng viên: PGS.TS.BS Trần Ngọc Sinh
Download

21.
PHẪU THUẬT MỔ MỞ LẤY SỎI THẬN VÀ SỎI NIỆU QUẢN
Giảng viên: TS.BS Vũ Hồng Thịnh
Download

2
2.PHẪU THUẬT CẮT THẬN GHÉP NỘI SOI
Giảng viên: PGS.TS.BS Trần Ngọc Sinh
Download

23.ĐIỀU TRỊ PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG CÁC BIỆN PHÁP
ÍT XÂM HẠI
Giảng viên: PGS.TS.Bs Trần Ngọc Sinh
Download

http://phauthuatnoisoi.com/ptns/?655=5&658=51&657=264&654=4

Cúm

Cảm và cúm khác nhau ra sao? Đây có lẽ là một câu hỏi khó trả lời cho bất cứ ai, ngoại trừ những nhân viên phân chất mẫu vi khuẩn của hai loại bệnh này. Thông thường, theo kinh nghiệm của bác sĩ, chúng có những điểm khác nhau được ghi nhận như sau:

- Cảm lâu lành hơn cúm.
- Cúm gây khó chịu nhiều hơn cảm.
- Người bệnh cúm hay lên cơn sốt hơn, và cơn sốt thường đến rất nhanh, rất đột ngột.
- Cúm hay gây nhức đầu hơn cảm.
- Cúm gây nhức mỏi mình mẩy, uể oải nhiều hơn cảm.
- Cảm và cúm đều có thể gây triệu chứng tối tăm mặt mày, nhưng triệu chứng của cúm thường mạnh hơn nhiều.
- Cảm thường làm sổ mũi, cúm rất ít khi.
- Người bệnh cúm thường ho nhiều và ho rũ rượi hơn người bệnh cảm. Bệnh cảm thường ít ho, có thể chỉ ho khan vài tiếng.

Và dĩ nhiên, dù không phải là bác sĩ, bạn cũng có thể nhận biết mình bị cúm rất dễ dàng, vì cúm là căn bệnh theo mùa và rất hay lây. Khi bạn tiếp xúc với người bị cúm và hôm sau bắt đầu thấy khó chịu… thì chắc chắn là bị cúm rồi!

Có lẽ không ai quên được cảm giác khó chịu khi bị bệnh cúm. Mọi triệu chứng của bệnh này đều hết sức khó chịu và thường ở mức độ mạnh. Đã bị một lần, bạn không bao giờ muốn nghĩ đến mình sẽ bị lần thứ hai… Thuốc kháng sinh, thần dược của loài người, hoàn toàn bó tay trước bệnh này. Một khi đã lỡ nhiễm bệnh, chỉ có những phương pháp dưới đây là có thể làm bạn dễ chịu hơn, cũng như giúp bạn qua khỏi cơn bệnh nhanh hơn.

Hãy nằm mà nghỉ cho khỏe
Nên nằm nhà nghỉ để cơ thể dốc toàn lực đối phó với cơn bệnh khó chịu này. Nếu bạn còn yếu mà lại không chịu dưỡng sức, sự chống đỡ của cơ thể sẽ yếu hơn và lâu khỏi hơn.

Dĩ nhiên bạn cũng không muốn vào cơ quan làm lây bệnh này cho những người khác, để rồi họ lây ngược lại cho bạn khi bạn đã khỏi bệnh!

Uống nhiều nước
Nếu bệnh cúm đi đôi với cơn sốt, dù nặng hay nhẹ, việc phải làm đầu tiên là uống nước thật nhiều. Nước có tác dụng điều hòa thân nhiệt, bù đắp lại lượng nước trong cơ thể bị mất đi do sốt. Bạn có thể uống nước lọc hoặc bất cứ thứ gì chứa nhiều nước (canh, súp chẳng hạn).

Nước trái cây như chanh, cam… chứa nhiều sinh tố C, giúp bạn ít bị vật vã với cơn bệnh. Nước cà rốt cũng tốt vì chứa nhiều khoáng chất và các sinh tố khác. Các loại nước trái cây này nên pha loãng, thêm chút đường để cung cấp lượng đường bị mất đi trong lúc bị bệnh (đừng bỏ đường nhiều quá, bạn có thể bị tiêu chảy).

Uống thuốc
Bạn đừng bỏ công sục tìm loại thuốc chuyên trị cúm tại các nhà thuốc Tây. Không có đâu. Thuốc dành cho bệnh nhân cúm chỉ là aspirin, acetaminophen (Tylenol), hoặc ibuprofen (Advil) mà thôi. Gần đây có loại thuốc công hiệu rất thần tốc là Thera-Flu; nếu đọc kỹ nhãn thuốc, bạn sẽ thấy nó chẳng qua chỉ là một liều lượng lớn acetaminophen mà thôi.

Với 3 loại thuốc căn bản trên, nếu được sử dụng đúng cách, bạn có thể bình phục nhanh chóng. Liều lượng thuốc được ghi trên nhãn, thường là 2 viên cho mỗi 4 giờ. Uống thường xuyên vào buổi trưa và tiếp tục cho đến trước khi đi ngủ (đây là thời gian những triệu chứng cúm thường hoành hành mạnh nhất).

Nhớ không bao giờ cho trẻ em dưới 21 tháng tuổi uống thuốc Aspirin vì thuốc này có thể dẫn đến hội chứng Reyes syndrome, có thể gây chết người.

Đau cổ họng? Hãy súc miệng bằng nước muối
Pha một thìa cà phê muối ăn vào nửa lít nước ấm, súc miệng và ngửa cổ cho nước muối chạy vào cổ họng, thổi hơi lên cho nước bị dội lên tạo ra tiếng kêu, sau đó nhổ ra. Làm như vậy ngày vài lần, bạn sẽ thấy bớt hẳn chứng đau cổ họng.

Việc súc miệng như trên cũng giúp giảm các triệu chứng về mũi như nghẹt mũi, sổ mũi. Nước muối có khả năng giết vi trùng, vi khuẩn thường bám vào mũi, miệng.
Để chữa đau họng, bạn cũng có thể mua các viên ngậm ở hiệu thuốc Tây.

Nghẹt mũi, sổ mũi, khô mũi?
Thường chứng sổ mũi đi đôi với nghẹt mũi hay khô mũi. Nếu mũi bị khô, nên đặt một máy phun hơi ẩm trong phòng, hoặc xức thuốc chống khô mũi. Máy phun hơi ẩm còn giúp bạn bớt bị đau cổ họng và ho.
Có 2 loại máy phun hơi ẩm, loại chạy bằng siêu âm (ultrasonic-humidifier) phun hơi mát, nên dùng vào mùa hè; loại chạy bằng điện trở hay điện cực (vaporizer) nên dùng vào buổi tối hoặc mùa đông. Loại humidifier đắt tiền hơn và ít hao điện hơn; loại vaporizer rẻ gần một nửa nhưng tốn điện hơn. Nên xem kỹ nhãn hiệu (về cách sử dụng và công suất tiêu thụ điện) trước khi mua.

Cạo gió
Tương tự với phương pháp cạo gió của Việt-Nam, các bác sĩ Tây y có thể chữa cúm bằng cách thường xuyên xoa lên lưng bệnh nhân (thường xoa với những dầu nóng thơm mùi long não). Phương pháp này có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chống lại bệnh cúm.

Cúm có thể nguy hiểm
Năm 1918, một dịch cúm phát xuất từ Tây Ban Nha đã giết chết 20 triệu người trên toàn thế giới. Vì vậy, bạn không nên khinh thường căn bệnh này. Nên đi khám bác sĩ khi thấy có những triệu chứng như: thân nhiệt tăng cao hơn 37 độ C, khan tiếng hoặc tắt tiếng, đau trong lồng ngực, khó thở, khạc ra đờm vàng hoặc xanh.

Mẹo vặt:
- Ngâm chân vào nước nóng: Làm giảm chứng nhức đầu hay nghẹt mũi.
- Đừng để cơ thể bị lạnh và y phục bị ẩm.
- Súc miệng nước muối trong cổ họng 4 lần mỗi ngày.
- Cứ 4 giờ lại uống 2 viên Tylenol (bắt đầu từ 12 h trưa đến lúc ngủ).
- Ngậm kẹo ho hoặc kẹo sinh tố C thường xuyên.
- Mỗi ngày uống 50 mg thuốc kẽm (zinc) để giảm đau cổ họng. Có 3 loại thuốc kẽm là Zinc-Oxide, Zinc-Sulfate, và Zinc-Gluconate. Chỉ nên mua loại Zinc-Gluconate hoặc các loại có đề chữ “Chelated”. Các loại khác thường làm cơ thể bị thiếu sắt và các kim loại cần thiết khác

Nguồn: vnexpress

Muốn cho khỏe

Muốn cho khỏe thì phải loại trừ những nguyên nhân làm cho cơ thể con người YẾU. Có năm nguyên nhân làm cơ thể yếu là:

1. Do dị tật bẩm sinh

2 Do thiếu dinh dưỡng

3. Do vi khuẩn có hại và chất độc xâm nhập

4. Do các yếu tố vật lý bất lợi

5. Do Thần linh.

Vậy làm sao để cho con người khỏe mạnh? Chỉ có cách duy nhất là PHÒNG BỆNH – Loại bỏ kịp thời các nguyên nhân gây bệnh.

Trước tiên là vấn đề ăn, uống, thở.

I . ĂN, UỐNG, THỞ

1.1 Ăn là gì ?

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì ăn là đưa thức ăn vào miệng và nuốt để nuôi dưỡng cơ thể, từ ăn được gắn với các từ khác tạo thành 553 nghĩa khác nhau. Con người ăn ngay từ khi còn trong bụng mẹ, khi trứng được thụ tinh đã ( ăn ) bằng cách lấy dinh dưỡng từ người mẹ rồi lớn dần lê. Phôi thai ăn thông qua nhau thai ở rốn. Dinh dưỡng của người mẹ sẽ nuôi bào thai cho đến khi bào thai chào đời, khi chào đời, trẻ sơ sinh ăn sữa mẹ…



Khi lớn lên cơ thể người được cấu tạo bởi10 ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­12 đến 10 ­14 tế bào, ­­trong quá trình sống thì nhiều tế bào chết đi và nhiều tế bào sinh ra, do đó cần phải có ĐỦ nguyên liệu để tạo ra tế bào, phải có đủ năng lượng và dưỡng chất để tế bào sống và làm việc, vì vậy phải thường xuyên cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Muốn có tế bào phải có thức ăn, thức ăn tạo tế bào xương, thịt, nơ ron thần kinh, tinh trùng, enzym và hooc mon… các enzym và các hooc mon còn giúp cơ thể bảo vệ sức khỏe. Muốn đến tình yêu cũng phải qua dạ dày là vì vậy.



Khi cơ thể được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, hệ tiêu hóa, hô hấp và hệ bạch huyết sẽ biến chất dinh dưỡng thành máu, sau đó hệ tuần hoàn có nhiệm vụ đưa máu tới tất cả các tế bào. Nếu có đủ máu nhưng hệ tuần hoàn làm việc kém hoặc các mạch máu bị nghẽn, máu không đến được các tế bào thì cũng trở lên vô ích.

1. 2. Thức ăn là gì ?

Thức ăn là tất cả những chất cần cho cơ thể tồn tại và phát triển, những thứ này giới chuyên môn gọi là Dinh Dưỡng.


Người ta tạm chia sinh vật trên trái đất thành hai loại: sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng. Sinh vật tự dưỡng chủ là thực vật – là những nhà máy sinh học tinh vi nhất, chúng dùng năng lượng của thiên nhiên là các hạt vũ trụ để biến CO2 thành O2 và Các bon. Chúng thải O2 ra ngoài không khí để động vật hô hấp còn lại C cùng với các nguyên tố hóa học tự nhiên được hút từ đất lên chúng tổng hợp thành các hợp chất hữu cơ như đường, mỡ, đạm và hàng ngàn hợp chất hữu cơ khác. Các sinh vật DỊ DƯỠNG lại ăn các hợp chất hữu cơ do sinh vật tự dưỡng tổng hợp. Như vậy có nghĩa là con người trực tiếp ăn thực vật và động vật – gián tiếp ăn tất cả các chất có trong tự nhiên.


Vậy trong tự nhiên có bao nhiêu chất? Cho đến năm 2005, con người mới phát hiện trên trái đất có 94 nguyên tố hóa học tự nhiên và 22 nguyên tố tìm thấy bằng máy gia tốc hạt trong phòng thí nghiệm ( tổng số là 116 ). Bằng kiến thức và thiết bị phân tích hiện có, con người mới tìm được trong thực vật có 74 nguyên tố hóa học tự nhiên, trong con người có 50 chất gồm cả các chất độc như nhôm, chì, thủy ngân và asen. Tin rằng khi có đủ điều kiện và phương pháp phân tích, lúc đó con người sẽ tìm được đủ các nguyên tố hóa học trong tự nhiên ở thực vật và con người.

1.3. Ăn bao nhiêu cho đủ

Tìm xem có bao nhiêu chất có trong thức ăn đã khó, biết được con người cần bao nhiêu chất càng khó, vậy thì làm sao mà biết được ăn bao nhiêu là đủ.Nếu ăn nhiều sẽ bị rối loạn tiêu hóa và rối loạn dinh dưỡng dẫn đến bệnh, thậm chí bội thực mà chết, nếu ăn ít thì bị suy dinh dưỡng cũng chết do đó phải ăn đủ để tạo ra sự cân bằng trong cơ thể.



Vậy làm sao để tạo ra sự cân bằng ?

Nguyên lý của sự tồn tại và phát triển là Cân Bằng. Trái đất muốn tồn tại phải có sự cân bằng giữa lực ly tâm và hướng tâm…Ngay từ những năm 460 trước công nguyên, Hippocrats – ông tổ của Y học Hy lạp đã nêu nên thuyết cân bằng của 4 thể dịch: Máu, đờm, mật đen, mật vàng. Triết học Phương đông thì đưa ra thuyết cân bằng Am Dương. Mặc dù y học châu Âu, Ấn Độ và Trung Quốc rất khác nhau, nhưng tất cả đều xem sự cân bằng của cơ thể là yếu tố quyết định đến sức khỏe con người.



Xin đưa ra công thức cân bằng như sau:

G v =g 1 + g 2 + g 3 + g 4

Trong đó:

G v : là tổng các chất vào cơ thể qua miệng, mũi, da.

g 1 : là tổng các chất dinh dưỡng cần thiết để tạo tế bào mới thay cho các tế bào đã chết.

g 2 : là tổng các chất dinh dưỡng cần cho các tế bào sống.

g 3 : là tổng các chất ding dưỡng dự trữ tại các mô.

g 4 : là tổng các chất ding dưỡng và vật lạ bị thải loại qua hệ bài tiết và tiêu hóa.

Nếu:

1.G v =g 1 + g 2 + g 3 + g 4 …thì con người ở trạng thái tồn tại và phát triển bình thường.

2.G v >g 1 + g 2 + g 3 + g 4…thì con người bị rối loạn chuyển hóa dương, tức là sinh ra nhiều bệnh khó chữa như béo phì, tim mạch, cao huyết áp, vô sinh thứ phát, ung thư… và dễ chết đột tử.

3.G v 1 + g 2 + g 3 + g 4 …thì con người bị suy dinh dưỡng, bị rối loạn chuyển hóa âm dẫn đến lao lực, HIV và nhiều bệnh phổ thông.



Ăn bao nhiêu?

Tạm thời người ta mới tìm ra khoảng hơn 100 chất chia thành các nhóm dinh dưỡng đa lượng, vi lượng, siêu vi lượng đó là : Nước, Protit, lipít, gluxit ; Khoáng chất ; các Vitamin ; Các axít amin. Căn cứ vào năng lượng sản sinh từ Protit, đường và mỡ, kết hợp với số năng lượng tiêu hao của từng công việc người ta tạm xây dựng các khẩu phần ăn cho các lứa tuổi, các công việc khác nhau. Có 2 cách tính nhu cầu chất dinh dưỡng lớn cho cơ thể, đó là tính theo 1 kg thể trọng và tính theo tổng nhu cầu năng lượng, nhưng theo tôi dùng cách tính theo kg thể trọng là tốt nhất.


LƯỢNG NHU CẦU HÀNG NGÀY VỀ DINH DƯỠNG

Đơn vị là gam trên 1 kg thể trọng

ĐỘ TUỔI

NĂNG LƯỢNG KCAL/KG

NƯỚC ML/KG

PROTEIN G/KG

LIPIT G/KG

ĐƯỜNG G/KG

1 tháng

119 -120

130 – 160

3.5

6

12

6 tháng

100 – 110

120 – 150

3.5

4

12

1 tuổi

90 – 100

110 – 130

3.0

3.5

12

4 tuổi

80 – 90

90 – 100

2.5

3.0

15.5

7 tuổi

70 – 80

70 – 90

2.0

2.5

13

10 tuổi

60 – 70

60 – 85

1.8

2.5

13

13 tuổi

50 – 60

50 – 65

1.7

2.5

10

15 tuổi

40 – 50

45 – 55

1.4

2.5

10

Người lớn

40 – 45

40 – 50

1.0

2.5

10

Căn cứ vào độ tuổi và trọng lượng của mỗi người ta có thể tính được nhu cầu một số chất dinh dưỡng cần cung cấp trong ngày.


Ví du: một trẻ 15 tuổi có trọng lượng 50 kg thì:

- Nhu cầu năng lượng là 50 kg x 45 kcal = 2 250kcal

- Nhu cầu nước là 50 kg x 50 ml = 2 500ml

- Nhu cầu chất đạm là 50 kg x 1,0g = 50gam

- Nhu cầu lipit ( mỡ ) là 50 kg x 2,5 g = 125gam

- Nhu cầu gluxit ( đường ) là 50kg x 10g = 500gam

Từ nhu cầu này kết hợp với bảng thành phần dinh dưỡng ta sẽ xây dựng khẩu phần ăn cho phù hợp.


THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG MỘT SỐ THỨC ĂN THÔNG THƯỜNG

Lượng tính cho 100 g

Tên thức ăn

NL.

Kcalo

Protein

Chất béo

Đường

Gạo tẻ

347

7,9

0,6

77,5

0,8

Cơm gạo tẻ

114

2,5

0,2

25,6

0,4

Thịt lợn

395

13,2

37

6,8

0

Đậu phụ chiên

140

16,2

3,6

10,7

0,8

Giá đậu

18

2,1

0,1

2,1

0,8

Trứng gà sống

138

12,7

9,0

1,5

0

Cá trắm sống

112

16,6

5,2

0

0

Tôm sống

79

16,8

0,6

1,5

0

Rau muống

20

2,2

0,3

2,0

1,4

Sữa bò

54

3,0

3,2

3,4

0

( Muốn tìm hàm lượng dinh dưỡng chín ta lấy hàm lượng tươi giảm đi 30 %)

1.4. Ăn như thế nào cho đủ lượng và chất

Ăn thế nào cho đủ lượng và chất là một vấn dề cực kỳ nan giải, nó làm đau đầu các nhà nghiên cứu về sinh hóa và dinh dưỡng bởi lẽ cho đến nay con người vẫn không thể biết được cơ thể cần bao nhiêu chất và mỗi độ tuổi, mỗi công việc, mỗi hoàn cảnh, mỗi kg thể trọng của nam, của nữ cần số lượng từng chất là bao nhiêu.



Tuy mới tìm được gần 50 nguyên tố hóa học tự nhiên và hơn 100 hợp chất có trong cơ thể nhưng con người vẫn chưa biết hết được vai trò sinh học của chúng. Chính từ những hạn chế này làm cho việc bảo vệ sức kỏe con người không đạt được kết quả mong muốn.



Trong lĩnh vực ăn, hiện loài người có hai trường phái: ăn chay và ăn mặn. Ăn chay là chỉ ăn thực vật, ăn mặn là vừa ăn động vật, vừa ăn thực vật. Xét thấy cả hai trường phái đều đúng về mặt nguyên lý sinh học.

Trường phái ăn mặn nghiêng về phía các bác sỹ dinh dưỡng thì cho rằng vì thực vật không đủ dinh dưỡng, thiếu các axít amin cần thiết nên con người phát triển không tốt. Nói như vậy là sai vì thực vật không chỉ có những axít amin có thể thay thế mà có cả những axít amin không thể thay thế, có protit, có lipit, gluxit, nước,. khoáng chất… cho nên có nhiều người ăn chay là khoa học gia, chính trị gia, văn nghệ sỹ như: Nhà toán học nổi tiếng Pythagore, vị lãnh đạo của Ấn Độ Mohanada Gandhi, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng Albert Einstein, danh họaLéonard de Vinci….


Trường phái ăn chay cho rằng ăn mặn bị bệnh hiểm nghèo, ý kiến này không đúng, nguyên nhân gây bệnh là do con người ăn động vật có chất độc và động vật bị bệnh. Nếu động vật chỉ ăn thực vật và các chất trong tự nhiên chắc chắn sẽ không có chất độc trong động vật. Các nhà chuyên môn quên một nguyên lý là : Thức ăn của thực vật có nguồn gốc tự nhiên, thức ăn của một số động vật và Người là thực vật, do đó họ đã dùng sự hiểu biết hữu hạn của mình can thiệp vào tự nhiên vô hạnbằng cách tổng hợp ra gần 300 hóa chất như thuốc tăng trưởng, hooc mon, Vitamin…, bón cho động, thực vật. Chính các hóa chất không có nguồn gốc tự nhiên đó gây bệnh cho động vật rồi con người lại ăn những chất độc đó từ động vật và sinh bệnh. Naturophathy – liệu pháp tự nhiên – là một nghành y học dựa trên việc chỉ dùng các chất thiên nhiên để trị bệnh cho rằng : Các chất không thiên nhiên được cho là nguồn gốc của hầu hết các bệnh.



Vì vậy muốn có đủ chất dinh dưỡng phải thường xuyên ăn đủ lượng nhiều loại thức ăn vô hại ( không có độc tố ) khác nhau có trong tự nhiên hoặc được nuôi trồng tự nhiên. Đồng thời phải giảm thất thoát dinh dưỡng tới mức thấp nhất trong quá trình sơ chế thức ăn. Ăn đủ chất dinh dưỡng nhưng phải đưa các chất dinh dưỡng tới tất cả các tế bào của cơ thể. Đây là yếu tố quyết định tới hiệu quả của việc ăn. Thảo dược tốt nhất giúp đưa chất dinh dưỡng tới các tế bào của cơ thể là Gừng



2. UỐNG

Nước nguyên chất có công thức phân tử là H 2 O, là thành phần lớn nhất cấu thành cơ thể. Hàm lượng nước trong cơ thể nam chiếm 60 %, trong nữ chiếm 50 %. Hàm lượng nước ở trẻ em cao hơn người lớn, người già thấp hơn thanh niên. Nếu lượng nước trong cơ thể mất đi 20 % thì con người không thể sống được.

Nước có chức năng :


- Làm dung môi cho chất dinh dưỡng, giúp cho việc hấp thu và vận chuyển thức ăn trong cơ thể.

- Làm dung môi cho các chất chuyển hóa, giúp thải cặn bã ra ngoài cơ thể kịp thời.

- Là thành phần chính của hệ keo trong cơ thể và giúp cho việc hình thành và ổn định hệ keo.

- Ẩn nhiệt của nước lớn, hàm lượng nước trong dịch thể và trong máu lớn để điều tiết thân nhiệt.

- Nước làm cho các cơ quan hoạt động bình thường.

Nếu uống không đủ nước thì các cơ quan hoạt động khó khăn, nếu uống quá nhiều nước sẽ làm cho dịch tiêu hóa loãng, làm suy yếu chức năng tiêu hóa, thậm chí gây ngộ độc nước.

Vậy uống nước nào là tốt. Hiện có rất nhiều loại nước khác nhau, nước tinh khiết được lọc bằng sứ nhằm loại bỏ các tạp chất và vi khuẩn, nước máy được lắng lọc và khử trùng bằng Flo, nước đun sôi để nguội, nước ép hoa quả,… nhưng tốt nhất là uống nước ép thảo dược vì nó vừa bổ dưỡng, kháng khuẩn và chống lão hóa, nếu không thì nên uống nước đun sôi để nguội vì nó có nhiều khoáng chất mà lại không có hóa chất tiệt trùng.

3. THỞ

Không khí sạch có thành phần cơ bản gồm 78,08 % N2 , 20,95% O xy, 0,94 % các loại khí trơ, 0,03% Khí CO 2 , hơi nước, các tạp chất như bụi, khí độc… Hãy thở không khí trong lành bình thường

III. PHÒNG BỆNH


Muốn không có bệnh thì phải loại trừ các nguyên nhân gấy bệnh. Như chúng ta đã biết, thế giới này tồn tại dựa trên nguyên lý cân bằng theo vòng tuần hoàn của tự nhiên, không có cái nào quyết định cái nào, điều này dân gian đã đúc kết qua câu nói của anh Hề: “ Trời sợ mây, mây sợ gió, gió sợ bờ tường, bờ tường sợ chuột cống, chuột cống sợ mèo già, mèo già sợ hề, hề sợ quan, quan sợ vua, vua sợ Trời, Trời sợ mây…..”. Tôn đại thánh giỏi như vậy nhưng đã có vòng kim cô để chế ngự, nếu không có vòng kim cô thì trái đất sẽ tan tành trước bàn tay của Tề thiên.


Trời sinh ra bệnh SIDA thì Trời lại sinh ra mướp đắng có protein MP-30 chống lại HIV, trời sinh ra vi rút H5N-1 thì trời lại sinh ra Hoa hồi có acid shikimik chống lại vi rút cúm H5N1….


Điều này là quy luật vì nếu có một loại nào đó vô địch thế giới thì trái đất không tồn tại, nếu có một loại vi khuẩn gây bệnh nào đó không có biện pháp nào diệt nổi thì không còn trái đất, có nghĩa là mọi bệnh tật đều có cách chữa được, các chất chữa bệnh đó đều có ở trong thiên nhiên là cây cỏ và khoáng chất. Chỉ có điều khi nào thì tìm ra chúng.


Tạo hóa tạo ra con người một cách cực kỳ hoàn chỉnh trên nguyên lý cân bằng. Trong mỗi con người đã sẵn có Hai hệ bảo vệ : Thứ nhất là hệ enzym tu sửa các sai lệch trong cấu trúc AND đã mắc phải, thứ hai là Hệ enzym và chất chống oxy hóa ngăn chặn các nguyên nhân sai lệch.


Hệ ngăn chặn sai lệch chia thành hai tuyến: Tuyến thứ nhất nằm tại tất cả những nơi tiếp xúc giữa cơ thể với môi trường bên ngoài gồm nước bọt, mồ hôi, chất nhờn, chất nhày, dịch trong âm đạo, nước tiểu, lông rung, ráy tai để tiêu diệt và loại vật thể lạ khi chúng mới xâm nhập vào cơ thể. Tuyến thứ hai ở trong cơ thể đó là các chất chống Oxy hóa, các kháng thể, tế bào lympho T, tế bào limpho B, gây ra các phản ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu để tiêu diệt các vật lạ đã vượt qua được tuyến bảo vệ thứ nhất.


Muốn cho hệ thống tự bảo vệ cơ thể làm việc tốt thì ta phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để các hệ thống này có đủ cơ chất để làm việc đúng chức năng của chúng.

1. Chống nhiễm độc, nhiễm vi khuẩn và kịp thời thải loại chúng

1.1. Chống nhiễm độc và thải loại chất độc

Chất độc xâm nhập cơ thể sẽ phá hủy tế bào, nếu nhiễm nhiều sẽ gây tử vong, nếu nhiễm ít sẽ nhiễm độc mãn làm rối loạn chuyển hóa và sẽ tích tụ trong mô cơ, mô mỡ gây dị biến thai nhi, vô sinh ung thư và nhiều bệnh nan y khác.


Cho đến nay giới chuyên môn đã tổng hợp được hơn 90.000 chất hóa học khác nhau, những chất hóa học này được dùng cho việc chế ra các hàng công nghiệp, nuôi trồng, hàng tiêu dùng và chế vào thực phẩm.


Để hạn chế độc hại, các nhà chuyên môn đã khống chế hàm lượng trong sản phẩm bằng cách đưa ra những giới hạn an toàn, nhưng qua một thời gian thì những giới hạn đó không thực sự đảm bảo an toàn cho con người. Thực tế đã chứng minh: những chất do con người tổng hợp khi nhiễm vào cơ thể đều gây hại cho sức khỏe. Đúng như dự đoán của giới khoa học phương tây: Nền văn minh tăng nhưng nhân loại thoái bộ vì: Sau mỗi một thành công của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào cuộc sống là một thảm họa cho loài người:


Khi nghiên cứu ra một loại sản phẩm nào đó, con người không lường hết được tác hại của nó nên đã đưa ra những biện pháp ngăn ngừa chủ quan và không toàn diện dẫn đến những hậu quả thảm hại.


Có thể nói, hiện nay con người đang tắm và tẩm chất độc vì chất độc có trong không khí, nước và tất cả các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng và thực phẩm. Chất độc xâm nhập cơ thể qua : Thực quản – ăn uống, qua khí quản – thở , qua da.


Để ngăn ngừa nhiễm độc chúng ta phải ăn sạch, uống sạch, thở sạch và hạn chế tiếp xúc với chất độc. Khi có nhiễm độc phải kịp thời loại bỏ chất độc khỏi cơ thể.


1.2. Làm sao loại bỏ được chất độc một cách kịp thời ?

Con người không thể biết được chất độc xâm nhập cơ thể lúa nào, số lượng bao nhiêu, loại gì do đó cách loại trừ chất độc tốt nhất là ăn hoặc uống nước ép thảo dược hàng ngày vì thảo dược có khả năng thải độc tốt nhất, các chất có trong thảo dược không chỉ thải chất độc ra ngoài mà còn làm mất tác dụng của chất độc.

2. Chống nhiễm vi sinh vật có hại và kịp thời tiêu diệt khi chúng xâm nhập cơ thể.

Vi khuẩn

Vi khuẩn có nhiều loại khác nhau

A. Hình que – trực khuẩn – Bacillus

B. Hình cầu – coccus, tạo thành chuỗi – streptococuccus

C. Hình cầu tạo đám – staphylo

D. Hình tròn sóng đôi – deplo

Song cầu khuẩn – deplocococus

E. Hình xoắn – Xoắn khuẩn – spirillum, spirochete

F. Hình dấu phẩy – phẩy khuẩn ( vibrio)

Để nhận biết vi khuẩn, người ta dùng biện pháp nhuộm màu Gram – tên của nhà vi trùng học Hans christan Gram. Nếu vi khuẩn bắt màu thì gọi là Vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn không bắt màu gọi là Vi khuẩn Gram âm .Vi khuẩn có loại có hại và có loại vô hại. Khi vi khuẩn có hại xâm nhập cơ thể chúng sẽ tiêu diệt tế bào, gây rối loạn chuyển hóa, sinh ra độc tố để tiêu diệt tế bào. Vi khuẩn có kích thước rất nhỏ từ 0,2 micromet đến 5 micromet chúng ở khắp mọi nơi, trong nước, không khí, trên đồ dùng hàng ngày.


Mỗi lần thở ta hít vào vài nghìn vi khuẩn. Trên da người có hơn 100 triệu vi khuẩn với 250 loài khác nhau. Điều đáng buồn là các hóa chất do con người tạo ra đã làm cho các vi khuẩn biến tính khó tiêu diệt. Trong điều kiện thuận lợi vi khuẩn phát triển theo cấp số nhân, một con vi khuẩn sau 20 phút sinh ra 2 con, sau 40 phút sinh ra 4, sau 60 phút sinh ra 16, sau 80 phút sinh ra 256, sau 100 phút sinh ra 65 536, sau 120phút sinh ra 4.294 967 296 vi khuẩn.


Khi vi khuẩn xâm nhập cơ thể chúng sẽ sinh nở đạt tới một số lượng gây bệnh, thời gian này gọi là thời kỳ ủ bệnh. Chúng ta chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn một cách hữu hiệu khi chúng mới xâm nhập hoặc còn ít bằng cách uống nước giải khát thảo dược mỗi ngày. Có những thảo dược diệt được cả vi khuẩn gram âm và gram dương.


Vi rút:


Vi rút
là những vi sinh vật siêu hiển vi có kích thước từ 20 nm đến 500 nm, chưa có cấu tạo tế bào, chỉ gồm 2 thành phần cơ bản là vỏ protein – gọi là Capsid, và vật chất di truyền ADN hoặc ARN ( một mạch hoặc hai mạch), một số vi rút phức tạp có thêm màng bọc là lipopolisaccharit hoặc lipoprotein, có thể thêm enzim đặc trưng.


Vi rút là vi sinh vật ký sinh bắt buộc, chỉ sinh trưởng nhân lên trong tế bào chủ đang có trao đổi chất, khi ở ngoài cơ thể chủ, vi rút tồn tại ở trạng thái phân tử khổng lồ nucleocapsid có tính gây nhiễm. Một số vi rút trong những điều kiện nhất định có thể hình thành tinh thể, vì vậy đôi khi còn gọi là vi rút hạt

. Hình dạng và kích thước Vi rút

- Một chỉ số quan trọng quyết định gây nhiễm vi rút là tỷ số giữa số lượng vi rút và tế bào chủ, đượcgọi là ngưỡng lây nhiễm:

- V

M = ———-

N

M – là ngưỡng lây nhiễm

V – là số lượng vi rút có thể lây nhiễm

N – là số lượng tế bào chủ ứng với vi rút gây độc.

Nhiều thực nghiệm xácđịnh để nhiễm bệnh tế bào thực vật cần tới 105 hạt vi rút ( qua vết xước, lông , nếu tiêm chích thì cần ít hơn). Để lây nhiễm cho tế bào thực vật thì cần 10 – 100 hạt vi rút, với vi khuẩn, chỉ số này là 1-10 hạt.


Vì vi rút nhỏ và thường sống ký sinh trên vi khuẩn nên rất dễ nhiễm vào cơ thể trong mọi điều kiện và mọi hoàn cảnh.


Cách chống nhiễm khuẩn tốt nhất là khử trùng mọi đồ vật và đồ ăn, thức uống, tránh xa các khu vực có dịch bệnh và khi bị nhiễm khuẩn phải tìm cách tiêu diệt kịp thời, không cho chúng phát triển bằng cách uống nước thảo dược thường xuyên.

IV. Chống lại tác động của các yếu tố vật lý

Vật lý là các hình thái và các cơ cấu vận động của vật chất và phi vật chất trong tự nhiên. Yếu tố vật lý sẽ tác động tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Các hiện tượng vật lý gồm: Vi khí hậu, cơ học, sóng điện từ, phóng xạ, sóng âm.


Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp, gồm nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động không khí.


+ Nhiệt độ cao. Cơ thể người có nhiệt độ không đổi trong khoảng 37o C ± 0,5 là nhờ trung tâm điều khiển nhiệt. Khi nhiệt độ cao, cơ thể thải nhiệt bằng cách dãn mạch ngoại biên và tăng tiết mồ hôi. Chuyển 1 lít máu từ nội tạng ra da thải được 2,5 kcal và nhiệt độ hạ được 3 o C. Một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải được 580 Kcal. Khi trời lạnh, cơ thể tăng sinh nhiệt, hạn chế thải nhiệt.


THANG CẢM GIÁC NHIỆT ĐỘ THEO NHIỆT ĐỘ DA TRÁN

Nhiệt độ da trán o C

Cảm giác nhiệt

Nhiệt độ da trán o C

Cảm giác nhiệt

28 – 29

29 – 30

30 – 31

Rất lạnh

Lạnh

Mát

Dễ chịu

31,5 – 32,5

32,5 – 33,5

> 33,5

Nóng

Rất nóng

Nóng ngạt

Chuyển hóa nước. Trong cơ thể người ở trạng thái bình thường có sự cân bằng giữa nước ăn uống 2,5 – 3 l/ngày và nước thải ra 1,5 l qua thận, 0,2 l qua phân, còn lại theo mồ hôi và hơi thở ra ngoài. Kèm theo mồ hôi, cơ thể mất 20 g muối, và các chất khoáng như I, K, Na, Ca, Fe… và một số sinh tố như C, B…Do mất nước nên khối lượng máu, tỷ trọng, độ nhớt của máu thay đổi, tim làm việc nhiều và chức năng của thận ảnh hưởng, dịch vị bị loãng nên mất cảm giác thèm ăn, ăn mất ngon, chức năng tiệt trùng của dịch vị hạn chế làm cho dạ dày, ruột dễ bị viêm nhiễm, chức năng chống độc của gan giảm. Chức phận của hệ thần kinh ảnh hưởng.


Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp. Da trở lên xanh lạnh, nếu nhiêt độ da dưới 33 o C. Lạnh làm giảm nhịp tim và nhịp thở nhưng mức tiêu thụ Oxy cao do cơ và gan làm việc nhiều để chuyển hóa sinh nhiệt. Nếu lạnh nhiều, cơ vân và cơ trơn co lại theo kiểu rét run, nổi da gà nhằm sinh nhiệt để chống rét. Lạnh làm giảm sức đề kháng miễn dịch gây ra các bệnh đường hô hấp.


Vì vậy chúng ta không nên làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao hoặc thấp quá. Hạn chế vận động nặng, nếu mất nhiều nước ta phải kịp thời bổ sung nước và các chất dinh dưỡng đã bị mất.


Tác động cơ học. Tác động cơ học như va đập sẽ gây chấn thương, dập nát một phần hoặc toàn bộ cơ thể, vì vậy phải có thiết bị bảo vệ trong các môi trường có nguy cơ va chạm mạnh.


Bức xạ điện từ. Là những sóng điện từ, các hạt từ vũ trụ, vật phát nhiệt như tia hồng ngoại… Tia hồng ngoại có bước sóng 400 – 700 nm, tia hồng ngoại có sức rọi sâu vào da tới 3 cm làm bỏng da, có thể xuyên qua xương sọ vào tổ chức não, làm cơ thể dễ bị say nắng. Tia hồng ngoại còn làm đục nhân mắt, mù mắt.


Tia tử ngoại UV có bước sóng từ 400 – 7,6 nm, được chia làm 3 loại: UV A có bước sóng từ 400-315 nm, UV B có bước sóng từ 315 – 280 nm, UVC có bước sóng dưới 280 nm có tác dụng tiệt trùng mạnh. Tia tia X có bước sóng từ 10 nm đến 100 picomet, tia gama có bướcsóng


- Chất phóng xạ hạt nhân và các tia phóng xạ.


Để đề phòng các bệnh do bức xạ điện từ ta không nên đi đầu trần vào những lúc có cường độ nắng cao, nên tránh xa các vùng có bức xạ điện từ, chất phóng xạ, tránh xa vùng phủ sóng vô tuyến , ra da… hạn chế sử dụng sóng điện thoại di động. Có một loại thảo dược có khả năng thải loại chất phóng xạ rất tốt đó là cây giền tía. Cây này được ghi vào sách đỏ và đang được bảo tồn hạt giống tại Mỹ và nhiều nước khác.


Tiếng ồn có tần số và cường độ cao hơn ngưỡng cho phép sẽ ảnh hưởng tới thính giác, gây rối loạn cơ quan thần kinh, làm thay đổi sự hoạt động của hệ thống tim mạch.


Chấn động cũng là yếu tố làm ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, giảm thị lực, làm rối loạn chức năng sinh dục ở nữ, làm liệt dương ở phái nam. Nếu chấn động với tần số 20 hz và biên độ 1,6 mm sẽ làm giảm độ tinh của mắt tới 40 %.


Cách chống lại tác động của các yếu tố vật lý là:

- Uống nước sạch

- Tránh đi nắng vào giờ cao điểm từ 9 giờ đến 16 giờ.

- Tránh và tìm các loại trừ điều kiện làm việc có tiếng ồn, tránh hoặc có biện pháp chống lại bụi, sóng điện từ và các tia bức xạ. không nên ngồi gần và đối diện với máy thu hình và màn hình máy vi tính. Nên để màn hình máy tính lệch khảong 10 độ.

- Hạn chế làm việc lâu trong phòng lạnh.

- Không nên ngồi làm việc quá lâu mà phải đi lại để tăng cường lưu thông máu.

V. Yếu tố thần linh

” Phú quý là cạm bẫy của trời,
bần hàn là trường học của trời,
hoạn nạn là roi vọt của trời”
Cổ ngữ

Khi làm bậy thì Trời Phật, Thánh Thần sẽ trị và đã trị thì không người trần mắt thịt nào có thể cứu chữa nổi. Tâm linh là một vấn đề tế nhị và ít có tài liệu nghiên cứu công khai, nhưng ta có thể hiểu một điều rất đơn giản theo thuyết nhân quả của Nhà Phật : Hãy sống thiện.


Không một “bề trên” nào bảo vệ và bênh vực cho kẻ ác, ông, bà, cha mẹ và người thân khi còn sống luôn vì con cái “ cá chuối đắm đuối vì con”…, sẵn sàng nhịn cho con ăn, nâng niu ấp ủ con, nhưng khi con hư thì sẵn sàng quát, cho vài bạt tai, cho vài roi nhằm rèn cho con trở thành người tốt. Khi quá cố không một ai hại con cháu, nhưng cũng sẵn sàng làm cho con cháu điên lên, làm con cháu bị bệnh để rèn con cháu sống tốt hơn.


Người viết mới nghe một nữ bác sỹ ở Lạng Sơn cho biết: Chị học khóa 1 khoa sản trường đại học Y Khoa Hà nội, nay về hưu lại đi theo nghề tâm linh gọi hồn, chị đã đọc một tài liệu tâm linh của Bộ công an, trong tài liệu này có đoạn nói: từ năm 2002, nếu ai làm bậy là thánh thần trị ngay.


Nếu đúng vậy thì Trời phật qủa là có mắt và đã đổi mới phương pháp giáo dục. Trước đây nếu một ai làm bậy thì Trời Phật sẽ làm cho con cháu họ bị bệnh tâm thần và bệnh nan y, để cho họ chứng kiến cái hậu quả làm bậy của họ: “ đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, để người làm bậy phải móc hết tiền của đã ăn cắp chạy chữa cho con “ của thiên trả địa”, để họ tự dằn vặt suốt đoạn đời còn lại.


Nhưng phương pháp đó hiệu quả không cao nên từ năm 2002, Trời Phật quyết định : “ Ăn mặn thì khát nước ngay” cách này xem ra rất logic, kẻ nào làm sai kẻ đó chịu. mà không bắt con cháu kẻ làm sai phải chịu. Tài sản ăn cắp thì phải tịch biên tài sản, số tiền còn lại không tịch biên nếu con anh dùng thì chúng sẽ hút chích, chơi gái gây bệnh SIDA, nếu vợ anh dùng thì vợ anh sẽ được người khác xài, còn anh phải vào TÙ để hàng ngày nhĩ đến cảnh:

“ Suốt đời chông gai

bây giờ báo hại

con mình nó sai

vợ mình nó xài “

Dân gian có câu “ hy sinh đời bố, củng cố đời con” nên hiểu là đời bố phải bớt ăn, bớt tiêu, chịu vất vả làm lụng để cho con học hành thành tài chứ không phải kiếm tiền bất chính cho con rồi bố thì vào tù, nếu hiểu và làm như vậy thì chẳng khác nào:


“ Hy sinh đời cố

khủng bố vợ con

họ mạc không còn

chết, hòm không có “


Vậy thì cách phòng bệnh tâm linh tốt nhất là : HÃY SỐNG THIỆN, LÀM VIỆC THIỆN! phải thực hiện câu “ Đời cua, cua máy, đời cáy cáy đào”, chớ cạy có quyền, chức mà vơ của thiên hạ cho con.

VI. Ngăn ngừa bệnh tật khi mang thai

Khi mang thai, thai nhi là một phần của cơ thể mẹ. Mọi sự cố xảy ra đối với mẹ cũng đều tác động đến thai nhi, vì vậy phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho sức khỏe người mẹ. Nếu người mẹ bị bệnh mà lạm dụng thuốc kháng sinh sẽ làm cho trẻ phát triển không bình thường, thai nhi dễ bị dị tật.


1. Khám chữa bệnh trước khi kết hôn và trước khi muốn sinh con
Bổn phận của mỗi người là đảm bảo sự phát triển nòi giống, nếu mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh nan y thì tốt hơn hết không nên kết hôn hoặc kết hôn thì đành không nên sinh sản, bởi lẽ đứa trẻ sinh ra thường không được hoàn thiện . Điều này vừa là nỗi buồn cho cha mẹ trẻ và là gánh nặng của xã hội. Chính vì vậy trước khi kết hôn cần phải khám bệnh để quyết định tương lai gia đình.


2. Trong quá trình mang thai

Điều mà Người bố, người mẹ lo sợ nhất mà không ai dám nói ra là đứa con sinh ra bị dị tật và ốm yếu, chỉ khi đứa trẻ sinh ra hoàn thiện thì bố mẹ mới thở phào nhẹ nhõm. Vì vậy quá trình mang thai vô cùng quan trọng.


Phải ăn uống cho đủ lượng và chất phù hợp với khẩu phần của người mang thai, nhớ rằng lúc này người mẹ và bào thai là một – Mẹ ăn uống thức gì thì bào thai ăn uống thức đó, . không nên ăn uống những thứ độc hại, hãy tránh xa thức ăn chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ hộp. Ba tháng đầu người mẹ thường bị nôn, cách tốt nhất là uống nước gừng, ăn gừng để chốn nôn vì gừng có khả năng chống nôn hơn vitamin B 6 lại có nhiều chất dinh dưỡng như Caroten, …kẽm, sẽ làm thai nhi khỏe mạnh nên sau này không bị loạn thị. Không nên tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, hạn chế và không nên dùng thuốc kháng sinh. Nhớ rằng con có khỏe mạnh, thông minh, không bị dị tật là ở giai đoạn này.


Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể tự làm cho mình khoẻ mạnh nếu chúng ta biết dùng thuốc làm đồ ăn thức uống. Và cách tốt nhất là hãy uống nước ép thảo dược phương thảo mỗi ngày vì nước ép thảo dược vừa có đủ thành phần các chất dinh dưỡng và các chất có khả năng thải độc và kháng khuẩn, gừng sẽ giúp tăng cường hệ tim mạch để đưa máu tới các tế bào của cơ thể.


Thảo dược tốt nhất vừa có tác dụng bổ dưỡng, kháng khuẩn, thải độc và chống lão hóa giúp cơ thể luôn khỏe chính là GỪNG, BỒ CÔNG ANH THẤP, RIỀNG NÚI, CẢI CỦ, MƯỚP ĐẮNG, DỀN TÍA.

Phương Thảo (Theo Thái Bình)


Muốn cho trẻ

KHỎE rồi cần phải TRẺ

Biểu hiện của tuổi già là chân yếu, mắt mờ, tóc bạc, da nhăn nheo dẫn đến chóng chết nên không ai thích già. Phần trên ta đã nghiên cứu làm thế nào cho khỏe, nhưng khỏe phải TRẺ để sống lâu, để tận hưởng cuộc sống tươi đẹp mà trời phật ban cho. Từ xưa đến nay loài người luôn tìm cách để con người trẻ mãi không già. Trong chuyện Tây du ký, khi biết ăn thịt Đường Tăng sẽ sống lâu nên mọi thế lực hồi đó từ yêu quái đến các bậc Tu hành đều luôn tìm mọi cách ăn thịt Đường Tăng.

Có khá nhiều học thuyết về sự già:

Học thuyết tự thân trúng độc cho rằng già yếu là do trong người tích tụ chất độc.
Thuyết biến chất Albumin cho rằng cơ thể già yếu bắt đầu từ sự già yếu của tế bào, albumin bị biến đổi keo vón lại làm cho hoạt tính enzim giảm sút từ đó dẫn đến già yếu.

Thuyết chồng chéo cho rằng già yếu là kết qủa của những phản ứng trùng lặp chồng chéo nhau làm cho việc hợp thành chất Albumin bị rối loạn, ảnh hưởng tới sự sống còn của tế bào.

Thuyết chức năng miễn dịch giảm sút làm cho cơ thể dần dần già yếu.

Thuyết rối loạn tuyến nội tiết sẽ làm tăng nhanh tốcđộ già yếu của con người.

Thuyết điều tiết thích ứng cho rằng sự già yếu phát sinh trong gien điều tiết.

Sự lão suy của sinh vật nói chung và của con người nói riên là không thể tránh khỏi, nhưng làm châm lại sự lão suy thì chúng ta có thể làm được bằng cách ăn uống đủ chất dinh dưỡng để tạo ra sự cân bằng trong qúa trình chuyển hóa đồng thời loại bỏ đến mức thấp nhất các gốc tự do trong cơ thể.

Vậy bí quyết làm cho trẻ nằm ở vấn đề ĂN và sự chuyển hóa trong cơ thể. Trước tiên phải có năng lượng và dưỡng chất để tế bào tồn tại, sau đó là giảm tốc độ chuyển hóa của tế bào. Ăn chúng ta đã bàn đến và bây giờ ta bàn đến tốc độ chuyển hóa.

Công thức:

Hoạt độ của SOD

N = K × — ——————————————-

Cường độ chuyển hóa cho 1 g thể trọng

K là hằng số, không phụ thuộc loài, hệ số này tính bằng 0,998.

SOD là Enzym Superoxid dismutase hay Superoxid Oxidoreductase có mặt trong tất cả các tế bào có chuyển hóa O xy. Chức năng của các Enzym này là xúc tác quá trình phân hủy Superoxid, nó là những chất chống oxy hóa cơ bản. SOD cũng là những chất chữa bệnh rất hữu hiệu.

Như vậy, để kéo dài tuổi thọ cần :

Giảm chuyển hóa cơ bản và tăng hoạt độ enzym “ SOD” bằng các biện pháp sau:

Giảm cường độ chuyển hóa cho 1 gam thể trọng.

Tăng hoạt độ SOD.

Tăng hàm lượng các chất chống Oxy hóa.

Trong 3 biện pháp trên thì biện pháp tăng hoạt độ của SOS chưa thực hiện được nên ta tạm thời chưa bàn đến, còn biện pháp giảm cường độ chuyển hóa cho 1 gam thể trọng bằng cách ăn vừa đủ các chất dinh dưỡng và giảm cường độ vận động.

Ăn đủ là đủ chất mà giảm lượng “ Có câu tham thực cực thân “. Ăn nhiều, vận động nhiều sẽ làm tăng tốc độ chuyển hóa, tăng gốc tự do và chóng già.

Chúng ta phải nên biết: Các cây cổ thụ sống lâu nhất, có cây sống hàng ngàn năm tuổi, gỗ của chúng bền với thời gian hơn sắt thép, vì các loại cây không bao giờ tham ăn, chúng ăn vừa đủ cho nhu cầu phát triển của nó.

Với Động vật thì trai biển sống lâu nhất, người ta mới tìm được con trai biển sống qua 4 thế kỷ, sau đó Rùa là con vật sống lâu thứ hai, có con sống đến 250 năm tuổi.

Vì sao Trai và rùa lại là hai loài vật sống lậu nhất ? vì nó vừa ăn ít và ít vận động nên nó có tốc độ chuyển hóa nhỏ.

Gần đây người ta tìm thấy những vi khuẩn sống 6000 năm tuổi vì chúng giảm cường độ chuyển hóa đến mức cực thấp. Sự kiện các nhà Yoga Ấn Độ là một minh chứng, họ luyện tới mức gần như không ăn, không uống, không thở trong một thời gian dài để giảm chuyển hóa đến mức rất thấp mà sức khỏe vẫn bình thường, do đó tuổi thọ của họ rất cao.

Vậy nên chăng phải xem lại vấn đề tập thể dục trong việc kéo dài tuổi thọ. Tập thể dục sẽ làm tăng cường độ chuyển hóa của cơ thể, tuy nhất thời thể lực có tốt nhưng tuổi thọ lại thấp. Tuy nhiên các bài tập dưỡng sinh lại có lợi cho sức khỏe vì những động tác của dưỡng sinh không làm tăng chuyển hóa mà nó giúp cho máu huyết lưu thông vì các động tác rất nhẹ nhàng uyển chuyển, không tiêu tốn nhiều năng lượng.

Với biện pháp tăng hàm lượng các chất chống Oxy hóa cũng là vấn đề đáng bàn.

Qua một thời gian khá dài, các nhà sinh học, hóa học và y học cố tổng hợp ra những chất chữa bệnh, chống oxy hóa nhưng cho đến nay sự cố gắng đó gần như là một con số 0 tròn trĩnh, bởi sau thời gian sử dụng các chất chống oxy hóa đó đã bộc lộ là những sát thủ chứ không phải là cứu cánh của con người.

Năm 1930, Nhà sinh hóa nổi tiếng thế giới – Albert Szent – Gyorgui người Hungary đã tìm ra và phân lập được Vitamin C. Bạn ông bị chảy máu chân răng, ông cho bạn uống nước chanh có nhiều Vitamin C thì khỏi bệnh, sau đó bệnh tái phát, ông cho bạn ông uống Vitamin C nguyên chất thì bệnhkhông khỏi…. Và ngay từ khi đó nhà bác học đã nhận ra rằng Vitamin C không có khả năng độc lập trị bệnh chảy máu chân răng. Vậy mà từ đó đến nay vitamin C tổng hợp vẫn được sản xuất và bán tràn lan.

Hiện nay các chuyên gia vẫn đang bàn cãi về nhiều khía cạnh khác nhau của Vitamin nói chung và Vitamin C nói riêng. Các nhà khoa học thuộc viện ung thư quốc gia Mỹ đã nghiên cứu hơn 300.000 người uống vitamin tổng hợp sau đó đưa ra kết luận:“ Những ai uống vitamin tổng hợp hơn một viên/ngày có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt cao hơn 30% so với những người không uống vitamin tổng hợp”.

Các nhà nghiên cứu cho biết nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt ở những người uống bổ sung vitamin sẽ cao hơn nếu gia đình từng có người bị bệnh này hoặc có uống thêm các loại khác như viên kẽm, beta-carotene hoặc viên selen. Theo BBC, các chuyên gia khuyên nam giới nên ăn nhiều chất xơ, rau củ, trái cây và hạn chế thịt để giảm nguy cơ mắc bệnh “.

Lâu nay người ta cho rằng Vitamin E có tác dụng chống lão hóa rất tốt nên các nhà sản xuất đã tích cực quảng cáo và sản xuất Vitamin E để tung ra thị trường, nhưng họ quên một điều quan trọng: bản thân Vitamin E không thể phát huy tác dụng nếu không có Zn – kẽm.

Vì vậy, cách tốt nhất làm cho TRẺ là ăn nhiều rau quả để hấp thụ một cách tổng hợp các chất dinh dưỡng và các chất chống o xy hóa như Se, Zn,… các tiền Vitamin, các Flavoniod. Chỉ có các chất trong tự nhiên mới có khả năng chống oxy hóa một cách hữu hiệu. Có nhiều loại rau có tác dụng an thần, giảm căng thẳng thần kinh và làm xanh tóc.

Để giúp cho con người trẻ lâu thì thực vật nói chung và RIỀNG NÚI, BỒ CÔNG ANH THẤP, CẢI CỦ, MƯỚP ĐẮNG, GỪNG VÀ DỀN TÍA nói riêng là những thảo dược có nhiều chất chống oxy hóa sinh học mạnh nhất mà không có gì thay thế được.

Kết thúc phần này xin nêu một đoạn trong bài báo nói về tác dụng của gừng như sau:

Trong cuốn “Đông Pha tạp ký” của Tô Thức thời nhà Tống ở Trung Quốc có ghi chép một câu chuyện như sau: Ở trong chùa Tịnh Từ ở Tiền Đường có một vị hòa thượng, đã trên 80 tuổi rồi mà trông da mặt vẫn bầu bĩnh trắng hồng, mắt vẫn sáng long lanh như người còn trai trẻ. Có người hỏi vì sao cụ lại có được sức khỏe như vậy, thì vị hòa thượng đó nói là “đã ăn gừng sống trên 40 năm nay, cho nên người trẻ khỏe mãi không già”

Phương Thảo (Theo Thái bình)

Vị thuốc từ cây nhàu

Cây nhàu thường được người dân trồng quanh vườn để hái hoa quả làm thuốc phòng trị bệnh. Những năm gần đây, nhiều thông tin nói về công dụng bài thuốc từ trái nhàu ủ làm rượu chữa được bệnh nan y, bệnh nhân đã tìm mua rượu nhàu ngoại nhập với giá rất cao, tốn kém nhưng bệnh không thuyên giảm.

Theo lương y Lê Ngọc Vân, Chủ tịch Hội Đông y TP Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, dùng đúng cách thì giá trị chữa bệnh từ cây nhàu rất hiệu quả. Rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh giao cảm, giảm đau nhức, hạ huyết áp; quả có tác dụng nhuận tràng và lợi tiểu; lá có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt.

Theo lương y Lê Ngọc Vân, Chủ tịch Hội Đông y TP Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, dùng đúng cách thì giá trị chữa bệnh từ cây nhàu rất hiệu quả. Rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh giao cảm, giảm đau nhức, hạ huyết áp; quả có tác dụng nhuận tràng và lợi tiểu; lá có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt.

Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ cây nhàu đã được kiểm chứng qua thực tế. Chữa huyết áp cao: rễ nhàu thái nhỏ phơi khô, mỗi lần 30 – 40 gr nấu đậm uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống từ 10 – 15 ngày, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục từ 40 – 100 ngày, huyết áp sẽ ổn định. Rễ nhàu chặt nhỏ phơi khô, sao vàng (chừng 1/2 kg), ngâm với 2 lít rượu 450 trong vòng 20 ngày, trong bữa ăn uống một ly nhỏ trị được chứng bệnh hay bị đau lưng, nhức mỏi, tê bại.

Trái nhàu già rửa sạch, để ráo, ủ chín, xắt lát, trộn theo tỷ lệ 1 kg nhàu với 200 gr đường cát vàng, sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa ăn chừng hai ly nhỏ, có tác dụng: bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào bị thương tổn suy yếu, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức mệt mỏi cơ thể. Lá nhàu xắt nhỏ phơi khô, mỗi lần lấy 30 – 40 gr nấu nước uống hằng ngày điều trị các bệnh sốt rét, kiết lỵ, chứng thường nhức đầu. Lá nhàu non nấu canh với lươn, thịt bò bồi bổ cho người vừa lành bệnh, người bị suy nhược cơ thể rất hiệu quả, nhanh hồi phục sức khỏe.

Thiện Nhân

Trực Tràng

Tuyển tập các bài giảng về chuyên đề trực tràng bằng tiếng Anh
ĐH Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Current attitudes in laparoscopic colorectal surger

Laparoscopic Total Mesorectal Excision With Autonomic Nerve Preservation

Laparoscopic versus conventional open resection of rectal carcinoma: A clinical comparative study

Laparoscopic vs open total mesorectal excision with anal sphincter preservation for low rectal cancer

Laparoscopic-assisted total mesorectal excision and colonic J pouch reconstruction in the treatment of rectal cancer

Bài giảng PTNS Tai Mũi Họng

Tổng hợp các bài giảng phẫu thuật nội soi tai mũi họng
Bộ môn TMH ĐH Y Dược Tp.HCM

1. GIẢI PHẪU SINH LÝ VÙNG MŨI XOANG
Giảng viên : GS.TS. BS Nguyễn Hữu Khôi

Download

2. CÁC DỤNG CỤ PHỤC VỤ PHẪU THUẬT – KINH NGHIỆM CHỌN LỰA VÀ BẢO QUẢN
Giảng viên : Bs Nguyễn Trường Hải
Download *

3. VIÊM MŨI XOANG CẤP MẠN
Giảng viên : PGS.TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

4. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BỆNH VIÊM MŨI XOANG
Giảng viên : TS.BS Nguyễn Hoàng Nam
Download *

5. HÌNH ẢNH HỌC VÙNG MŨI XOANG
Giảng viên : BS Huỳnh Khắc Cường
Download

6. NGUYÊN LÝ CỦA PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : TS.BS Nguyễn Hoàng Nam
Download *

7. CHỌN LỰA CÁC BỆNH NHÂN CẦN PHẪU THUẬT
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

8. CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

9. KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI THÔNG THƯỜNG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

10. CÁC PHƯƠNG PHÁP VÔ CẢM DÙNG TRONG PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

11. BIẾN CHỨNG CỦA PTNS MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

12. CHIẾU VIDEO MINH HỌA KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI
Giảng viên : PGS. TS.BS Võ Hiếu Bình

13. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 1 – GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Giảng viên : GS.TS.BS Nguyễn Hữu Khôi
Download *

14. SĂN SÓC SAU MỔ NỘI SOI MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

15. CHIẾU VIDEO MINH HỌA KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI
Giảng viên : PGS.TS.BS Võ Hiếu Bình

16. KỸ THUẬT MỔ NỘI SOI NÂNG CAO
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download *

17. PHẪU THUẬT CÁC CƠ QUAN LÂN CẬN QUA ĐƯỜNG NỘI SOI MŨI XOANG
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu
Download

18. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 2
Giảng viên : PGS. TS.BS Phạm Kiên Hữu

19. THẢO LUẬN, GIẢP ĐÁP THẮC MẮC
Giảng viên : PGS.TS.BS Võ Hiếu Bình


Chứng đau cổ họng

Đau cổ họng thường là triệu chứng bắt đầu của bệnh cúm. Cũng có khi họng đau vì bạn la hét quá độ, vì không khí quá khô, hoặc vì nhiễm vi khuẩn.

Chứng đau họng thường mỗi lúc một tệ hơn. Nó làm bạn vô cùng khó chịu, có khi bạn chỉ nuốt đồ ăn, uống nước, thậm chí nuốt nước bọt mà cũng thấy đau đớn.

Dù chứng đau cổ họng đến vì bất cứ lý do gì, việc thực hành những phương pháp dưới đây cũng sẽ giúp bạn làm giảm hoặc chấm dứt tình trạng khó chịu này.

Ngậm kẹo thuốc
Kẹo thuốc nhiều lúc có công dụng hay hơn thuốc kháng sinh trong việc điều trị chứng đau cổ họng. Thông thường, thuốc kháng sinh chỉ giết các vi trùng đã xâm nhập sâu vào cơ thể bạn. Nhưng trong đa số trường hợp, các vi khuẩn chỉ đóng vào thành cổ họng mà thôi. Lúc đó, một viên kẹo có khả năng giết được những vi khuẩn bám bên ngoài. Nên đọc kỹ nhãn hiệu kẹo và tìm loại có chứa chất phenol.

Nếu bạn bị cảm, nên dùng loại kẹo có chứa chất kẽm (zinc). Theo kết quả nghiên cứu của bác sĩ Donald D. thuộc Đại học Austin, kẹo ngậm có chất kẽm không những xoa dịu chứng đau cổ họng mà còn trị được nhiều triệu chứng khác nữa của bệnh cảm.

Súc miệng bằng nước muối
Pha 1 thìa cà phê muối ăn vào nửa lít nước ấm. Ngậm một ngụm vào miệng, ngửa cổ lên cho nước muối chảy vào cổ họng. Đừng nuốt, hãy tống hơi lên cho nước muối bị đẩy ngược trở lại, tạo nên tiếng động trong cổ họng (có thể bạn đã từng biết qua hành động này rồi, nhiều người có thói quen súc miệng tạo ra tiếng động như vậy).

Việc súc miệng bằng nước muối giúp giết được vi trùng đóng trên thành cổ họng và làm họng bớt đau sau vài ba lần súc (trừ khi chứng đau cổ họng đi đôi với bệnh ho khan tiếng). Trong trường hợp này, chỗ nhiễm vi trùng thường nằm sâu dưới cổ họng, việc súc miệng không thể đưa muối vào sâu tận chỗ bị nhiễm trùng.

Tắm nước nóng
Chứng đau cổ họng cũng có thể xuất hiện sau một đêm ngủ há miệng, khiến không khí ra vào qua miệng nhiều. Nếu không khí này khô, sáng đó bạn sẽ bị đau cổ họng.

Ngủ há miệng thường là hậu quả của chứng nghẹt mũi. Khi mũi bị nghẹt, phản ứng tự nhiên của cơ thể là há miệng ra để thở. Trong những mùa thời tiết trở nên khô, bạn bị nghẹt mũi, có thể dùng thuốc nghẹt mũi loại uống hay xịt trước khi ngủ.

Có thể xoa dịu chứng đau cổ họng bằng cách hít nhiều hơi nước trong lúc tắm nước nóng, hoặc nghiêng đầu trên một chậu nước bốc hơi và há miệng ra hít hơi ẩm bay lên từ chậu nước. Làm như vậy mỗi lần khoảng 5 phút, có thể làm mỗi giờ một lần đến khi nào cổ họng bớt đau.

Uống thuốc
Các loại thuốc cảm thông thường như Aspirin, Advil (ibuprofen), hoặc Tylenol (acetaminophen) đều có thể làm dịu chứng đau cổ họng. Đừng bao giờ cho trẻ em từ 21 tháng tuổi trở xuống uống thuốc Aspirin, có thể bị biến chứng nguy hiểm.

Hít không khí biển
Bạn có thể tản bộ trên bãi biển và hít không khí trong lành ở đây, cũng có thể… mua không khí biển đóng chai để dùng. Những chai này được bán tại các tiệm thuốc tây với các nhãn hiệu như Ocean Mist, Ayr, Nasal… Chúng là những chai có áp suất, chứa nước muối nồng độ nhẹ. Khi bạn xịt thuốc này vào cổ họng, muối có thể giúp sát trùng, hơi ẩm của nước xoa dịu được chứng đau.

Thủ phạm có thể là chiếc bàn chải đánh răng của bạn
Các vi khuẩn có thể sống một thời gian rất lâu trên bàn chải đánh răng vì bàn chải lúc nào cũng ẩm (nhất là với những người đánh răng trên một lần mỗi ngày). Có nhiều người vừa bớt bệnh đã trở nặng lại sau khi đánh răng do vi khuẩn còn sống sót trên bàn chải từ ngày hôm trước lại theo đường miệng xâm nhập cơ thể một lần nữa.

Một số người khác bị lây bệnh khi để bàn chải đánh răng của mình chạm vào bàn chải của người khác.

Để tránh tình trạng trên, bạn nên dùng nhiều bàn chải một lúc, một cái cho buổi sáng, một cái cho buổi tối chẳng hạn. Sau khi đánh răng, nhớ gõ bàn chải vào cạnh bồn rửa mặt cho nước văng ra hết. Tránh để các bàn chải chạm vào nhau.

Bác sĩ Richard G. thuộc Đại học nha khoa Oklahoma (Mỹ) khuyên rằng: “Khi bạn bắt đầu cảm thấy hơi khó chịu, hãy vứt bỏ bàn chải răng cũ đi; và thông thường chỉ hành động này đã đủ để ngăn chặn cơn bệnh”.

Thủ phạm có thể là xôi ăn từ ngày hôm qua
Bạn từng bị ợ chua?… Chất chua này làm bạn cảm thấy xót ở cổ họng?… Rồi cảm giác xót xa này không dịu đi như những lần khác mà trở thành chứng đau cổ họng kéo dài vài ngày?…

Chứng ợ chua thường xuất hiện do việc ăn nhiều thực phẩm khó tiêu (như xôi chẳng hạn). Một số axit trong dạ dày (như HCl) bị trào lên cổ họng và đọng lại trong đó khi ngủ. HCl là loại axit rất mạnh, có thể ăn mòn sắt và nhiều kim loại. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu bạn bị đau cổ họng khi axit này tràn lên. Khi chúng lên đến phần dưới thực quản (gần dạ dày), bạn sẽ có cảm giác như bị thiêu đốt. Khi chúng tràn lên cổ họng, bạn sẽ bị xót họng.

Bạn vẫn có thể ăn xôi, nhưng đừng nên nhiều quá. Với các thực phẩm khác cũng vậy. Khi lỡ ăn quá no, hãy chờ 2-3 tiếng sau mới lên giường (vì lúc nằm, chất axit trong dạ dày dễ tràn lên hơn).

Mẹo vặt:
- Mỗi ngày uống 50 mg thuốc kẽm (zinc). Thuốc có thể làm giảm phân nửa triệu chứng đau cổ họng.
Nên xem kỹ công thức, chỉ nên mua loại Zinc-Gluconate hoặc các loại có đề chữ “Chelated”. Loại khác thường làm cơ thể bị thiếu chất sắt và một số kim loại cần thiết.


Nguồn: vnexpress

Trị chứng hôi miệng

Hôi miệng làm cho bản thân người bị hôi miệng cảm thấy khó chịu, thiếu tự tin khi giao tiếp. Người xung quanh khi tiếp xúc trực tiếp cũng cảm thấy khó chịu, thường chỉ phản ứng ngầm là quay mặt đi nơi khác hoặc lảng tránh, ít ai góp ý trực tiếp.

Nguyên nhân của chứng hôi miệng rất nhiều, như: sâu răng, viêm lợi, viêm họng, viêm mũi họng, viêm amiđan hốc, viêm dạ dày, viêm thực quản, đánh răng không kỹ để thức ăn tồn đọng ở kẽ răng…

Dĩ nhiên muốn điều trị cơ bản thì phải loại bỏ những nguyên nhân gây ra chứng hôi miệng đó. Hoàng bá là một vị thuốc giúp ta khắc phục tạm thời được điều này. Cách dùng rất đơn giản: hằng ngày, lấy vài lát hoàng bá (chừng 3-5gr), nấu sôi trong 100ml nước khoảng 5-10 phút, làm nước súc miệng; dùng khoảng 4-5 lần/ngày. Nếu không có điều kiện đun nấu, bạn cũng có thể nhai 1-2 lát nhỏ vài lần trong ngày cũng được. Để tăng hiệu quả nên đánh răng trước khi dùng hoàng bá. Ngoài tác dụng chống hôi miệng, hoàng bá còn có tác dụng trị sâu răng, viêm nha chu, viêm họng và viêm ruột… Vì vậy, khi súc họng (ngửa mặt lên trời khi súc) hoặc nhai hoàng bá, nếu lỡ nuốt phải nước cũng không sao.

Hoàng bá là một vị thuốc được dùng nhiều trong đông y. Ở bất kỳ cửa hàng đông dược hay phòng chẩn trị y học nào cũng có. Chỉ cần 10 ngàn đồng, bạn có thể dùng cả tháng.

Bảo Trân
http://www4.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2008/1/31/224766.tno

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers