Category Archives: Ngoại Khoa – chấn thương chỉnh hình

sơ cứu Bệnh nhân gãy xương

Gãy xương là một tình trạng mất tính liên tục của xương, nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức từ một vết rạn cho đến một sự gãy hoàn toàn của xương.

1. Nguyên nhân gãy xương.

Gãy xương thường là do tác động của một lực vào xương. Lực náy có thể bắt đầu từ bên ngoài của cơ thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.

Trực tiếp: nếu do lực trực tiếp thì đường gãy thường cắt ngang thẳng qua xương và ổ gãy ở ngay vùng bị ảnh hưởng (H.198).

Gián tiếp: Lực gián tiếp thường gây ra gãy xoắn. ổ gãy thường ở xương nơi bị lực tác động vào ví dụ: ngã chống tay có thể gây nên gãy xương đòn (H.199).

2. các loại gãy xương

Gãy xương được chia làm 2 loại chính: gãy xương kín và gãy xương hở và cả 2 đều có thể là gãy xương biến chứng.

Gãy xương kín:

Là loại gãy xương mà tổ chức da ở vùng xung quanh or gãy không bị tổn thương hoặc có thể tổn thương nhưng không thông với ổ gãy.

Gãy xương hở

Là loại gãy xương khi có tổn thương thông từ bề mặt của da với ổ gãy hoặc 1 đầu xương gãy chòi ra ngoài.

Gãy xương hở là một tổn thương nghiêm trọng vì không những nó gây nên chảy máu ngoài trầm trọng mà còn vì vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào or gãy gây nên những biến chứng nhiễm khuẩn rất nặng nề khó điều trị.

Gãy xương biến chứng

Cả gãy xương hở và gãy xương kín đều được coi là gãy xương biến chứng khi có một tổn thương kèm theo ví dụ khi đầu xương gãy làm tổn thương dây thần kinh và mạch máu hay một tổ chức, cơ quan nào đó hoặc khi gãy xương kết hợp với trật khớp.

3. Triệu chứng và dấu hiệu chung

- Nạn nhân có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng kêu “rǎng rắc” của xương gãy.

- Đau ở chỗ chấn thương hoặc gần vị trí đó. Đau tǎng khi vận động.

- Giảm hoặc mất hoàn toàn khả nǎng vận động.

- Có phản ứng tại chỗ gãy khi ấn nhẹ lên vùng bị thương

- Sưng nề và sau đó bầm tím ở vùng chấn thương

- Biến dạng tại vị trí gãy: ví dụ chi gãy bị ngắn lại, gập góc hoặc xoắn vặn, v.v..

- Khi khám có thể nghe hoặc cảm thấy tiếng lạo xạo của 2 đầu xương gãy cọ vào nhau.

Không được cố gắng tìm dấu hiệu này vì làm nạn nhân rất đau.

Có thể có triệu chứng của sốc.

Tình trạng sốc thường xảy ra và được nhận thấy rõ trong các trường hợp gãy xương đòn hoặc vỡ xương chậu.

Chú ý:

Không phải tất cả các xương, đều có những dấu hiệu và triệu chứng trên. Để tìm ra những dấu hiệu của gãy xương phải chủ yếu dựa vào sự quan sát, đừng cho vận động bất kỳ nơi nào của cơ thể nếu không cần thiết. Nếu có thể thì hãy so sánh chi bị thương với chi lành.

Nếu có sự kết hợp của 2 hay 3 triệu chứng của các triệu chứng kể trên hoặc nếu nạn nhân có biểu hiện của tình trạng sốc và đau nhiều ở chi hoặc nếu có nghi ngờ về tính nghiêm trọng của một chấn thương thì hãy xử trí như một trường hợp gãy xương.

4. mục đích

4.1. Giảm đau

- Chống đau cho nạn nhân: Tuyệt đối không vận động phần bị tổn thương nếu không cần thiết. Nếu có điều kiện thì nên phong bế novocain quanh ổ gãy hoặc tiêm morphin dưới da nếu không có tổn thương sọ não, ổ bụng… kèm theo (dùng theo chỉ định của thầy thuốc).

- Bǎng kín các vết thương nếu có.

- Cố định tạm thời gãy xương.

- Thường xuyên nâng cao chi bị gãy sau khi cố định để giảm sự sưng nề, khó chịu.

- Phòng, chống sốc (xem bài cấp cứu sốc)

- Thường xuyên quan sát theo dõi nạn nhân về tình trạng toàn thân đặc biệt là tình trạng tuần hoàn ở phía dưới ổ gãy.

4.2. Phòng sốc

4.3. Hạn chế sự di lệch của đầu xương bị gãy (tránh gây tổn thương mạch máu, thần kinh, phần mềm nơi gãy, tránh gãy kín thành gãy hở).

5. nguyên TắC Cố ĐịNH GãY Xương.

5.1. Không đặt nẹp trực tiếp lên da thịt nạn nhân phải có đệm lót ở đầu nẹp, đầu xương (không cởi quần áo, cần thiết rạch theo đường chỉ).

5.2. Cố định trên, dưới ổ gãy, khớp trên và dưới ổ gãy, riêng xương đùi bất động 3 khớp.

5.3. Bất động ở tư thế cơ nǎng: Chi trên treo tay vuông góc, chi dưới duỗi thẳng 180o.

5.4. Trường hợp gãy kín phải kéo chi liên tục bằng một lực không đổi trong suốt thời gian cố định.

5.5. Trường hợp gãy hở: Không được kéo nắn ấn đầu xương gãy vào trong nếu có tổn thương động mạch phải đặt ga rô tùy ứng, xử trí vết thương để nguyên tư thế gãy mà cố định.

5.6. Sau khi cố định buộc chi gãy với chi lành thành một khối thống nhất.

5.7. Nhanh chóng, nhẹ nhàng, vận chuyển nạn nhân đến cơ sở điều trị.

6. Kỹ THUậT SƠ CứU BệNH NHÂN GãY XưƠNG Các loại

6.1.1. Nẹp: nẹp phải đảm bảo đủ độ dài, rộng và dày

- Nẹp chính quy

Nẹp gỗ: nẹp có kích thước như sau:

Chi trên: dài 35-45cm, rộng 5-6mm

Chi dưới: dài 80-100cm, rộng 8-10cm, dày 8mm

- Nẹp kim loại (nẹp Cramer): Nẹp này có thể uốn cong theo các khuỷu thường dùng để cố định gãy xương cánh tay, cẳng tay và cẳng chân.

- Nẹp Thomas: (giá Thomas) Loại này dùng cho trường hợp gãy xương đùi.

- Nẹp Beckel (máng Beckel): loại này thường dùng trong gãy xương cẳng chân.

- Nẹp tùy ứng: là loại nẹp làm bằng tre hay bất kỳ vật liệu gì sẵn có.

6.1.2. Bông

Dùng để đệm lót vào đầu nẹp hoặc nơi ụ xương cọ xát vào nẹp, nếu có điều kiện nên dùng bông mỡ (không thấm nước). Nếu không có, có thể dùng bông thường (không thấm nước) hoặc dùng vải hay quần áo.

6.1.3. Bǎng

Dùng để buộc cố định nẹp. Bǎng phải đảm bảo: Rộng bản, dài vừa phải, bền chắc.

Nếu không có bǎng thì có thể dùng các dải dây buộc.

Chi trên cần 3 dây, cẳng chân cần 4-5 dây dải. Đùi cần 7 dây dài.

Chú ý: trên thực tế không phải lúc nào cũng có sẵn các vật dụng để cố định gãy xương nên người ta thường dùng khǎn tam giác dể bất động tạm thời một số loại gãy xương và dùng nẹp cơ thể như: cố định chi gãy vào chi lành, buộc tay vào ngực, v.v…

6.2. Gãy xương hở.

6.2.1. Trường hợp xương chồi ra ngoài vết thương

Chú ý:

- Không bao giờ kéo đầu xương gãy vào trong

- Bǎng bó vết thương rồi mới cố định theo tư thế gãy

a) Cầm máu bằng cách ép mép vết thương sát vào đầu xương

b) Nhẹ nhàng đặt một miếng gạc hoặc miếng vải sạch lên trên đầu xương chồi ra.

c) Đặt một vành khǎn hoặc một đệm bông hình bán nguyệt lên trên vết thương.

d) Bǎng cố định gạc vào vùng đệm bằng bǎng cuộn.

e) Xử trí các bước tiếp theo như gãy xương kín.

g) Chuiyển nạn nhâ n tới bệnh viện ngay. Đây là cấp cứu ưu tiên. Lưu ý giữ gìn tư thế đúng trong khi vận chuyển và theo dõi sát tình trạng toàn thân của nạn nhân.

Chú ý: vành khǎn hoặc đệm bông phải có chiều dày đủ để không gây áp lực lên đầu xương khi bǎng ép.

6.2.2. Trường hợp xương gãy không chìa đầu ra ngoài.

a) Cầm máu bằng cách ép nhẹ nhàng mép vết thương lại.

Không ấn mạnh vết thương ớ vị trí gãy.

b) Đặt một miếng gạc lên trên vết thương và đệm bông ở xung quanh miệng vết thương.

c) Xử trí như trường hợp gãy xương hở có xương chồi ra ngoài.

6.3. Vỡ xương sọ

- Nạn nhân tỉnh. Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dùng gối hoặc đệm đỡ đầu và vai.

- Nếu có máu, dịch não tủy chảy ra từ tai thì đặt nạn nhân nằm nghiêng về phía đó. áp vào tai đó một miếng gạc vô khuẩn hoặc vật liệu tương tự sau đó bǎng lại bằng bǎng cuộn (không đút nút lỗ tai).

- Nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm ở tư thế hồi phục nghiêng về bên bị tổn thương.

- Kiểm tra nhịp thở, mạch và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/1ần.

- Nếu ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sinh hô hấp – tuần hoàn ngay.

- Phòng chống và xử trí sốc nếu xảy ra (xem phần cấp cứu sốc)

- Chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Lưu ý: nếu não phòi ra ngoài sọ không được bôi thuốc và bǎng ép. Vỡ nền sọ thường do lực gián tiếp. Đồng tử hai bên không.đều, máu và dịch não tủy chảy qua lỗ tai.

6.4. Gãy xương sườn và xương ức.

6.4.1. Cách 1:

- Dùng bǎng dính to bản cố định

- Treo tay cùng bên với bên lồng ngực có xương gãy vào cổ

- Xử trí vết thương lồng ngực nếu có.

6.4.2. Cách 2:

- Buộc bằng 3 khǎn:

+ Khǎn 1 đặt giữa nơi xương sườn bị gãy, bảo nạn nhân thở ra, buộc nút trước nách bên đối diện xương sườn gãy.

+ Khǎn 2, 3 đặt trên và dưới khǎn 1, buộc giống như trên.

* Sau khi xử trí như cách 1 hoặc 2 thì:

- Treo tay cùng bên với bên lồng ngực có xương gãy vào cổ.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Trường hợp biến chứng thì phải chuyển ngay lập tức.

- Trường hợp gãy xương sườn có biến chứng (xem phần xử trí cấp cứu các vết thương lồng ngực).

6.5. Gãy xương đòn.

6.5.1. Dùng nẹp chữ T.

- Cho nạn nhân ưỡn ngực hai vai kéo về phía sau.

- Chèn bông hoặc bǎng dưới hai hố nách và hai bả vai.

- Đặt nẹp chữ T sau vai, nhánh dài dọc theo cột sống, nhánh ngang áp vào vai.

- Quấn bǎng vòng tròn từ nách qua vai buộc nút ở bả vai.

Quấn bǎng vòng thắt lưng, buộc nút ở vị trí thích hợp không để vướng.

Chú ý nẹp chữ T phải đảm bảo. Nhánh dài phải đủ dài qua thắt lưng, nhánh ngang phải to bản và dải qua khỏi vai.

6.5.2. Dùng bǎng số 8: cần 2 người tiến hành.

Người thứ nhất: Nắm 2 cánh tay nạn nhân nhẹ nhàng kéo ra phía sau bằng một lực vừa phải, không đổi trong suốt thời gian cố định.

Người thứ hai: Dùng bǎng bǎng kiểu số 8 để cố định xương đòn.

Chú ý: Phải đệm lót tốt ở hai hố nách để tránh gây cọ sát làm nạn nhân đau khi bǎng.

6.6. Gãy xương tay

6.6.1. Trường hợp gấp được khớp khuỷu.

- Treo tay bằng khǎn chéo lên cổ

- Buộc cánh tay vào thân bằng khǎn chéo

Cố định gãy xương đòn

Hình 210. Dùng bǎng treo

* Trường hợp gãy xương cánh tay

- Để cánh tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc với cánh tay (tư thế co).

- Đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ quá bả vai đến quá khớp khuỷu. Có thể dùng nẹp Cramer làm thành góc 90o đỡ cả cánh tay và cẳng tay bǎng lại.

- Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp: một ở trên và một ở dưới ổ gãy.

- Dùng khǎn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay để ngửa.

- Dùng bǎng rộng bản bǎng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành.

* Trường hợp gãy xương cẳng tay:

- Để cẳng tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa.

- Dùng hai nẹp: Nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu.

- Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay, thân cẳng tay (trên, dưới ổ gãy).

- Dùng khǎn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực.

6. 6.2. Trường hợp không thể gấp khuỷu tay được

Đừng cố dùng sức để gấp khuỷu tay. Bảo nạn nhân dùng tay kia đỡ tay bị thương ở vị trí đó nếu có thể.

Đặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân.

Buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải bǎng rộng bản ở các vị trí:

+ Quanh cổ tay và đùi.

+ Quanh cánh tay và ngực

+ Quanh cẳng tay và bụng

Cho nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân.

6.7. Gãy xương sống (gãy cột sống).

6.7.1. Gãy cột sống lưng.

Khuyên nạn nhân nằm yên không được cố vận động các phần của cơ thể

- Nếu có thể chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đừng di chuyển nạn nhân. Người cứu dùng tay giữ chắc đầu nạn nhân. Nếu có người đứng xung quanh thì bảo họ đỡ 2 bàn chân nạn nhân. Gấp vải, chǎn hoặc gối hoặc quần áo để dọc sát 2 bên thân nạn nhân để đỡ nạn nhân. Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu.

- Nếu không thể chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện hoặc đường đi tới bệnh viện xa khó đi thì phải: đỡ vai và khung chậu nạn nhân và thận trọng đặt đệm mềm vào giữa 2 chân. Buộc bǎng hình số 8 ở quanh cổ chân và bàn chân, buộc các dải bǎng to ở đầu gối và đùi.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Đặt nạn nhân trên một cánh cứng ở tư thế giống như tư thế khi phát hiện thấy nạn nhân. Luôn luôn duy trì sự thông thoát đường hô hấp và theo dõi sát nạn nhân trong suốt quá trình vận chuyển.

Chú ý: Khi nâng nạn nhân lên cánh cần phải có nhiều người và phải nâng đều để luôn luôn giữ nạn nhân trên một mặt phẳng. Khi đặt xuống bàn khám hoặc giường cũng phải làm như vậy.

6.7.2. Gãy đốt sống cổ

- Khuyên nạn nhân không được cố vận động. Đỡ đầu và cổ nạn nhân cho đến khi đội cấp cứu đến.

- Nếu không thể chuyển ngay nạn jnhân đến bệnh viện thì phải: nới rộng cổ áo và lót một vòng đệm cổ (xem phần sau).

Đắp chǎn cho nạn nhân trong khi chờ đợi xe cấp cứu.

Nếu buộc phải di chuyển nạn nhân thì phải xử trí như trường hợp gãy cột sống lưng.

Lót vòng đệm cổ.

+ Nếu không có sẵn vòng đệm cổ thì gấp 1 tờ báo lại với bề rộng khoảng 10cm. Sau đó dùng bǎng tam giác gói lại hoặc nhét tờ báo đã gấp lại đó vào trong một bít tất dài.

+ Đặt phần giữa của vòng đệm cổ vào phía trước của cổ ngay phía dưới cằm.

+ Quấn vòng đệm cổ này quanh cổ nạn nhân và buộc nút ở phía trước của cổ.

+ Đảm bảo chắc chắn rằng vòng đệm cổ không gây tắc nghẽn đường thở.

Hình 212. Quấn vòng đệm cổ quanh cổ nạn nhân, buộc nút phía sau cổ

6.8. Vỡ xương chậu

Giữ nạn nhân thoải mái, giảm đau và thu xếp chuyển ngay tới bệnh viện.

Hình 213. Đặt bệnh nhân nằm ngửa kê gối dưới khoeo chân

- Đặt nạn nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng hoặc hơi co đầu gối,nếu nạn nhân cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn ở tư thế này. Dùng gối hoặc chǎn mỏng gấp lại để kê dưới gối.

- Nếu nạn nhân đòi đi tiểu thì khuyên nạn nhân cố gắng chịu đựng vì nước tiểu có thể tràn vào các mô.

Nếu chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện thì đắp chǎn cho nạn nhân và đợi xe cấp cứu đến.

Nếu không chuyển ngay được đến bệnh viện và đường đi tới bệnh viện xa (mất trên 30 phút) hoặc đường khó đi thì phải: nhẹ nhàng buộc 2 vòng bǎng to bản ở khung chậu, buộc vòng bǎng phía dưới trước, vòng bǎng này đi vòng qua khớp háng.

- Nếu chỉ có một đai chậu bị tổn thương thì bǎng vòng thứ 2 chéo lên phía gai chậu của bên bị tổn thương.

Nếu cả 2 bên đai chậu đều tổn thương thì buộc chính giữa.

+ Đặt đệm mỏng vừa đủ vào giữa 2 đầu gối và mắt cá.

+ Bǎng số 8 xung quanh mắt cá và bàn chân và bǎng một bǎng rộng bản ở đầu gối. Buộc nút ở bên phần không bị tổn thương.

- Phòng chống và xử trí sốc xảy ra .

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trước khi chuyển phải duy trì sự theo dõi sát người bị nạn và giữ nạn nhân ở tư thế đúng.

6.9. Gãy xương đùi và khớp háng

- Giữ nạn nhân thoải mái, giảm đau, tránh gây tổn thương thêm và vận chuyển ngay nạn nhân đến bệnh viện.

- Giữ yên chân gãy theo đúng tư thế cơ nǎng: bàn chân vuông góc với cẳng chân. Cần nâng đỡ xương nhẹ nhàng đúng phương pháp để không làm nạn nhân đau.

- Cố định xương gãy.

6.9.1. Cố định bằng nẹp gỗ: cần 3 người làm.

Người thứ nhất: luồn tay đỡ đùi ở phía trên và phía dưới ổ gãy.

Người thứ hai: đỡ gót chân và giữ bàn chân ở tư thế luôn vuông góc với cẳng chân.

Người thứ ba: đặt nẹp. Cần 3 nẹp.

- Đặt 3 nẹp:

+ Nẹp ngoài từ hố nách đến quá gót chân

+ Nẹp dưới từ vai đến quá gót chân

+ Nẹp trong từ bẹn đến quá gót chân

Dùng 9 dải dây rộng bản để buộc cố định nẹp ở các vị trí:

+ Trên ổ gãy

+ Dưới ổ gãy

+ Cổ chân: bǎng kiểu bǎng số 8

+ Ngang ngực

+ Ngang hông

+ Dưới gối

+ 3 dải bǎng buộc 2 chi vào nhau ở các vị trí: Trên đầu gối, dưới đầu gối, cổ chân.

6.9.2. Cố định bằng nẹp cơ thể:

Trường hợp không có nẹp gỗ thì tiến hành buộc chân gãy vào chân lành ở các vị trí:

+ Cổ chân: Dùng kiểu bǎng số 8 để buộc 2 chân và bàn chân lại với nhau.

+ Trên ổ gãy

+ Dưới ổ gãy

+ Dưới gối

+ Cẳng chân

Lưu ý: Phải đệm lót tốt ở phần giữa 2 đầu gối và 2 cổ chân.

Không được buộc nút ở phía chân gãy.

- Phòng chống và xử trí tốt (xem phần cấp cứu sốc)

- Sau khi cố định chân gãy xong, nâng chân cao lên một chút để giảm sự sưng nề và khó chịu cho bệnh nhân.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện: Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên.

Trong khi vận chuyển phải giữ tư thế đúng của nạn nhân, theo dõi sát nạn nhân và xử trí kịp thời những diễn biến xảy ra.

6.10. Gãy xương cẳng chân.

- Giảm đau cho bệnh nhân

- Phòng chống và xử trí sốc

- Trường hợp cố định bằng nẹp: cần 2 nẹp dài bằng nhau và 3 người làm:

Người thứ nhất: đỡ nẹp và cẳng chân phía trên và dưới ổ gãy.

Người thứ hai: đỡ gót chân, cổ chân và kéo nhẹ theo trục của chi, kéo liên tục bằng một lực không đổi.

Người thứ ba: cố định gãy xương.

Đặt 2 nẹp:

Nẹp trong từ giữa đùi đến quá gót.

Nẹp ngoài từ giữa đùi đến quá gót

- Buộc dây cố định nẹp ở các vị trí: Trên ổ gãy, dưới ổ gãy, đầu trên nẹp và bǎng số 8 giữ bàn chân vuông góc với cẳng chân.

- Buộc chân vào với nhau ở các vị trí: Đầu trên nẹp, ngang đầu gối và cổ chân.

siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Bong gân & xử trí

Căng cơ xảy ra khi cơ bị căng quá mức, dẫn đến đứt một phần gân cơ. Bong gân là tổn thương dây chằng, một dải mô dai chắc nối hai xương tại khớp hay gần khớp với nhau. Bong gân thường xảy ra ở cổ tay, khớp gối và mắt cá chân.

Các dấu hiệu và triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của căng cơ, và đặc biệt của bong gân, rất giống với gãy xương. Triệu chứng có thể là đau, tăng lên khi đi lại, sưng và bầm (thường xảy ra một lúc sau tai nạn). Thường không phân biệt được bong gân hay gãy xương nếu không có phim X-quang và thường bong gân cũng lâu lành như gãy xương đơn giản.

Nếu còn nghi ngờ hãy xử trí tổn thương này như gãy xương và cần chăm sóc y tế thêm.

- Nhẹ nhàng khám chỗ thương tổn để đánh giá độ nặng.

Xứ trí

Người bị nạn thườn cảm thấy chỗ đó không bị gãy xương – nếu trước đó người này đã từng bị những tổn thương tương tự, đặc biệt là tổn thương xảy ra trong thể thao. Nếu cả bạn và nạn nhân đều đã chắc chắn không còn tổn thương nào khác thì cách xử trí tốt nhất là:

• Nghỉ ngơi.
• Đắp đá lạnh.
• Băng ép.
• Nâng chân cao lên.

1. Để yên phần chi bị thương. Điều này tránh tổn thương nặng thêm. Giúp người bệnh được ở tư thế thoả mái – đối với chân bị thương, thường là nằm nghỉ với đầu và vai được gối cao.

2. Đặt gạc lạnh lên. Bọc một ít nước đá trong băng tam giác hoặc miếng vải sạch và nhẹ nhàng đặt lên chỗ bị thương. Cách này sẽ làm bớt đau và giảm sưng. Không đặt đá trực tiếp lên chỗ bị thương bởi có thể làm da tổn thương. Làm lạnh vết thương trong 10 – 15 phút, thêm nước đá nếu cần để giữ gạc lạnh.

3. Dùng gạc cuộn băng ép lại. Cách này sẽ giúp giảm đau, giảm sưng và nâng đỡ chỗ bị tổn thương.

4. Nâng cao phần bị thương. Cách này làm giảm sưng và đau. Nếu cánh tay bị thương, có thể dùng cánh tay hoặc băng treo để tuỳ nghi nâng đỡ thêm.

5. Gọi y tế trợ giúp và phải bảo đảm chi luôn được nâng cao và nâng đỡ liên tục đến khi được giúp đỡ.

Siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Xử trí Tổn thương ở lưng

Các tổn thương ở vùng lưng có nguy cơ ảnh hưởng đến tuỷ sống, và nếu tuỷ sống bị tổn hại có thể dẫn đến liệt tạm thời hay vĩnh viễn hoặc hạn chế vận động. Xử trí một bệnh nhân có nghi ngờ tổn thương cột sống là giữ cho họ nằm yên, trong khi đó theo dõi, giữ thông đường thở và hô hấp, và xử trí sốc.

Xử trí

Cần làm

• Xử trí sốc.

• Di chuyển đầu đến vị trí trung tính nếu bạn đã được huấn luyện để làm điều đó.

• Theo dõi đường thở và hô hấp.

Không làm

• Di chuyển nạn nhân khi không cần thiết.

Bạn cần phải làm gì nếu

• Nạn nhân bị bất tỉnh? Kiểm tra đường thở và hô hấp.

Nếu nạn nhân đang ở vị trí đường thở thông thì cứ giữ yên và kiểm tra hô hấp.

• Nếu đường thở không thông, nhờ người bên cạnh giúp di chuyển nạn nhân vào tư thế an toàn hơn như tư thế phục hồi hoặc nằm nghiêng, dùng kỹ thuật lăn khúc gỗ.

• Nếu nạn nhân ngừng thở, hãy thổi hơi thở cấp cứu. Kết hợp việc này với ép ngực, nếu tuần hoàn không còn. Nếu bạn cần lật ngửa nạn nhân để hồi sức, hãy thực hiện một cách mau lẹ nhưng nhẹ nhàng.

Nếu nạn nhân còn tỉnh

1. Nếu nạn nhân còn tỉnh và đã nằm, bạn hãy để nạn nhân nằm yên. Nếu nạn nhân đang đi loanh quanh, hãy đỡ họ nằm xuống. Nếu có thể, hãy đặt một tấm chăn hay chiếc áo khoác bên dưới trước khi đặt nạn nhân nằm lên.

2. Khuyên nạn nhân hãy nằm yên.

3. Hãy chắc chắn là đã gọi xe cấp cứu.

4. Giữ yên đầu nạn nhân bằng cách đặt hai bàn tay của bạn áp vào hai tai và những ngón tay bạn đặt dọc theo hàm nạn nhân.

5. Tiếp tục nâng đỡ đầu nạn nhân cho đến khi có người đến giúp.

Các dấu hiệu và triệu chứng của tổn thương vùng lưng

Gãy xương vùng lưng

• Chỗ lõm hoặc lồi có thể là dấu hiệu xương sống (đốt sống) bị trật.

• Thâm tím hay sưng trên cột sống.

• Đau lưng.

• Ấn đau trên vùng bị gãy xương.

Tổn thương tuỷ sống

• Mất vận động ở vùng bên dưới vị trí bị gãy xương.

• Cảm giác rần rần như kiến bò ở ngón tay ngón chân hoặc khắp cơ thể.

• Nạn nhân cảm thấy lạ như có cảm giác không vững.

• Tê.

Nếu có một trong các dấu hiệu và triệu chứng này, hoặc nếu tính chất của tai nạn cho thấy có nguy cơ gãy xương, như va chạm nặng hoặc ngã xuống từ trên cao, bạn hãy nghĩ đến có tổn thương cột sống. Tổn thương vùng lưng có thể trầm trọng: hãy gọi cấp cứu ngay.

Siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Sơ cứu gãy xương đòn

Xương đòn có thể gãy do tác động trực tiếp. Tuy nhiên, xương đòn thường bị gãy do lực gián tiếp truyền lên theo cácnh tay sau khi ngã mà vươn bàn tay ra chống đỡ, và tình trạng này thường xảy ra sau khi ngã xuống từ xe đạp hay ngã ngược. Xương bả vai bị gãy thường là do một tác động nặng vào vùng bị sang chấn. Vì thế, điều quan trọng là phải khám cẩn thận để loại trừ chấn thương vùng lưng hoặc sườn.


Gãy xương đòn

Ngoài tiềm năng sưng, bầm và ấn đau trên vùng bị chấn thương, rất có thể nạn nhân báo cáo về cánh tay bị thương và ở bên bị thương, vai xệ xuống. Vì xương đòn nằm sát dưới da, nên điều đặc biệt quan trọng là tìm xem có bị gãy xương hở hay không.

Điều trị

Nếu xương xuyên thủng qua da, hãy đặt một miếng băng nhẹ lên trên vết thương. Có thể là chỉ chảy máu rất ít, và điều bạn cần quan tâm chính yếu là tránh nhiễm trùng.

Làm việc với người bị thương để tìm vị thế thoải mái nhất cho cánh tay và toàn thân.

Nói chung, vị trí này sẽ là ngồi thẳng lưng, với cánh tay được nâng đỡ tại khuỷu tay. Nạn nhân nên đến bệnh viện với vị thế này, nhưng cũng có thể dùng băng tréo để nâng lên, giảm áp trên xương đòn và giúp nạn nhân được dễ chịu hơn.

Gãy xương đòn thường xảy ra do bị ngã từ trên xe đạp hoặc ngã ngược hơn là tác đông trực tiếp. Hãy dùng băng chéo nâng để chịu sức nặng của cánh tay và giảm áp trên xương đòn. Điều quan trọng là phải kiểm tra xem có gãy xương hở không, vì xương đòn nằm sát dưới da nên có thể xuyên qua da dễ dàng.

Dùng băng chéo để nâng tay

Băng chéo nâng có nhiều công dụng. Vừa được dùng trong điều trị gãy xương đòn, băng này cũng giúp dễ chịu hơn trong điều trị ngòn tay và bàn tay bị gãy hay gãy nát, giúp giảm nhẹ trong điều trị vết bỏng ở cánh tay, và giúp cầm máu bằng cách nâng lên.

1. Đặt cánh tay bị thương với các ngón tay lên khoảng xương đòn ở bên không bị thương.

2. Đặt tam giác với điểm tựa ở khuỷu tay bên bị thương.

3. Gấp mép bằng bên dưới bàn tay, và bên dưới cánh tay bị thương.

4. Cột ở tại xương đòn bằng nút thắt (hay nút bướm).

5. Dùng kim ghim phần băng thừa cho chặt hoặc xoắn và giắt mối.

6. Có thể nâng đỡ thêm bằng cách xếp băng tam giác làm ba (xếp rông rồi quấn vòng quanh cánh tay và mình).

Siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com/

Sơ cứu nạn nhân chấn thương cột sống cổ

Nếu bạn nghi ngờ nạn nhân có chấn thương cột sống cổ hoặc lưng, đừng di chuyển nạn nhân

Nghi ngờ khi có các dấu hiệu sau:
- Có dấu chứng chấn thương đầu kèm theo nạn nhân có thay đổi nhận thức.
- Đau nhiều ở vùng cột sống cổ hoặc lưng – thắt lưng.
- Nạn nhân không cử động được cổ.
- Lực chấn thương tác động vào đầu hoặc lưng.
- Nạn nhân than yếu, cảm giác châm chích, liệt hoặc mất kiểm soát tứ chi, bàng quang hay ruột.
- Đầu hoặc cổ bị vặn xoắn hoặc ở vị thế kỳ cục.


Sơ cứu:
- Gọi cấp cứu chuyên nghiệp.
- Mục tiêu sơ cứu là giữ bệnh nhân yên đúng tư thế mà họ được trông thấy. Đặt hai túi cát hai bên cổ hoặc giữ yên đầu và cổ.
- Nếu nạn nhân ngưng thở thì thực hiện hô hấp nhân tạo nhưng không làm động tác ngửa đầu, mà dùng ngón tay kéo nhẹ hàm về phía trước.
- Nếu cần phải di chuyển bệnh nhân thì cần ít nhất hai người. Giữ đầu cổ và lưng thật thẳng khi di chuyển bệnh nhân.


Gãy xương hở (GXH) là một trong những cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Việc đánh giá đúng mức độ thương tổn và có những chỉ định xử trí thích hợp là việc làm quan trọng, giúp người bệnh chóng hồi phục và bảo toàn được vị trí xương bị tổn thương.

siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Gãy chân

Xử trí gãy xương cẳng chân

Các xương dài, gối và bàn chân thường bị chấn thương khi chơi thể thao. Ở cẳng chân có hai xương dai. Xương chày (xương ống chân) nằm sát bề mặt và nếu bị gãy thì xương gãy có thể làm rách da, tạo gãy xương hở. Xương mác ở sau xương chày va khó gãy hơn và ít khi ảnh hương rõ dến khả năng đi lại. Gối là một khớp phức tạp có thể bị tổn thương khi gãy xương bánh chè, trật khớp, bong gân và tổn thương (mô) sụn. Ít khi chỉ gãy đơn độc một xương ở bàn chân, va chạm xô đẩy thường gây ra gãy nhiều xương nhỏ ở bàn và ngón chân.

Xử trí gãy các xương dài ==>

1. Giúp người bị nạn ở tư thế thoải mái nhất – thường là nằm xuống.

2. Thám sát cẩn thận chỗ bị thương để xem có vết gãy hở không. Nếu có vết thương, nhẹ nhàng che nó lại bằng gạc vô trùng hoặc loại vải sạch không có lông tơ, băng quanh chỗ gãy và cột vừa chặt nhưng đúng vị trí.

Tốt nhất là một người bị gãy chân nên được chở tới bệnh viện bằng xe cứu thương, do đó xử trí cho hầu hết các trường hợp chỉ là nâng đỡ liên tục và giữ cho bất động.

• Nhẹ nhàng nâng chân bị thương tại vị trí trên và dưới chỗ gẫ. Đặt đệm lót như nệm hay vải phủ quanh chỗ bị thương.

• Nếu bạn đã được huấn luyện trước thì có thể áp dụng kéo nắn xương để giảm đau cũng như giảm nguy cơ tổn thương tuần hoàn máu.

• Điều trị sốc.
- Xương bánh chè.
- Xương mác.
- Xương chày.
- Xương sên.
- Khối xương bàn chân.

Xương bánh chè đặc biệt dễ bị tổn thương.

• Nhẹ nhàng khám chân để xác định tổn thương.
• Đặy đệm lót giữa hai chân để bất động.
• Nhẹ nhàng cột hai chân tại mắt cá.
• Nâng đỡ chân ở bên trên chỗ gãy.

Gãy tay

Khi xương bị gãy, các đấu nhọn sắc có thể đâm từ trong ra ngoài, gây tổn thương phần mềm từ nhẹ đến nặng, làm chảy máu. Tuy vậy, để đánh giá thương tổn và xác định phương hướng điều trị thì không đon giản, 30% nạn nhân gãy xương hở là đa chấn thương, nhiều thương tổn phối hợp đe dọa tính mạng, phải ưu tiên giải quyết cấp cứu. Thông thường để dễ nho821, người ta sắp thứ tự 3 chữ cái viết hoa là A, B, C.

Airway: Đường thở có bị vật cản trở không?

Breathing: Có bị chảy máu màng phổi do gãy mảng sườn di động gây khó thở?

Circulation: Có bị tổn thương động, tĩnh mạch gây mất máu cấp và nhiều không?

Cách băng chéo cánh tay ==>

1. Nhẹ nhàng đặt băng ở dưới cánh tay của nạn nhân, đặt điểm ở dưới khuỷu tay.

2. Cho đầu trên của băng vòng qua sau gáy của nạn nhân, chừa một đoạn ngắn để cột lại ở khoảng xương đòn ở bên bị thương.

Đầu trên của băng vòng qua cổ.

Cột đầu băng ở khoảng xương đòn.

3. Cẩn thận đưa đầu dưới của băng lên, sao cho băng nâng đỡ cánh tay bị thương đúng mức. Cột cố định nút thắt hay nút bướm.

4. Đê nâng đỡ thêm, bạn có thể dùng một băng tam giác khác xếp làm ba (xếp rộng) quấn quanh cánh tay, tránh chỗ bị gãy, để cố định cánh tay.

Khuỷu tay hay cánh tay bị gãy không thể co lại.

Nếu có gãy xương tai khuỷu hay gần khuỷu, khuỷu nạn nhân không thể gập cánh tay, hoặc là vì đau hoặc vì bị cứng khớp. Trong trường hợp này bạn cần điều trị cánh tay trong tư thế đó – đừng cố gắng bẻ gập cánh tay lại.

1. Giúp nạn nhân ở vị thế thoải mái nhất; tư thế này thường là nằm trên mặt đất, hoặc cũng có thế là đứng thẳng với cánh tay buông thong.

2. Đặt đệm lót xung quanh bộ phận thương, giữa cánh tay và than cũng như ở ngoài cánh tay.

3. Cần vận chuyển nạn nhân bằng xe cứu thương. Đừng cố gằng bằng cánh tay nếu chúng ta tiến hành cấp cứu theo cách này, vì cố gằng đó sẽ làm cho nạn nhân khó chịu thêm và có thể làm cho vết thương nặng hơn.

Chảy máu trong GXH có thể do thương tổn da, cơ, gãy xương gây chảy máu, cũng có thể do động mạch, tĩnh mạch thủng, dẫn đến choáng mất máu, phải chú ý đến 3 cấp cứu nói trên. Hậu quả của GXH là nhiễm khuẩn, không liền xương, mất đoạn xương, mất cơ năng gây tàn phế, thiệt hại và tốn kém về kinh tế khi điều trị. Tiên lương GXH tùy thuộc không những vào tình trạng gãy xương mà còn phụ thuộc vào tính thương tổn phần mềm. Y học thế giới hiện phân loại GXH theo các týp sau:

- Týp 1: Gãy xương hở có vết thương sạch, độ dài nhỏ hơn 1 cm, thường do xương đâm từ trong ra.

- Týp 2: GXH có xé rách phần mềm lớn hơn 1 cm, da bị lóc nhưng không bị nghiền nát.

- Týp 3 là loại nặng nhất, có thể chia làm 3 nhóm nhỏ:
• Lóc phần mềm lớn hơn 10 cm có thể chia làm 3 nhóm nhỏ.

• Bị nhiễm bẩn nặng, do cọ xát trên mặt đất, bị thương ở những nơi dễ nhiễm khuẩn như trai chăn nuôi, cống rãnh, được cấp cứu sau 8 giờ.

• Có tổn thương mạch máu, đòi hỏi phải khâu mạch máu cấp cứu, mổ tái tạo. Các thương tích do hỏa khí, bom mìn, hay gãy xương lớn do các tai nạn giao thông đè lên là những tổn thương đặc biệt nặng.
Các biện pháp xử trí

Khi gặp phải những trường hợp này, điều đầu tiên là phải cầm máu đúng kỹ thuật, phải ưu tiên chống sốc nhất là những trường hợp nặng, truyền dịch, cố định vết thương và chuyển ngay đến cơ sở y tế để bệnh nhân được cấp cứu.

Phẫu thuật là biện pháp được áp dụng cho GXH. Mụch đích là để làm sạch vết thương, nếu có gây mê hồi sức tốt và tùy tình trạng bệnh nhân có thể giải quyết nhiều thương tích một lần, tránh phải gâ mê nhiều lần. PHẫu thuật còn để cắt lọc các phần bị dập nát và làm sạch vết thương, các dây thần kinh, mạch máu, xương hở đều được che bằng các vạt da lân cận.

Nhưng không nên khâu da ngay để để phòng hoại thư sinh hơi mà phải điều trị vết thương tốt sau vài ngày mới có thể khâu kín vết thương. Nếu nghi ngờ vết thương chưa sạch có thể làm sạch bằng dung dịch sát khuẩn ít hại đến phần mềm, toàn than cần tiêm tĩnh mạch kháng sinh liều cao, tiêm phòng vacxin uốn ván.

Việc cố định xương gãy nói chung không nên dùng các loại đinh nội tủy, nẹp vít. Phương tiên cố định ngoài có tác dụng cố định xương gãy, phức tạp, đỡ nhiễm trùng, giải phóng các khớp là phương pháp được các chuyện gia chấn thương khuyến khích dùng, Tuy vậy các loại cố định ngoài quá phức tạp, không nên dùng trong cấp cứu mà dùng các dóng đỡ một bên, để dễ dàng săn sóc vết thương, mô tái tạo bằng các vạt d ache phủ phần mềm quan trọng.

Mặc dầu có nhiều biện pháp tích cực để điều trị GXH nhưng vẫn tồn tại một tỷ lệ kết quả không hoàn hảo: chi so lo, trục xoay, mất đoạn xương, khớp giả, nhiễm trùng kinh điển không liền xương …

Nguyên nhân có thể do tình trạng bệnh nhân vào việc bị đa chấn thương, hôn mê, vỡ nội tạng, gãy cột sống kèm GXH. Bệnh nhân cần được chăm sóc đa chấn thương, dinh dưỡng, phục hồi chức năng sau mổ, các hậu quả khác còn phải giải quyết ở nhiều giai đoạn tiếp theo.

Trong chiến tranh, GXH là vấn đề thường gặp, còn trong hòa bình thì chấn thương này phần lớn là do tai nạn giao thông gây ra. Chính vì vậy phòng ngừa GXH không gì quan trọng hơn là đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông. Nếu không may gặp phải chấn thương GXH cần nhanh chóng đưa nạn nhân đến các cơ sở y tế để xử trí kịp thời.

Gãy xương hở (GXH) là một trong những cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Việc đánh giá đúng mức độ thương tổn và có những chỉ định xử trí thích hợp là việc làm quan trọng, giúp người bệnh chóng hồi phục và bảo toàn được vị trí xương bị tổn thương.

siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Gãy xương bả vai

I. Giải Phẫu:
Xương bã vai hình tam giác , đỉnh quay xướng dưới, có 3 bờ và 3 góc.
Là xương xốp, nhiều mạch máu nuôi nên dể liền xương khi gãy.

II. Đặc điểm gãy xương bã vai:
1. Rất ít gặp, tỷ lệ 1% tổng các gãy xương và 3% chấn thương vùng vai.
2. Hiếm gặp nhưng cần chú ý vì liên quan chức năng khớp vai.
3. Gãy xương bã vai thường kèm theo tổn thương kết hợp.
4. Xương xốp, nhiều mạch nuôi nên dễ liền xương.

III. Phân loại gãy xương theo vị trí gãy:
1. Gãy các góc (trên, dưới, trong).
2. Gãy các mõm (quạ, cùng vai, gai bã).
3. Gãy thân xương (với đường gãy khác nhau: dọc, ngang, chéo).
4. Gãy cỗ và gãy hõm khớp xương bã.
Chú ý:
- Gãy thân xương bã thường ít di lệch và liền xương nhanh.
- Gãy cỗ xương bã và hỏm khớp xương bã thường có di lệch lớn.

IV. Chẩn đoán:
1. Lâm Sàng:
- Hạn chế vận động cánh tay.
- Vết bầm tím, sưng nề hình xxương bã vai.
- Đau chói vùng xương bã (tuỳ vị trí gãy).
- Đau dữ dội khi nâng tay/kéo ép theo trục chi.
- Lạo xạo xương.
2. CLS:
Xq chẩn đoán xác định gãy, vị trí gãy.

V. Điều trị:
1. Bão tồn:
- Gãy xương bã vai không di lệch/di lệch không đáng kể ->Dùng vải vuông treo tay/băng Desault giữ cố định 10-15D, sau đó tập vận động phục hồi chức năng khớp vai.
Tiên lượng: liền xương sau 3-4W.
- Gãy cỗ xương bã vai có di lệch -> Nắn chỉnh ổ gãy -> Bó bột ngực cánh tay dạng 60-80 độ, đưa ra sau 40 độ và giữ bột 4 W, sau đó bỏ bột tập vận động phục hồi chức năng.

2. Phẫu thuật:
Các trường hợp gãy cỗ xương bã vai hoặc gãy ổ chão xương bã mà nắn chỉnh không đạt -> PT kết xương bằng vít/nẹp vít.

Gãy thân 2 xương cẳng tay

I. Giải phẫu:
1.
Xác định thân xương cánh tay:
– Trên: dưới mấu nhị dầu 2cm.
– Dưới:
trên Mỏm trâm quay khoảng 5cm.

2. Cẳng tay vơi chức năng: sấp ngữa, liên quan chặt chẽ bới hình thể và tương quan của 2 xương cẳng tay, vì vậy không được phục hồi tốt về hình thể sẽ ảnh hưởng tới chức năng chi thể.

3. Cẳng tay có nhiều cơ đối lực chi phối:
gồm các cơ gấp (phía trước), cơ duỗi (phía sau), sấp-ngữa, nên gãy xương thường di lệch lớn, màng liên cốt giữa 2 xương là một trở ngại cho việc nắn chỉnh, vì vậy thường điều trị bằng phẫu thuật.

II. Nguyên nhân-cơ chế:
1. Trực tiếp: lực chấn thương trực tiếp đập vào 2 xương cẳng tay gây gãy,thường gây gãy hở.

2. Gián tiếp: do ngã chống tay xuống đất trong tư thế duỗi làm cho cẳng tay gấp,cong lại và bị bẽ gãy (thường gặp).

III. Giải phẫu bệnh:
1. Vị trí gãy: có thể gặp gãy 1/3T-G-D, hai xương có thể hãy cùng mức (trực tiếp), khác mức (gián tiếp).

2. Đường gãy: ngang răng cưa không đều (gặp nhiều nhất), gãy chéo, gãy có mảnh rời thứ ba, gãy thành 3 đoạn, gãy thành nhiều mảnh nhỏ.

3. Di lệch: Gãy thân xương cánh tay thường có di lệch phức tạp (ví xương gãy bị cá cơ từ cánh tay, cẳng tay, bàn tay và màng liên cốt co kéo làm cho di lệch phức tạp). Gãy thân 2 xương cánh tay có thể gặp các di lệch sau:

* Di lệch chồng: thường chồng lên ở phía xương trụ nhiều hơn ở phía xương quay.
* Di lệch sang bên: ngoại vi di lệch sang bên so với trung tâm,đồng thời 2 đoạn dưới/2 đoạn trên di lệch sang bên so với nhau (thường hẹp lại do co kéo của màng liên cốt).
* Di lệch gập góc: Có thể gập góc ở một/hay hai xương, thường mở góc vào trước và vào trong.
* Di lệch xoay theo trục xương: rất quan trọng vì gây hạn chế động tác sấp ngữa,và quan trọng nhất là di lệch xoay của xương quay, sự di lệch xoay của 2 xương phụ thuộc vào vị trí gãy cao hay thấp,trên hay dưới chỗ bám của cơ sấp tròn.

Trường hợp gãy cao:
– Gãy 1/3T xương quay, trên chỗ bám cơ sấp tròn:
+ Đoạn trung tâm: cơ ngữa ngắn, cơ nhị đầu (làm ngữa cẳng tay) -> ngữa tối đa.
+ Đoạn ngoại vi: cơ sấp tròn và sấp vuông -> làm sấp tối đa.
Do đó, nếu gãy ở 1/3T thân 2 xương cẳng tay thì di lệch xoay nhiều nhất, 2 đoạn di lệch so với nhau gác 180 độ -> do đó khó nắn chỉnh (phần trên ngữa, phần dưới sấp) làm cỗ tay-cẳng tay không thể ngữa được.

– Gãy đoạn giữa và đoạn dưới, dưới chỗ bám cơ sấp tròn:
+ Đoạn trung tâm: có cơ ngữa và cả cơ sấp -> nên ít di lệch hơn, không gây ngữa tối đa.
+ Đoạn ngoại vi: chỉ còn cơ sấp vuông chi phối sấp cẳng tay -> nên không gây sấp tối đa.

Do đó, 2 đoạn xương gãy chỉ di lệch xoay góc khoảng 90 độ.
* Ngoài ra còn có di lệch xoay theo trục của xương trụ (ít hơn xương quay):

+ Đoạn ngoại vi xương trụ có cơ sấp vuông co kéo kéo gần vào xương quay, xoay ngoài làm hẹp màng liên cốt.

Do đó: Di lệch xoay theo trục xương, di lệch gập góc, di lêch sang bên, di lệch tạo hình chữ K-chữ X do tác động của màng liên cốt làm cho di lệch trong gãy thân 2 xương cẳng tay rất phức tạp, rất khác nắn chỉnh.

IV. Chẩn đoán:
1.
LS:
– Tay lành đ cẳng tay đau,
– Biến dạng cẳng tay rõ ( tròn, căng như một cái ống, cong do gập góc, gồ lên do di lệch sang bên, cẳng tay luôn ở tư thế sấp).
– Điểm đau chói cố định.
– Cử động bất thường và lạo xạo xương tại vị trí gãy tương ứng.
– Chiều dài tương đối-tuyệt đối của 2 xương cẳng tay MTQ.
-Tuyệt đối: Đài quay -> MTQ.
+ Xương trụ:

-Tương đối: MTRR->MTT.
-Tuyệt đối: MK->MTT.

- Đo trục chi thay đổi:
+ Thẳng:

- Cách 1: tay dạng vuông góc với thân người, lòng bàn tay hướng về trước. Bình thường đường thẳng từ mỏm quạ tới ngón 3 bàn tay đi qua điểm giữa nếp gấp khuỷu.
- Cách 2: tay đặt thẳng dọc thân người, bàn tay hướng về trước. Bình thường đường thẳng từ MCV tới khe ngón 3-4 bàn tay đi qua điểm giữa nếp gấp khuỷu.

+ Nghiêng: tay đặt thẳng dọc thân người, lòng bàn tay hướng vào thân người. Bình thường đường thẳng từ MCV tới bờ ngoài ngón 2 đi qua MTLC.
- Mạch quay: giảm/mất khi có tổn thương kèm theo.
- Đo chu vi chi vùng tương ứng > bên lành.
- Mất vận động hoàn toàn: sấp-ngữa, gấp – duỗi cẳng tay.
- Cảm giác: giảm/mất khi có tổn thương thần kinh kèm theo.

2. XQ 2 xương cẳng tay T-N: Giúp chẩn đoán xác định, cho biết vị trí-tính chất ổ gãy.

V. Tiến triễn và biến chứng:
1. Bình thường: nếu điều trị đúng phương pháp thì xương liền sau 12 tuần.
2. Biến chứng:
2.1. Sớm:
- Tổn thương thần kinh quay khi gãy xương quay cao.
- Gãy kín -> gãy hở.
- Hội chứng chèn ép khoang.
2.2. Muộn:
- Hạn chế vận động gấp-duỗi khuỷu, các bàn tay-ngón tay giảm tinh tế.
- Hạn chế động tác sấp-ngữa cẳng tay, xoay cổ tay, phù nề dai giẳng, đau kéo dài.
- Liền lệch vẹo (do gập góc, hẹp màng liên cốt, xoay) làm mất chức năng cẳng tay (phổ biến).
- Chậm lion xương-khớp giả.
- Can liên cốt làm nối giữa 2 xương (hay gặp gãy 1/3T) làm mất động tác sấp-ngữa cẳng tay.


VI. Điều trị:
1. Sơ cấp cứu:
Giảm đau: uống/tiêm giảm đau toàn thân, gây tê ổ gãy-Novocain 1%*20ml.
Cố định tạm thời = Nẹp Crame cánh-bàn tay/ Nẹp bột/ 2 Nẹp tự tạo, kết hợp treo tay lên
2. Bảo tồn:
2.1. Bó bột cánh-cẳng bàn tay 10-12W cho các trường hợp gãy không/ít di lệch.
2.2. Nắn chỉnh -> Bó bột:
– Chỉ Định:
+ Ít di lệch.

+ Di lệch ở trẻ em (nhất là gãy 1/3D phải nắn chỉnh thật tốt, và với xương quay).

– Phương Pháp nắn chỉnh:
+ Gây tê ổ gãy = Novocain 1%*10ml/ gây tê đám rối thần kinh cánh tay/ gây mê ở TE.
+ BN nằm, khuỷu gấp 90 độ, có sức kéo lại bằng băng vải vòng qua phần dưới cánh tay, trên khuỷu và buộc cố định vào móc ở giá.

Người phụ nắm ngón cái riêng để kéo trực tiếp vào xương quay, một tay nắm 3 ngón giữa kéo đều liên tục.
Thì 1: Nắn di lệch chồng và gập góc.
Thì 2: Nắn chữa di lệch xoay theo trục bằng cách xoay ngữa bàn tay ra và vặn sấp 1/3T cẳng tay (với gãy 1/3T)/ để cẳng tay nữa sấp nữa ngữa với gãy 1/3G và D.
Thì 3: Nắn chữa di lêch sang bên ngược hướng với di lệch.

Cuối cùng người nắn dùng 2 ngón tay cái và 2 ngón trỏ bóp vào khoang liên cốt (mắt trước và sau) để chống hẹp màng liên cốt
Kiểm tra Xq hết di lệch thì bó bột.

– Bó bột cánh-bàn tay:
+ Khuỷu gấp 90 độ, cẳng tay để ngữa với gãy 1/3T.
+ Cẳng tay ở tư thế trung bình giữa sấp và ngữa.

Đặt một nẹp bột ở mặt sau từ phần trên cánh tay tới khớp bàn-ngón tay.
Đặt thêm một nẹp bột ở mặt trước từ phần dưới khuỷu tới khớp cổ tay (sát trên nếp gấp).
Trên mỗi nẹp, ở mặt trước và sau cẳng tay, đặt thêm một đoạn tre hay gỗ tròn vào khoảng giữa 2 xương (d=1cm và dài 15cm) có tác dụng làm căng rộng màng liên cốt để tránh hẹp màng liên cốt.
Sau đó quấn băng vòng tròn/ khi bột gần khô thì bóp mắt trước và sau giữa 2 xương để làm rộng màng liên cốt.
Rạch dọc bột ngay toàn bộ các lớp bột.
7-8D sau Xq kiểm tra, nếu ổ gảy không di lệch thứ phát thì bó bột tròn kín.
Khi thay bột mới cũng phải kéo dọc theo trục xương để tránh di lệch thứ phát.
Thời gian để bột: 10-12W.

3. Phẫu thuật:
3.1. Chỉ Định:
+ Gãy 1/3T có di lệch.
+ Gãy 1/3G và D nắn chỉnh không kết quả.
Ngày nay: Chỉ Định cho tất cả cá gãy xương hoàn toàn ở thân xương cánh tay ở người lớn.

3.2. Kết xương bằng đinh nội tuỷ:
- Chỉ Định: Gãy xương TE/Gãy hở nguời lớn.
- Sau tăng cường bột thêm 4-6W.

3.3. Kết xương bằng nẹp vít:
– Là phương pháp thường được dùng cho gãy 2 xương cẳng tay, cố định vững chắc chống được mọi di lệch, cho vận động phục hồi chức năng được sớm.

Gãy thân xương cẳng chân

I. Đặc điểm GP:
1. Xác định thân xương cẳng chân:
Dưới lồi cũ trước xương chày 1cm/dưới khớp gối 3 khoát ngón tay
Đến trên Khớp cổ chân/khớp chày-sên 3 khoát ngón tay (của người bệnh).

2. Đặc điểm thân xương cẳng chân:
Gồm xương chày và xương mác,xương chày la chính,xương mác phụ.
Xương chày:

  • Nằm trong, sát da.
  • Trên to, hơi cong ra ngoài và tiếp giáp Xương Đùi và đầu trên xương mác.
  • Đầu dưới: Nhỏ, hơi cong vào trong, tiếp xúc với xương sên và đầu dưới xương mác, tạo nên mắt cá trong và mắt cá thứ 3 (Deltos).
  • Thân xương: 2/3 trên lăng trụ tam giác, 3 mặt (trước ngoài-trong và sau), 1/3 dưới hình tròn, giao điểm là điểm yếu của xương.
  • Là xương chịu áp lực chính từ thân người.
  • Nên khi chấn thương -> dể gãy nhưng khó liền.
  • Mạch máu nuôi dưỡng xương chày gồm 3 nguồn mạch:

+ Động mạch nuôi xương( đi vào lỗ xương ở mắt sau chổ nối 1/3G và 1/3T xương chày).
+ Động mạch hành xương.
+ Động mạch màng xương( từ Động mạch cơ).

Nói chung mạch máu nuôi xương chày rất ngèo, tăng khi về cuối. Do đó gãy xương chày điều trị còn gặp nhiều khó khăn.
Xương mác:
– Xương dài, nằm ngoài, mảnh, là xương phụ.

3. Phần mềm:
Các cơ cẳng chân phân bố không đều.

  • Mặt trong cẳng chân không có cơ che phủ, xương chày nằm ngay dưới da.
  • Mặt ngoài và mặt sau có nhiều cơ che phủ.

Vì thể khi gãy 2 xương cẳng chân thường có di lệch gập góc ra ngoài và ra sau. Đầu gãy có thể chọc thủng da ở mặt trước trong.

Hai xương nối với nhau bởi màng liên cốt rất dày, hẹp ở trên, rộng ở dưới.
Các vách liên cơ (gồm vách liên cơ trước và ngoài) đi từ bở trước và ngoài xương mác tới cân cẳng chân.

Màng liên cốt cùng vách liên cơ chia cẳng chân ra làm 4 khoang: Khoang trước, khoang ngoài, khoang sâu sau và khoang sau nông.

  • Khoang trước có bó mạch chày trước và thần kinh mác (hông kheo ngoài).
  • Khoang sau sâu có bó mạch thần kinh chày sau (Động mạch chày sau và thần kinh hông kheo trong).

Lớp da vùng cẳng chân sat xương, kém đàn hồi, nên khi gãy xương cẳng chân da dễ bị bầm giập, hoại tử, và gây bục lót vết mỗ -> VXTX.

Tuy nhiên lớp da vùng bắp chân lại có mạng mạch hình sao trên cân nên đây là cơ sở của một vạt da cân có cuống mạch nuôi hằng định ở vùng bắp chân được dùng để che phủ khi có khuyết hổng phần mềm ở cẳng chân.

Khu cẳng chân sau có nhiều cơ có “ tiềm năng” làm vạt da che phủ các khuyết hổng phần mềm và xương, các cơ này đều có chức năng gần giống nhau, vì vậy nếu cần phải hy sinh một cơ nào đó để làm vạt da thì chức năng của chi ít bị ảnh hưởng.

II. Chẩn đoán:
1. LS:

  • – Đau chói cố định tại vùng tổn thương.
  • – Bất lực vận động hoàn toàn.
  • – Biến dạng chi.
  • – Đo độ dài tuyệt đối và tương đối ngắn hơn bên lành.
  • – Trục chi lệch khi gãy có di lệch/ bàn chân đổ ngoài.
  • – Do chu vi chi bên tổn thương > bên lành.
  • – Lạo xạo xương (+).
  • – Cử động bất thường (+).
  • – Có thể có mất /giảm mạch mu chân – ống gót.

2. CLS:
XQ 2 tư thế thẳng và nghiêng, chụp toàn bộ cẳng chân lấy cả 2 khớp gối và khớp cổ chân -> chẩn đoàn xác định.

III.Biến chứng:
1.Sớm:
1.1. Toàn thân:
– Shock.
– Huyết tắc mỡ.

1.2. Tại chỗ:
– Gãy kín-> gãy hở.
– Tổn thương mạch máu-tk (Động mạch chày sau khi gãy 1/3T và đầu trên xương chày).
– Chèn ép khoang.
– Rối loạn dinh dưỡng.

2. Muộn:
2.1. Toàn thân.
– Có thể gặp ở người bệnh già, gặp cả 2 chân, phải điều trị = bó bột hoặc kéo liên tục như: nhiễm khuẫn phổi-tiết niệu-đường mật, loét điểm tỳ…

2.2. Tại chổ:
– Chậm lion xương-khớp giả.
– Liền lệch.
– Rối loạn dinh dưỡng muộn.
– Teo cơ, hạn chế vận động khớp cỗ chân, khớp gối.

IV. Nguyên nhân và cơ chế:
1. Trực tiếp: tổn thương phần mềm và xương ngang mức, tổn thương phức tạp.
2. Gián tiếp: thường do ngã, cẳng chân bị bẻ hoặc xoay làm gãy xưong.

V. GPB:
1. Xương:
– Vị trí: 1/3T-G-D, 2 xương có thể cùng hoặc không ngang mức.
– Đường gãy: ngang, chéo vát, nhiều mảnh rời, 3 đoạn…
– Di lệch: có thể có di lệch chồng, di lệch mở goc ra ngoài và ra sau, di lệch sang bên và di lệch xoay.
– Theo AO/ASIP cho các trường hợp gãy kín 2 xưong cẳng chân:
Độ A: Xương chày gãy đơn giản.

  • A1: gãy chéo vát > 30 độ.
  • A2: gãy chéo vát
  • A3: gãy ngang.

Độ B: Xương chày gãy có mảnh rời, gồm:

  • B1: Gãy xoắn vặn cá mảnh rời.
  • B2: Gãy có mảnh rời chéo vát.
  • B3: Gãy có nhiều mảnh rời nhỏ.

Độ C: Xương chày gãy phức tạp, gồm:

  • C1: Gãy chéo xoắn nhiều mảnh.
  • C2: Gãy 3 đoạn.
  • C3: Gãy vụn cả một đoạn xương.

Kèm theo nếu :
(-1): Không gãy xương mác.
(-2): Gãy xương mác không cùng mức.
(-3): Gãy xưong mác cùng mức.
ý nghĩa trong điều trị:

VI. Điều trị:
1. Bão tồn:
1.1. Bó bột ngay:
- Chỉ định: Không/ít di lệch. Gãy cành xanh/TE.
- Bó bột có rạch dọc từ 1/3 trên đùi tới bàn chân, gối gấp nhẹ 7-10 độ.
- Để bột 5-7 ngày hết nề -> quấn băng tăng cường và để bột 8-10 tuần

Với trường hợp:
– Gãy ngang: sau 2 Tuần bó bột cho tập đi có tỳ nén tăng dần lên chân tổn thương.
– Gãy chéo xoắn: sau 4 Tuần mới tập đứng và đi có tỳ nén (do không vững).

1.2. Nắn chỉnh trên khung nắn Bohler rồi bó bột:
– Chỉ định:

  • Gãy kín 2 xương cẳng chân có đường gãy ngang/chéo vát.
  • Có di lệch nắn chỉnh bằng tay không kết quả (do khi cẳng chân duỗi,cơ tam đầu cẳng chân bị kéo căng).
  • Đến muộn, chi sưng nề lớn, cần xuyên đinh kéo liên tục qua xương gót, sau 7-10 ngày mới nắn chỉnh trên khung Bohler rồi bó bột.

– PP:

  • Nắn chỉnh trên khung Bohler.
  • Chụp Xq T-N liểm tra, hết di lệch -> Bó bột trên khung từ trên cẳng chân xuống ngón chân (tránh di lệch).
  • Đợi bột khô tháo cẳng chân ra khỏi khung nắn, thêm nẹp bột ở phía sau kheo tới 1/3 T đùi, để bó thêm thành bột đùi-bàn chân, tư thế gối gấp 10 độ, cổ chân gấp 90 độ.
  • Rạch dọc bột ngay. Sau 5-7 ngày, hết sưng nề tăng cường thêm thành bột tròn kín.

Ngoài ra: Có thể chuyển sang bó bột kiểu Sarmiento (gối cẳng-bàn chân) cho các trường hợp: gãy 1/3D, gãy đầu dưới 2 xương cẳng chân/gãy 1/3G sau khi đã bó bột Đùi-bàn chân 1 tháng.
Ưu: Bệnh nhân tập gấp duỗi khớp gối được sớm và tập đi tỳ nén sớm.

2. PT:
2.1. Chỉ định:
– Gãy mở.
– Gãy kín có tổn thương mạch máu-tk và biến chứng chèn ép khoang.
– Gãy mà nắn chỉnh không đạt yêu cầu/gãy không vững,mdi lệch lớn.

2.2. PP kết xương bên trong:
* Đóng đinh nội tuỷ Kuntscher, đinh Rush.
– Chỉ định:

  • Gãy kín và hở độ I-II 1/3G xương chày đến sớm

- KT: Đóng đinh xuôI dòng.
- Ưu: KT đơn giản,cố dịnh ổ gãy vững chắc,sau mổ không cần bó bột,tập phục hồi chức năng sớm (tạo thuận lợi cho quá trình liền xương).
- Nhược: Không chống được di lệch xoay nên với gãy xương chày 1/3D và 1/3T ống tuỷ rộng nên không dùng được pp này/phải tăng cường bằng bột chống xoay.

* Đinh nội tuỷ có chốt:
- Loại đinh hay dùng: TTuầnX,SIGN.
- KT: Đóng đinh kín,xuôi dòng.
- Ưu: không mở vào ổ gãy -> ít nguy cơ nhiểm khuẫn-tổ chức phần mềm và mạch máu nuôi xương tạo điều kiện cho liền xương thuận lợi hơn.

* Kết xương nẹp vít:
– Chỉ định: Gãy 1/3T-G-D với hình thái gãy khác nhau.
– CChỉ định:

  • Gãy mở từ độ IIIA.
  • Gãy mở đến muộn.
  • Gãy kín có tổn thương phần mềm xấu.

– Ưu: Cố định ổ gãy vững chắc,phục hồi hình thể giải phẫu, tập vận động sớm.
– Nhược:

  • Do phải lóc cốt mạc rộng nên ảnh hưởng tới nguồn nuôi dưỡng của ổ gãy.
  • Khoan nhiều lỗ trên xương lành để bắt vít nên có nguy cơ nhiểm khuẩn cao.

2.3. Kết xương bằng khung cố định ngoài:
– Chỉ định:

  • Gãy hở từ độ IIIA trỏ đi.
  • Gãy hở đến muộn.
  • Gãy kín tình trạng phàn mềm xấu.

– Ưu:

  • Dùng được cho các chỉ định trên ( là chỉ định thể hiện tính ưu viết của khung cố định ngoài).
  • Gãy hở nhiễm khuẫn vẫn dùng được.

– Nhược:

  • Dễ nhiễm khuẩn chân đinh (Tỷ lệ nhiểm khuẫn chân đinh cao) -> Chậm liền xương-khớp giả.

– Loại khung cố định ngoài hay dùng:

  • Cọc ép ren ngược chiều của GS Nguyễn Văn Nhân.
  • Khung của F.E.S.S.A.
  • Khung của Ilizarov.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 41 other followers