Category Archives: Chống nhiễm khuẩn

Mối nguy hiểm thực sự từ nấm mốc

Aflatoxin là một mycotoxin được tiết ra từ nấm Aspergillus và A.parasiyicus, các nghiên cứu ở những vùng có tỷ lệ ung thư cao trên thế giới đều cho thấy nhiễm độc aflatoxin là nguy cơ chính gây ung thư gan…

Các chủng nấm này phát triển mạnh ở các loại thực phẩm nông sản, thức ăn gia súc, gia cầm như ngô, lạc, đậu…trong các điều kiện thuận lợi nóng và ẩm, nhất là điều kiện thời tiết ở Việt Nam. Tác hại của độc tố vi nấm này đối với động vật đã được biết đến từ lâu, và đã được chứng minh có thể gây ung thư gan trên thực nghiệm. người có thể bị nhiễm aflatoxin do ăn phải các loại ngũ cốc bị ô nhiễm hoặc ăn thịt các động vật được nuôi bằng ngũ cốc ô nhiễm aflatoxin.

1. Sự chuyển hóa aflatoxin trong cơ thể.

Điều đầu tiên chúng ta cần biết aflatoxin là tinh thể trắng, bền với nhiệt, không bị phân hủy khi đun nấu ở nhiệt độ thông thường ( ở 120 độ C, phải đun 30 phút mới mất tác dụng độc ) do vậy nó có thể tồn tại trong thực phẩm không cần sự có mặt của nấm mốc tương ứng; đồng thời nó rất bền với các men tiêu hóa.

Tuy nhiên nó lại không bền dưới ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại, nên việc khử độc thực phẩm sẽ có nhiều biện pháp hơn. Có 17 loại aflatoxin khác nhau, nhưng thường gặp và độc nhất là aflatoxin B1.

Aflatoxin B1 là phân tử ái mỡ, có trọng lượng phân tử thấp, dễ dàng được hấp thu sau khi ăn, sự hấp thu là hoàn toàn. Khi đến ruột non, aflatoxin B1 sẽ được nhanh chóng hấp thu và máu tĩnh mạch mạc treo, sự hấp thu ở ruột non và tá tràng là nhiều nhất.

Niêm mạc ống tiêu hóa có khả năng chuyển dạng sinh học aflatoxin B1 nhờ sự gắn kết với protein – đây là con đường chính để giải độc aflatoxin B1 cho gan. Từ ống tiêu hóa, theo tĩnh mạch cửa, aflatoxin được tập chung vào gan nhiều nhất ( chiếm khoảng 17% lượng aflatoxin của cơ thể ) tiếp theo là ở thận, cơ, mô mỡ, tụy, lách… Trong vòng 24h có khoảng 80% bị đào thải theo đường tiêu hóa qua mật , đường tiết niệu qua thận và đáng chú ý nò còn bài tiết qua cả sữa.

2. Độc tính trên động vệt thí nghiệm.

Nhiễm độc các aflatoxin gây một loạt các triệu chứng cấp tính và mạn tính. Nhiễm độc cấp thường biểu hiện bằng cái chết của các động vật thí nghiệm với các triệu chứng thường gặp là hoại tử nhu mô gan, chảy máu ở gan và viêm cầu thận cấp. Nhiễm độc mạn tính thường biểu hiện bằng ăn kém ngon, chậm lớn, gan tụ máu, chảy máu và hoại tử nhu mô. Loại mạn tính tác động tới yếu tố di truyền tương ứng với 3 kiểu gây ung thư, gây quái thai và gây đột biến.

3. Độc tính của aflatoxin trên người.

Bệnh do nhiễm aflatoxin cấp tính đã được thông báo ở các nước, với các biểu hiện chủ yếu là suy chức năng gan cấp, xơ gan, và hoại tử nhu mô gan.

Bên cạnh các nghiên cứu về vai trò của vi rút viêm gan, ký sinh trùng, dinh dưỡng, các chất độc… đối với ung thư gan, các nhà khoa học cũng đang tập trung nghiên cứu về vai trò của aflatoxin với căn bệnh phổ biến này.

Trên người, một loạt các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ung thư gan nguyên phát tăng ở những vùng có tỷ lệ phơi nhiễm cao với aflatoxin, nhưng cơ chế tác động của aflatoxin gây ung thư gan ở người như thế nào vẫn còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên đã tìm thấy sự gắn kết của aflatoxinB1 với DNA của tế bào gan ở những bệnh nhân bị ung thư gan nguyên phát, phức hợp này còn được tìm thấy trong máu ngoại vi, trong máu rau thai và máu dây rốn của các sản phụ có phơi nhiễm với aflatoxin B1.

Bên cạnh đó còn có sự liên quan giữa phơi nhiễm aflatoxin B1 với sự đột biến gen ở các bệnh nhân này, mà nhiều nhất là sự đột biến gen p53 – một gen kiểm soát sự chết tế bào theo chương trình, khi đột biến gen này sẽ làm đời sống tế bào tăng lên kéo theo nguy cơ tế bào sẽ chuyển thành ác tính.

Cho đến nay, người ta tạm thời công nhận khả năng tác động lên tế bào gan của aflatoxin qua 5giai đoạn

Tác động qua lại với AND và ức chế các polymeraza chịu trách nhiệm tổng hợp AND và ARN.

Ngừng tổng hợp AND.

Giảm tổng hợp AND và ức chế tổng hợp ARN truyền tin.

Biến đổi hình thái nhân tế bào.

Giảm tổng hợp protein.

Hậu quả của quá trình tác động sinh hóa lên tế bào gan này là gây ung thư biểu mô tế bào gan.

Tóm lại, aflatoxin có khả năng gây độc tính cấp và mạn ở các loài động vật và con người. Độc tính nguy hiểm nhất là khả năng gây xơ gan và ung thư gan nguyên phát. Các nhà khoa học đã gây được ung thư gan nguyên phát trên thực nghiệm bằng cách cho các con vật ăn thức ăn có aflatoxin.

Một loạt các nghiên cứu cũng cho thấy sự phơi nhiễm aflatoxin tăng liên quan đến sự gia tăng mắc bệnh ung thư gan nguyên phát trên người. do vậy vấn đề bảo quản lương thực thực phẩm, an toàn lương thực thực phẩm, không sử dụng các thực phẩm đã bị hỏng, bị nấm mốc là một vấn đề hết sức quan trọng có ý nghĩa trong việc hạn chế tần suất xuất hiện bệnh ung thư gan nguyên phát.

Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện

Bài viết tương đối dài, mời bạn click vào “tiêu đề” hoặc “đọc thêm…” để xem toàn bộ bài viết





















































































17 tiêu chuẩn tiêm an toàn

17 tiêu chuẩn tiêm an toàn

1. Bơm kim tiêm vô khuẩn

2. Có sử dụng xe tiêm khi đi tiêm

3. Có sử dụng khay tiêm khi đi tiêm

4. Có hộp đựng vật sắc nhọn ở gần nơi tiêm

5. Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc

6. Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi đưa kim tiêm qua da

7. Mang găng khi tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, truyền máu

8. Kim lấy thuốc đảm bảo vô khuẩn

9. Tiêm thuốc đúng chỉ định

10. Tiêm thuốc đúng chỉ định

11. Tiêm đúng vị trí

12. Tiêm đúng góc kim so với mặt da

13. Tiêm đúng độ sâu

14. Rút pit tông kiểm tra trước khi bơm thuốc

15. Bơm thuốc đảm bảo hai nhanh một chậm

16. Không dùng hai tay đậy nắp kim

17. Cô lập ngay bơm kim tiêm đã nhiễm khuẩn trong hộp an toàn

Theo Hội điều dưỡng Việt Nam

Xử lý dụng cụ nội soi

1. Tất cả nhân viên khoa nội soi cần được huấn luyện và tuân thủ các hướng dẫn phòng ngừa chống nhiễm khuẩn nhằm bảo vệ cả bệnh nhân và nhân viên y tế.

2. Thực hiện các test kiểm tra áp lực hay kiểm tra dò rỉ sau mỗi lần sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

3. Cần tháo rời các bộ phận nội soi và ngâm hoàn toàn dụng cụ nội soi vào dung dịch khử khuẩn chứa enzym.

4. Cần làm sạch trước khi khử khuẩn bằng tay hay bằng máy. Làm sạch tỉ mỉ toàn bộ dụng cụ, bao gồm van, ống, bộ phận kết nối, và tất cả các bộ phận tháo lắp được bằng dung dịch enzym thích hợp với dụng cụ nội soi ngay sau khi sử dụng, theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Dội nước và chải sạch tất cả ống để loại bỏ tất cả chất hữu cơ (ví dụ, máu và mô) và các chất cặn bã khác. Khởi động lặp đi lặp lại các van trong khi làm sạch để chất khử khuẩn tiếp xúc với tất cả bề mặt. Làm sạch mặt ngoài và các bộ phận của dụng cụ nội soi bằng vải mềm, gạc hay bàn chải.

5. Sử dụng bàn chải thích hợp với kích thước dụng cụ nội soi để làm sạch. Dụng cụ nên làm sạch hoàn toàn và khử khuẩn hay tiệt khuẩn giữa các lần sử dụng.

6. Đổ bỏ dung dịch enzym sau khi sử dụng.

7. Các bộ phận nội soi sử dụng lại (như forcep hay kéo cắt) xâm nhập vào hàng rào niêm mạc, nên được làm sạch cơ học và tiệt khuẩn giữa các lần sử dụng.

8. Có thể làm sạch bằng sóng siêu âm các bộ phận nội soi dùng lại để loại bỏ các chất bẩn và chất hữu cơ.

9. Các dụng cụ nội soi tiếp xúc với màng niêm mạc được xem như là các dụng cụ thiết yếu và ít nhất nên được khử khuẩn mức độ cao sau mỗi lần sử dụng.


10. Chọn chất khử khuẩn mức độ cao hay chất diệt khuẩn đã được công nhận để sử dụng.


11. Thời gian tiếp xúc và nhiệt độ để khử khuẩn dụng cụ bán thiết yếu thay đổi tuỳ theo chất khử khuẩn. Nên tuân theo khuyến cáo của FDA đối với khử khuẩn mức độ cao trừ khi nhiều thực nghiệm khoa học, kết luận bởi các tổ chức chuyên nghiệp, chứng tỏ một kết quả khác về thời gian và nhiệt độ sẽ có hiệu quả hơn đối với việc khử khuẩn. Ví dụ, FDA khuyến cáo khử khuẩn mức độ cao với glutaraldehyde > 2% ở 250 C trong thời gian 20 đến 90 phút tuỳ theo sản phẩm. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu và các tổ chức khác khuyến cáo hiệu quả khử khuẩn của glutaraldehyde > 2% ở 200 C trong 20 phút.

12. Chọn chất khử khuẩn hay tiệt khuẩn phù hợp với dụng cụ nội soi. Nên tránh dùng các chất khử khuẩn hay tiệt khuẩn mà nhà sản xuất khuyến cáo không nên dùng vì nguy cơ làm hỏng dụng cụ.

13. Làm ngập hoàn toàn các dụng cụ trong chất khử khuẩn mức độ cao hay chất diệt khuẩn. Khi thấy dụng cụ nội soi không ngậm chìm trong nước, nên ngừng máy ngay.

14. Nếu sử dụng máy khử khuẩn nội soi tự động, cần đảm bảo tất cả các dụng cụ được xử lí trong máy một cách hiệu quả. Người sử dụng nên biết và xem lại các hướng dẫn xử lí dụng cụ của nhà sản xuất dụng cụ nội soi và nhà sản xuất máy rửa khử khuẩn và kiểm tra sự tương hợp.


15. Nếu sử dụng máy khử khuẩn nội soi tự động, đặt các dụng cụ nội soi trong bộ phận xử lí và gắn tất cả các bộ phận kết nối ống theo hướng dẫn của nhà sản xuất dụng cụ và nhà sản xuất máy để bảo đảm sự tiếp xúc của tất cả các bề mặt bên trong với chất khử khuẩn hay tiệt khuẩn.

16. Nếu chu trình máy khử khuẩn nội soi tự động bị gián đoạn, hiệu quả khử khuẩn hay tiệt khuẩn sẽ không đảm bảo.

17. Vì máy khử khuẩn nội soi tự động có thể có một số hạn chế, nhân viên kiểm soát nhiễm khuẩn nên thường xuyên xem lại các khuyến cáo của FDA, cảnh báo của nhà sản xuất và y văn về các sai sót của máy có thể dẫn đến nhiễm trùng.

18. Sau khi khử khuẩn mức độ cao, tráng lại các dụng cụ bằng nước vô trùng để loại bỏ các chất khử khuẩn hay tiệt khuẩn. Sau khi tráng xong, bỏ nước đã tráng dụng cụ. Dội ống nội soi bằng ethyl hay isopropyl 70 – 90% và làm khô bằng khí nén. Bước làm khô sau cùng sẽ làm giảm khả năng các vi sinh vật trong nước làm tái nhiễm dụng cụ nội soi.

19. Khi lưu giữ dụng cụ nội soi, nên treo thẳng đứng.

20. Dụng cụ nội soi nên lưu giữ đúng cách để tránh lây nhiễm.

21. Khử khuẩn mức độ cao hay tiệt khuẩn chai nước (được dùng làm sạch kính và rửa trong khi nội soi) và ống nối của nó ít nhất mỗi ngày. Trong chai, nên sử dụng nước vô trùng.

22. Có sổ ghi nhận lại từng trường hợp nội soi, tên bệnh nhân, số nhập viện, bác sĩ nội soi, số seri của dụng cụ và máy rửa khử khuẩn (nếu có sử dụng) để giúp điều tra dịch.

23. Kiểm tra thường qui chất khử khuẩn mức độ cao và chất tiệt khuẩn để đảm bảo nồng độ tối thiểu hiệu quả của thành phần có hoạt tính. Kiểm tra dung dịch trước mỗi ngày sử dụng và ghi vào sổ kết quả. Nếu chỉ thị hoá học chỉ rằng nồng độ ít hơn nồng độ tối thiểu hiệu quả, cần huỷ bỏ dung dịch.

24. Huỷ bỏ dung dịch khử khuẩn mức độ cao hay dung dịch tiệt khuẩn khi kết thúc thời gian tái sử dụng. Nếu một dung dịch khử khuẩn mức độ cao hay tiệt khuẩn bổ sung được thêm vào trong máy rửa khử khuẩn, thời gian tái sử dụng được xác định bằng hoạt tính của dung dịch ban đầu.

25. Môi trường sử dụng và khử khuẩn dụng cụ nội soi nên được thiết kế an toàn cho bệnh nhân và nhân viên y tế. Các thiết bị trao đổi không khí nên sử dụng để làm giảm thiểu phơi nhiễm với các hơi độc (ví dụ, glutaraldehyde). Nồng độ hơi độc không được quá mức cho phép. Có thể dùng các mặt nạ phòng hơi độc bảo vệ đường hô hấp, tuy nhiên không khuyên sử dụng nó thường ngày, và không thay thế được việc thiết kế hệ thống thông khí đầy đủ, hút hơi độc và kiểm soát thực hành.

26. Nhân viên phụ trách việc xử lí dụng cụ nên tuân theo các hướng dẫn để đảm bảo làm sạch và khử khuẩn hay tiệt khuẩn đúng cách. Nhân viên này nên được huấn luyện và kiểm tra năng lực định kì.

28. Tất cả nhân viên sử dụng hoá chất nên được huấn luyện về độc tính sinh học và hoá học.

29. Dụng cụ phòng hộ cá nhân (như găng, mắt kính, áo choàng, khẩu trang) luôn có sẳn và được sử dụng đúng cách để bảo vệ nhân viên khỏi phơi nhiễm với các hoá chất.

30. Không khuyến cáo kiểm tra vi sinh môi trường và dụng cụ nội soi một cách thường qui.

31. Nếu kiểm tra vi sinh, nên dùng kĩ thuật vi sinh chuẩn.

32. Thực hiện lấy mẫu môi trường nếu có dịch xảy ra nghi ngờ do nguyên nhân nhiễm trùng hay hoá học cho bệnh nhân nội soi.

33. Nhiễm trùng liên quan đến nội soi nên được báo cáo cho khoa chống nhiễm khuẩn.

Tìm hiểu về nhiễm trùng tiết niệu trong bệnh viện

Nhiễm trùng đường tiểu (NTĐT) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp xuất hiện khi vi khuẩn gây bệnh đi vào lỗ tiểu và nhân lên trong đường tiểu hoặc do vi khuẩn từ máu đến định cư tại nơi này. Đường tiểu, hay đường tiết niệu, bao gồm hai thận, niệu quản (hai ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang), bàng quang (hay bọng đái), và niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra lỗ niệu đạo để ra ngoài khi tiểu).

Bình thường nước tiểu vốn vô trùng. Cấu tạo đặc biệt ở vị trí niệu quản gắn vào thành bàng quang có tác dụng như một van chống trào ngược nhằm ngăn ngừa nước tiểu đi ngược từ bàng quang lên thận. Dòng chảy của nước tiểu cũng là một lực cơ học giúp tống xuất vi khuẩn nếu chúng xâm nhập vào đây. Tất cả các đối tượng đều có thể mắc nhiễm trùng đường tiểu.


Phân loại nhiễm trùng đường tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu thường xuất hiện đầu tiên ở phần thấp (niệu đạo, bàng quang) và nếu không được điều trị nó có thể diễn tiến nặng lên đưa đến nhiễm trùng đường tiểu trên (niệu quản, thận).

Sau đây là ba thể bệnh điển hình [1]:

* Viêm niệu đạo: viêm hay nhiễm trùng niệu đạo gây nên cảm giác bỏng rát khi đi tiểu và đôi khi có mủ. Với nam giới, viêm niệu đạo có thể gây nên chảy mủ ở lỗ sáo (lỗ niệu đạo) dương vật. Điển hình nhất là bệnh lậu: nam giới mắc bệnh này thường có mủ ở lỗ sáo (triệu chứng học gọi là “hạt sương ban mai”).

* Viêm bàng quang: là NTĐT thường gặp nhất gây nên đau tức bụng dưới, nước tiểu rất khai và đôi khi tiểu máu.

* Viêm thận-bể thận cấp: có thể do nhiễm trùng ngược dòng từ bàng quang lên hoặc do từ dòng máu. Nhiễm trùng thận hay viêm thận-bể thận (cần phân biệt với viêm cầu thận) là một cấp cứu y khoa vì nó có thể nhanh chóng đưa đến suy giảm chức năng thận cũng như tử vong nếu không điều trị kịp thời và hiệu quả.

Dịch tễ

Xấp xỉ 8 đến 10 triệu người Mỹ mắc NTĐT mỗi năm [2]. Phụ nữ thường dễ mắc NTĐT hơn nam giới vì những nguyên nhân không rõ mặc dù đường niệu đạo ngắn của giới này có thể là một yếu tố nguy cơ. NTĐT xảy ra ở khoảng 5% trẻ em gái và 1-2% ở trẻ em trai. Tỉ lệ mắc NTĐT ở trẻ sơ sinh vào khoảng 0,1-1% và tăng cao đến 10% ở trẻ sơ sinh nhẹ cân. Trước 1 tuổi, trẻ trai thương bị cao hơn trẻ gái. Sau lứa tuổi này NTĐT thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn so với trẻ trai [3].

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Escherichia coli (E. coli) gây nên 80% trường hợp NTĐT ở người lớn [4]. Vi khuẩn này thường hiện diện trong đại tràng và có thể đi vào lỗ niệu đạo từ vùng da xung quanh hậu môn và cơ quan sinh dục. Phụ nữ có thể dễ nhiễm bệnh hơn do lỗ niệu đạo nằm gần với nguồn vi khuẩn từ phía sau (hậu môn, âm đạo) và niệu đạo của phụ nữ cũng ngắn hơn do đó vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào bàng quang.

Các vi khuẩn khác gây NTĐT bao gồm Staphylococcus saprophyticus (5-15% trường hợp), Chlamydia trachomatis, Proteus và Mycoplasma hominis. Nam giới và phụ nữ nếu nhiễm Chlamydia trachomatis hay Mycoplasma hominis đều có thể truyền vi khuẩn này cho bạn tình trong khi giao hợp gây nên NTĐT.

Giao hợp cũng có thể gây nên NTĐT ở một số phụ nữ (mặc dù bạn tình không mắc bệnh) vì những lí do không rõ ràng. Phụ nữ sử dụng màng ngăn âm đạo (diaphragm) thường dễ nhiễm trùng hơn và bao cao su có chứa chất diệt tinh trùng cũng có thể làm tăng phát triển E. coli trong âm đạo. Vi khuẩn này sau đó có thể đi vào niệu đạo.

Thủ thuật thông tiểu (đưa một ống nhỏ theo niệu đạo vào bàng quang để dẫn lưu nước tiểu) cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Nếu ống thông lưu càng lâu ngày thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.

Ở trẻ nhũ nhi, vi khuẩn từ tã lót dính phân có thể đi vào đường tiểu và gây bệnh. Ngay cả ở thiếu nữ nếu có thói quen lau hậu môn từ sau ra trước sau khi đại tiện cũng dễ mắc bệnh hơn.

Các yếu tố nguy cơ khác gồm:

* Tắt nghẽn đường ra của bàng quang do sỏi hoặc u xơ tiền liệt tuyến
* Các bệnh lý ảnh hưởng đến chức năng tống xuất nước tiểu của bàng quang làm bàng quang luôn có một lượng nước tiểu ứ đọng sau tiểu tiện (chấn thương cột sống)
* Những dị tật bẩm sinh của đường tiết niệu, đặc biệt là trào ngược bàng quang-niệu quản
* Suy giảm miễn dịch
* Đái tháo đường
* Hẹp bao quy đầu
* Có thai hoặc mãn kinh
* Sỏi thận
* Giao hợp với nhiều bạn tình
* Hẹp niệu đạo do bẩm sinh hoặc do chấn thương
* Bất động lâu ngày (chấn thương, bại liệt)
* Uống ít nước
* Chứng són phân

Một số nhóm máu tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ bám vào tế bào lót bề mặt đường tiểu gây nên nhiễm trùng đường tiểu tái diễn

Triệu chứng

Triệu chứng NTĐT ở trẻ nhỏ

* Tiêu chảy
* Khóc quá mức và không thể dỗ nín bằng các các thông thường như cho bú, ôm ấp…
* Chán ăn
* Sốt
* Buồn nôn và nôn mửa

Các triệu chứng NTĐT có thể gặp ở trẻ lớn

* Đau thắt lưng hoặc đau bên mạn sườn (trong trường hợp nhiễm trùng ở thận)
* Tiểu rắt: tiểu nhiều lần nhưng mỗi lần chỉ được một ít nước tiểu
* Són nước tiểu
* Tiểu buốt: trẻ thường đau khi tiểu. Đặc biệt trẻ trai đang tiểu vì đau quá nên có thể đưa tay bóp lấy dương vật. Do vậy bàn tay trẻ thường bay mùi nước tiểu (“dấu hiệu bàn tay khai”)
* Đau vùng bụng dưới
* Nước tiểu đục đôi khi có máu hoặc có mùi bất thường

Nhiễm trùng đường tiểu dưới ở người lớn

* Đau lưng
* Tiểu máu
* Nước tiểu đục
* Tiểu khó mặc dù rất muốn tiểu
* Sốt
* Tiểu nhiều lần
* Cảm giác toàn thân không được khỏe
* Tiểu đau
* Giao hợp đau

Triệu chứng NTĐT trên ở người lớn

* Ớn lạnh
* Sốt cao
* Buồn nôn, nôn mửa
* Đau vùng hạ sườn

Biến chứng

* Viêm thận bể thận cấp
* Áp xe quanh thận
* Nhiễm trùng huyết
* Suy thận cấp
* Trẻ em có trào ngược bàng quang niệu quản có thể gây nhiễm trùng thận nhanh chóng đưa đến suy thận mạn
* Phụ nữ có thai bị NTĐT có thể gây đẻ non, sẩy thai, nhiễm trùng sơ sinh … [5]

Chẩn đoán

Tất cả những dấu hiệu nêu trên là những gợi ý để khám xét và làm các xét nghiệm. Que thử nước tiểu nhanh có thể là một test sàng lọc. Que thử này có thể phát hiện sự hiện diện của protein, bạch cầu, hồng cầu và một số chỉ số hóa sinh khác mang tính cách định hướng.

Các xét nghiệm khác cần làm có thể là:

* Phân tích nước tiểu: hóa sinh, tế bào
* Cấy nước tiểu
* Cấy máu
* Chẩn đoán hình ảnh: siêu âm hoặc chụp X quang để phát hiện các dị tật bẩm sinh của đường tiết niệu…

Vì rất nhiều trẻ em bị viêm bàng quang thường có một bất thường giải phẫu nào đó tạo điều kiện cho nhiễm trùng, vì các nhiễm trùng này có thể phòng ngừa được và cũng vì biến chứng lâu ngày của NTĐT tái diễn nếu không được kiểm soát là rất nghiêm trọng nên những trẻ này thường cần phải được khám xét thật kỹ lưỡng.

Các xét nghiệm này gồm siêu âm thận và đường tiểu cũng như chụp X quang có thuốc cản quang khi trẻ đi tiểu (chụp quàng quang niệu quản khi tiểu).

Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo các đối tượng sau nên được khảo sát bằng các phương pháp trên [6]:

* Trẻ gái trên 5 tuổi có hai hoặc nhiều lần NTĐT
* Tất cả trẻ trai ngay khi bị NTĐT lần đầu tiên
* Tất cả những trẻ có sốt khi mắc NTĐT
* Tất cả trẻ dưới 5 tuổi bị NTĐT

Điều trị

Những trường hợp viêm bàng quang nhẹ nhàng có thể tự lành mà không cần điều trị nào [7] tuy nhiên vì chúng có khả năng gây nên những biến chứng nặng nề nên tất cả các trường hợp nhiễm trùng đường tiểu dù nặng hay nhẹ đều được khuyến cáo điều trị kỹ càng. Thuốc điều trị thường dùng là các kháng sinh. Liệu trình cũng như loại thuốc tùy thuộc vào loại vi khuẩn cũng như vị trí nhiễm trùng.

Các kháng sinh thường dùng:

* Nitrofurantoin
* Cephalosporin
* Sulfonamide
* Amoxicillin
* Trimethoprim-sulfamethoxazole
* Doxycycline (không dùng cho trẻ dưới 8 tuổi)
* Quinolone (không nên dùng cho trẻ em)

Khi được điều trị, các NTĐT dưới có thể hết triệu chứng chỉ trong vòng vài ngày nhưng điều trị cần kéo dài từ 10 đến 15 ngày để đề phòng viêm thận bể thận.

Nhiễm trùng đường tiểu do các tác nhân Chlamydia trachomatis và Mycoplasma hominis cần điều trị với tetracycline hoặc doxycycline dài ngày.

Nhiễm trùng đường tiểu do bất thường giải phẫu hoặc có biến chứng tạo ổ mủ sâu cần phải phẫu thuật.

Nhiễm trùng đường tiểu tái diễn (3 hoặc nhiều lần NTĐT trong một năm) có thể điều trị kéo dài đến 6 tháng đôi khi đến cả 2 năm.

Theo dõi điều trị bằng xét nghiệm nước tiểu là biện pháp bắt buộc để đánh giá hiệu quả của điều trị.

Phòng bệnh

Những biện pháp sau đây có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu [8], [9]:

* Biện pháp chung nhất là gìn giữ vệ sinh cá nhân thật tốt
* Tránh các chất có thể gây kích thích niệu đạo (nằm trong bồn tắm hòa xà phòng, chất khử mùi tại chỗ).
* Vệ sinh sạch vùng sinh dục trước khi giao hợp
* Thay tã cho trẻ ngay lập tức sau khi dính phân
* Uống nhiều nước nhằm tăng lượng nước tiểu để tống xuất vi khuẩn khỏi đường tiểu
* Không được nhịn tiểu (trừ trường hợp có lời khuyên của bác sĩ)
* Tắm vòi hoa sen chứ không nên tắm bồn tắm
* Đi tiểu trước và sau khi giao hợp
* Cần tập cho các bé gái thói quen lau hậu môn từ trước ra sau khi làm vệ sinh sau đại tiện tránh đưa vi khuẩn từ vùng hậu môn vào lỗ niệu đạo
* Vitamin C cũng có khả năng giảm nguy cơ NTĐT
* Nếu phụ nữ đang đọ tuổi sinh hoạt tình dục mà thường xuyên bị NTĐT thì nên xem lại tư thế giao hợp nhằm tránh bớt các tư thế gây tác động nhiều đến lỗ niệu đạo
* Với trẻ em cần tuân theo các hướng dẫn trong phần xét nghiệm ở trên để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ nhằm kiểm soát NTĐT và các biến chứng lâu dài của nó

siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Phân loại Spaulding và thứ tự nhạy cảm vi khuẩn với các mức độ khử khuẩn

Theo Spaulding, thiết bị y tế và dụng cụ phẫu thuật được phân loại theo mức độ tiếp xúc với mô cơ thể và nguy cơ gây nhiễm trùng khi sử dụng chúng, bao gồm không thiết yếu, bán thiết yếu và thiết yếu

Phân loại Spaulding

Mỗi loại vi sinh vật nhạy với các mức độ khử tiệt khuẩn khác nhau. Phân loại nhóm vi sinh vật theo thứ tự từ nhạy cảm thấp đến cao đối với các mức độ khử khuẩn

Phân loại vi sinh vật theo thứ tự nhạy cảm với các mức độ khử khuẩn

* Chất khử khuẩn mức độ thấp gồm: hợp chất ammonium bậc 4, Phenol, Hydrogen peroxide 3%.
** Chất khử khuẩn mức độ trung bình bao gồm: Alcohols, Chlorines, Iodorphors.
***Chất khử khuẩn mức độ cao bao gồm: Gluta-aldehydes, OPA, Peracetic acid, hydrogen peroxide 6%, Formaldehydes (sử dụng hạn chế). Các hoá chất này có thể đạt khả năng tiệt khuẩn khi ngâm thời gian kéo dài theo quy định.

12 nguyên tắc cơ bản trong cần nhớ

1. Dụng cụ tái sử dụng phải được làm sạch hoàn toàn trước khi khử khuẩn hay tiệt khuẩn.
2. Dụng cụ tái sử dụng được tráng và lau khô đúng cách trước khi khử khuẩn hay tiệt khuẩn và để khô trước khi lưu trữ.
3. Dụng cụ vô trùng được tiếp nhận phải được giữ vô trùng cho đến khi sử dụng.
4. Nên tuân theo những khuyến cáo của nhà sản xuất về các dịch vụ chăm sóc và bảo trì sản phẩm, bao gồm thông tin về a) khả năng tương thích của thiết bị với các hoá chất sát trùng, b) liệu thiết bị có chịu được nước hay có thể ngâm trong nước để làm sạch không? c) thiết bị nên được khử khuẩn như thế nào?
5. Dụng cụ điều trị hô hấp và gây mê cần ít nhất được khử khuẩn mức độ cao.
6. Qui trình tiệt khuẩn phải được giám sát ở mỗi chu kỳ bằng các chỉ thị cơ học và hoá học.
7. Qui trình tiệt khuẩn phải được giám sát định kỳ bằng chỉ thị sinh học.
8. Sau khi tái xử lý phải duy trì độ tiệt khuẩn cho đến thời điểm sử dụng.
9. Nếu dùng lại dụng cụ sử dụng một lần, phải theo dõi độ an toàn.
10. Tiệt khuẩn chớp nhoáng không được khuyến cáo và chỉ nên sử dụng ở cấp cứu và không bao giờ dùng cho các thiết bị implant..
11. Lò vi sóng, máy tiệt khuẩn hạt thuỷ tinh và đun sôi tiệt khuẩn không nên sử dụng.
12. Phải có nhân viên được huấn luyện đặc biệt, thành thạo chịu trách nhiệm giám sát việc khử khuẩn và tiệt khuẩn.

theo http://dulieunguon.blogspot.com

Tổng quan các biện pháp và kỹ thuật khử trùng

I/ KHỬ TRÙNG:

1/ Phương pháp vật lý:
a/ Nhiệt độ:
- Sử dụng tủ sấy: lau khô dụng cụ rồi cho vào tủ, điều chỉnh nhiệt độ tăng dần đến 180 độ C trong vòng 15-45 phút. Tránh đưa nhiệt độ lên quá 200 độ C. Không dùng tủ sấy cho dụng cụ nhựa, cao su hay bông gạc.
- Hấp 110-140 độ C: đựng dụng cụ trong hộp rồi cho vào nồi hấp (3 atm) từ 45-60 phút. Khi áp lực trở về 0 atm thì mới mở vòi xả. Chú ý khi hấp phải mở các lỗ trên hộp đựng dụng cụ để hơi nóng đi vào, hấp xong đậy lại trong 30 phút.
- Nước nóng 100 độ C: trong vòng 30 phút. Tránh đốt các dụng cụ với Alcool vì có thể làm hư hại dụng cụ.

b/ Tia cực tím:
- Để sát khuẩn trong nước thì cho nước chảy thành lớp mỏng trước đèn tia cực tím.
- Dễ hấp thu với những chất hữu cơ, kể cả những dụng cụ trong suốt.
- Không có tác dụng diệt khuẩn với những dụng cụ cản quang.

c/ Siêu âm:
- Dùng diệt khuẩn dung dịch, khí và không khí gần xung quanh.
- Tần số 50.000 Hz thường dùng để lau chùi bề mặt các dụng cụ kim loại.

d/ Phóng xạ:
- Dùng sóng, tia X hoặc đồng vị phóng xạ phát tia.
- Liều thông thường là 2,5 Mr (Megarat).

2/ Phương pháp hóa học:
Yêu cầu hóa chất phải có tác dụng kéo dài, không làm tổn thương tổ chức sống, dễ sử dụng và dễ tẩy sạch sau khi sát khuẩn.

Một số nhóm hóa chất chính:
- Cồn Etylic: diệt vi khuẩn không nha bào chỉ trong vài giây, ức chế hoạt động của virus.
- Chất Aldehyt: dạng dung dịch focmon 4% hoặc polime hóa thành viên triometylen. Dùng sát khuẩn căn phòng bị nhiễm khuẩn. Không tác dụng với tụ cầu và trực khuẩn mủ xanh.
- Họ halogen và peroxyt: hipoclorit (nước Javen, dd Dakin…) tác dụng tốt với trực khuẩn nhưng dễ giảm hiệu lực khi có các chất hữu cơ. Dung dịch cồn Iod 5% có tính sát khuẩn mạnh. Oxy già 3% diệt vi khuẩn bằng tác sụng oxy hóa. Acid peaxetic 2% bơm thành dạng hơi, dùng để sát khuẩn dụng cụ.
- Nhóm amonium hóa trị 4: betadin (amonium hóa trị 4 + xà phòng + iod + cồn) có tác dụng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn, nhất là tụ cầu.
- Các kim loại nặng (thủy ngân) làm chậm quá trình phát triển của vi khuẩn nhưng gây độc cho cơ thể.
- Nhóm phenol và các dẫn xuất.

II/ KỸ THUẬT KHỬ TRÙNG:
1/ Đối với vải: giặt sạch bằng xà phòng => phơi nắng => hấp vải 135 độ C trong 15 phút hoặc 125 độ C trong 30 phút. Nếu mổ nhiễm thì trước khi giặt phải ngâm vải trong nước Javen, nước vôi hoặc dd focmon 4%.

2/ Đối với dụng cụ kim loại: rửa xà phòng => đun sôi 100 độ C trong 30 phút => lau khô bằng dầu hỏa => hấp 180 độ C trong 20 phút hoặc 160 độ C trong 60 phút.

3/ Đối với dụng cụ thủy tinh: rửa sạch rồi đem hấp ẩm 125 độ C trong 30 phút hoặc 120 độ C trong 45 phút. Hoặc ngâm dd focmandehyt 4% trong 3 giờ hoặc 10% trong 30 phút.

4/ Đối với dụng cụ cao su: thường chỉ xài 1 lần rồi bỏ. Nếu xài lại thì khử trùng bằng tia gamma hoặc hơi etylen oxyt dưới áp lực hoặc hấp 120 độ C trong 30 phút.

5/ Một số dụng cụ đặc biệt khác:
- Ống soi phế quản, bàng quang, thực quản: đun sôi 100 độ C => ngâm dd focmon 4% => rửa lại bằng nước muối NaCl vô trùng.
- Ống nội khí quản, dây cao su của máy gây mê: tiệt khuẩn bằng hơi focmon 4% hay bằng tia hoặc etylen oxyt.
- Dụng cụ mổ nhiễm: ngay sau khi mổ, phải ngâm dd focmon 4% trong 30 phút => rửa lại với xà phòng => đun sôi rồi lau khô => hấp.
Chú ý: Tất cả virus, kể cả HIV, đều bị tiêu diệt bằng hơi nước khử trùng của nồi hấp trong 20 phút ở 100 kpa trên áp lực khí quyển hoặc sấy nóng 170 độ C trong 2 giờ.

Siêu tầm từ http://dulieunguon.blogspot.com

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 58 other followers